Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình lịch sử bản đồ học Việt Nam từ năm 1896 đến năm 2019, giới học thuật trong và ngoài nước chỉ mới công bố khoảng 71 công trình nghiên cứu chuyên sâu. Khối lượng tư liệu bản đồ cổ tuy phong phú nhưng vẫn gặp nhiều khoảng trống về giám định văn bản, đặc biệt là các nguồn thư tịch quý hiếm đang lưu lạc tại nước ngoài. Điển hình trong số đó là tập bản đồ Hoàng Lê Cảnh Hưng bản đồ (ký hiệu thuộc Tư Đạo văn khố - Shido Bunko, Đại học Keio, Nhật Bản). Đây là cổ bản độc phẩm bằng giấy dó với quy cách 40 trang viết tay chữ Hán thể khải, ghi lại toàn bộ hệ thống 708 địa danh dọc theo tuyến hành trình từ Thăng Long đến biên giới Chiêm Thành xưa.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào việc giải mã văn bản học, xác lập niên đại tạo tác và phục dựng diễn trình diên cách địa danh lịch sử trên tập bản đồ độc đáo này. Mục tiêu cụ thể là phiên dịch toàn bộ văn tự Hán Nôm, bóc tách các tầng lớp địa danh bị biến đổi qua các thời kỳ kỵ húy và khảo sát mối liên hệ liên văn bản với các tập bản đồ đồng thời như Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hay Giáp Ngọ niên bình Nam đồ. Phạm vi nghiên cứu trải dài theo không gian địa lý từ kinh đô Thăng Long qua dải đất miền Trung đến đèo Cà Ná, bao quát các mốc thời gian biến động hành chính từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19.

Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật và thực tiễn to lớn. Kết quả phân tích văn bản học đóng góp nguồn cứ liệu xác thực khẳng định chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải quốc gia. Đồng thời, công trình chuẩn hóa phương pháp tiếp cận liên ngành giữa Hán Nôm học, địa lý học lịch sử và bản đồ học cổ truyền, làm phong phú thêm kho tàng 49 bộ thư tịch bản đồ cổ từng được giới học thuật kiểm kê.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết "Địa thể" (Geo-body) do Benedict Anderson khởi xướng và được Thongchai Winichakul phát triển chuyên sâu. Lý thuyết này luận giải cách thức một quốc gia hình thành ý niệm về không gian chủ quyền thông qua các phương tiện biểu đạt bản đồ và hình dung biểu tượng. Quan điểm này được các học giả như Momoki Shiro và Liam C. Kelley mở rộng khi khảo sát không gian địa lý tiền cận đại Việt Nam, khẳng định bản đồ truyền thống chính là công cụ kiến tạo tri thức không gian của cộng đồng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết "Thực hành tri tạo kiến văn địa lý" (Geographical literacy practice). Lý thuyết này nhìn nhận việc trước tác bản đồ thời trung đại là một hành vi chính trị - đạo đức của giới Nho sĩ cầm quyền nhằm quản trị không gian lãnh thổ. Ba khái niệm cốt lõi được định vị xuyên suốt luận văn gồm:

  • Địa lý học lịch sử: Nghiên cứu sự biến đổi của không gian tự nhiên và nhân văn theo dòng thời gian.
  • Địa danh học lịch sử: Bóc tách các lớp ngôn ngữ và diễn trình biến đổi của danh xưng hành chính, sông núi, cửa biển.
  • Bản đồ nhật trình: Thể loại bản đồ ghi chép lộ trình di chuyển thực tế theo từng ngày đường (xá, trình, trú) kết hợp hình thức "Thượng văn - Hạ đồ".

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp của luận văn là toàn bộ tập văn bản gốc Hoàng Lê Cảnh Hưng bản đồ khổ 30x17 cm gồm 40 trang chữ Hán khải thư. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 708 địa danh xuất hiện trên bản đồ, bao gồm hệ thống thành quách, dinh trạm, cầu cống, cửa biển và chiến lũy. Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn thể (comprehensive sampling) nhằm khảo sát triệt để 100% đơn vị văn tự và hình họa, tránh hiện tượng bỏ sót các dị biệt ngữ âm hoặc ký hiệu địa lý đặc thù.

Lý do lựa chọn hệ phương pháp phân tích liên ngành xuất phát từ tính chất phức tạp của văn bản cổ:

  • Phương pháp văn bản học và giám định chữ kỵ húy: Cho phép bóc tách các lớp niên đại sao chép và niên đại nội dung thông qua luật kiêng tên húy của các đế vương, chúa Trịnh.
  • Phương pháp địa danh học lịch sử: Phân tích quy luật biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa và ranh giới hành chính từ thời Lê sơ, Lê Trung hưng đến thời Nguyễn.
  • Phương pháp đối chiếu liên văn bản: So sánh trực tiếp với các bộ tư liệu gốc như Hồng Đức bản đồ, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Việt sử thông giám cương mục.

Toàn bộ quá trình thu thập tư liệu, số hóa, giám định và đối chiếu thực địa được tác giả triển khai hệ thống trong khung thời gian 2 năm (từ năm 2017 đến năm 2019).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn giải mã thành công nhan đề và cấu trúc văn bản. Tên gọi Hoàng Lê Cảnh Hưng bản đồ ở trang bìa thực chất là do người thời Nguyễn ghi thêm khi sao chép lại tư liệu thời Cảnh Hưng. Nhan đề nguyên bản bên trong chính văn là Quốc triều thiên hạ bản đồ. Bản đồ được trình bày theo cấu trúc "Thượng văn - Hạ đồ" liên hoàn gồm 60 ngày nhật trình đường bộ và 19 ngày nhật trình đường thủy kết thúc tại cửa Hải Khẩu (Hà Tĩnh).

Thứ hai, nghiên cứu xác lập niên đại đa tầng của văn bản thông qua việc lập bảng thống kê 17 địa danh bị đổi do kiêng húy dưới 4 triều vua Lê và 2 đời chúa Trịnh. Dấu vết biến đổi hành chính sớm nhất ghi nhận năm 1522 (đổi huyện Ma Nghĩa thành Minh Nghĩa). Dấu vết muộn nhất là việc đổi tên huyện Lạc Thổ thành An Lạc vào năm Minh Mệnh thứ 17 (năm 1836). Điều này chứng minh bản đồ được sao chép lại vào khoảng sau năm 1836 nhưng truyền tải chính xác nội dung dữ liệu thời Lê Trung hưng giai đoạn 1662–1697.

Thứ ba, nghiên cứu thống kê chi tiết 708 địa danh, chỉ ra bản đồ mang đậm tư duy "hướng biển" độc đáo với quy ước: bên phải là hướng Bắc, bên trái là hướng Nam, phía trên là hướng Tây và phía dưới là hướng Đông trông ra Biển Đông.

Thảo luận kết quả

Sự tồn tại của các công trình quân sự Đàng Trong như Lũy Trường Dục (đắp năm 1629), Lũy Động Hải (năm 1631), Lũy Trường Sa (năm 1633), Lũy Trấn Ninh (năm 1662) và Lũy Cà Ná (sau năm 1653) trên bản đồ đã phản ánh rõ nét bối cảnh phân tranh Trịnh - Nguyễn thế kỷ 17. Việc bản đồ vẫn ghi danh xưng "Chiêm Thành quốc" thay vì "phủ Bình Thuận" chứng minh dữ liệu không gian được hoàn thành trước năm 1693.

Khi thảo luận kết quả, toàn bộ khối lượng 708 địa danh được cấu trúc hóa thông qua bảng quy đổi lộ trình và biểu đồ phân bố không gian. Dữ liệu có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng tổng hợp 5 nhóm địa danh chức năng:

  • Nhóm địa danh hành chính (phủ, huyện, châu, tổng, xã) chiếm tỷ lệ áp đảo khoảng 52% tổng số địa danh.
  • Nhóm địa danh sơn xuyên, thủy văn (núi, đèo, sông, cửa biển, hải đảo) chiếm khoảng 28%.
  • Nhóm công trình quân sự, chiến lũy, đồn lũy phòng thủ chiếm khoảng 11%.
  • Nhóm dịch trạm, lộ trình giao thông thủy bộ chiếm khoảng 6%.
  • Nhóm di tích văn hóa, đền miếu, danh thắng chiếm khoảng 3%.

So sánh với Hồng Đức bản đồ (bản sao A.2499 khoảng năm 1651–1653) và Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (năm 1686), tập bản đồ này có độ chi tiết vượt trội về địa vật ven biển, cung cấp nguồn tư liệu chuẩn xác để phục dựng diện mạo địa lý lịch sử miền Trung thời trung đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy tối đa giá trị học thuật và thực tiễn của nguồn tư liệu bản đồ cổ Hán Nôm, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị trọng tâm:

  1. Số hóa và hồi hương tư liệu: Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Nghiên cứu Hán Nôm cần chủ trì đề án hợp tác quốc tế, số hóa 100% các bộ sưu tập bản đồ cổ Việt Nam đang lưu trữ tại Nhật Bản (Tư Đạo văn khố, Đông Dương văn khố, Đại học Hiroshima) và Pháp trong giai đoạn 2024–2030.
  2. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu GIS lịch sử: Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng các viện nghiên cứu tích hợp toàn bộ 708 địa danh của tập bản đồ vào hệ thống thông tin địa lý số (GIS) trước năm 2026. Dự án này nhằm số hóa tọa độ, đối chiếu tự động danh xưng cổ với địa bàn hành chính hiện nay.
  3. Chuẩn hóa quy trình giám định niên đại văn bản: Các cơ sở đào tạo sau đại học chuyên ngành Hán Nôm và Lịch sử cần đưa phương pháp phân tích kỵ húy học và diên cách địa danh vào chương trình giảng dạy bắt buộc, tổ chức ít nhất 5 khóa tập huấn chuyên sâu trong 3 năm tới cho nghiên cứu sinh.
  4. Mở rộng xuất bản và công bố học thuật: Đẩy mạnh biên dịch, chú giải và xuất bản hàn lâm tối thiểu 10 tập bản đồ nhật trình cổ (như Hoàng Hoa sứ trình đồ, Quảng Thuận đạo sử tập, Nam Bắc Kỳ hội đồ) phục vụ công tác nghiên cứu liên ngành và đấu tranh pháp lý bảo vệ chủ quyền biên giới, hải đảo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Nhà nghiên cứu văn bản học và Hán Nôm học: Cung cấp tài liệu mẫu mực về quy trình giám định cổ bản giấy dó, phương pháp xử lý chữ kỵ húy và kỹ thuật phiên dịch địa bạ, lộ đồ.
  2. Giảng viên và sinh viên ngành Lịch sử, Địa lý học lịch sử: Cung cấp nguồn sử liệu chi tiết về hệ thống giao thông thủy bộ 60 ngày đường thời phong kiến, sự phân bố chiến lũy quân sự thời Trịnh - Nguyễn và diễn trình mở rộng lãnh thổ về phương Nam.
  3. Chuyên gia nghiên cứu chủ quyền biên giới và hải đảo: Khai thác hệ thống chứng cứ lịch sử về các cửa biển, hải trình duyên hải và các ghi chép địa lý liên quan đến Biển Đông phục vụ nghiên cứu pháp lý quốc tế.
  4. Chuyên viên lưu trữ, bảo tàng và thư viện học: Vận dụng các bài học kinh nghiệm trong việc tiếp cận, phục chế, bảo quản và số hóa nguồn thư tịch cổ Việt Nam hiện diện tại các tàng thư quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Bản đồ Hoàng Lê Cảnh Hưng có niên đại chính xác vào thời gian nào? Văn bản mang tính chất niên đại đa tầng. Nội dung thông tin địa lý phản ánh thời kỳ Lê Trung hưng trong khoảng năm 1662 đến năm 1697. Tuy nhiên, căn cứ vào việc đổi tên huyện Lạc Thổ thành An Lạc, bản sao chép tay hiện tồn được xác định hoàn thành vào thời Nguyễn, sau năm 1836 (năm Minh Mệnh thứ 17).

Tại sao bản đồ lại có hai tên gọi khác nhau trên cùng một văn bản? Tên gọi Hoàng Lê Cảnh Hưng bản đồ ở bìa ngoài do người đời Nguyễn đặt thêm nhằm chỉ rõ nguồn gốc dữ liệu từ triều vua Cảnh Hưng. Ngược lại, tên gốc ở trang chính văn là Quốc triều thiên hạ bản đồ, phản ánh cách định danh chính thức của triều đình thời Lê khi lập bản đồ.

Phương pháp vẽ "Thượng văn - Hạ đồ" trên bản đồ có đặc điểm gì nổi bật? Đây là phương thức thể hiện truyền thống của bản đồ nhật trình phương Đông. Phần trên (Thượng văn) ghi chú cự ly các cung trạm, dịch lộ, đặc sản và địa danh hành chính. Phần dưới (Hạ đồ) mô tả trực quan dòng chảy sông ngòi, hình thế núi non, đồn lũy bằng hai màu mực đen và xanh lam.

Hệ thống lộ trình trên bản đồ được phân chia như thế nào? Bản đồ thể hiện hành trình dài 60 ngày đường bộ tính từ Thăng Long tới Chiêm Thành bằng đơn vị "xá" hoặc "trình". Đồng thời, bản đồ mô tả 19 ngày hành trình đường thủy từ Thăng Long xuôi qua các dòng sông đến cửa Hải Khẩu (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) bằng đơn vị "trú".

Luận văn đóng góp gì mới cho công tác nghiên cứu địa danh học Việt Nam? Luận văn đã thống kê, định vị và bóc tách diễn trình lịch sử của 708 địa danh cổ, xử lý 17 trường hợp đổi tên do kỵ húy vua Lê, chúa Trịnh. Đồng thời, công trình lập bảng đối chiếu địa danh cổ với địa bàn hành chính hiện nay, tạo tiền đề xây dựng bản đồ số lịch sử.

Kết luận

  • Luận văn hoàn thành việc khảo cứu toàn diện bản thảo 40 trang giấy dó Hoàng Lê Cảnh Hưng bản đồ đang lưu trữ tại Đại học Keio, Nhật Bản.
  • Giải mã thành công hệ thống 708 địa danh và 17 trường hợp kiêng húy, xác lập niên đại dữ liệu thế kỷ 17 và niên đại sao chép sau năm 1836.
  • Làm sáng tỏ đặc trưng bản đồ nhật trình liên hoàn với cấu trúc "Thượng văn - Hạ đồ" cùng tư duy không gian "hướng biển" độc đáo của người Việt.
  • Bổ sung nguồn sử liệu vô giá cho kho tàng bản đồ học trung đại, khẳng định chủ quyền lãnh thổ và phục vụ nghiên cứu địa lý học lịch sử.
  • Đặt nền móng vững chắc cho phương pháp tiếp cận liên ngành giữa văn bản học Hán Nôm, ngôn ngữ học lịch sử và công nghệ không gian số.

Trong lộ trình nghiên cứu 2 năm tới, các dữ liệu địa danh này cần tiếp tục được đối chiếu thực địa và tích hợp vào hệ thống GIS quốc gia. Luận văn là lời kêu gọi cộng đồng học thuật đẩy mạnh việc khai thác, số hóa và công bố các nguồn thư tịch cổ vô giá của dân tộc đang lưu tán trên thế giới.