CHƯƠNG 1 TÂY DU KÝ – ĐIỂM NHẤN CỦA TIỂU THUYẾT CỔ ĐIỂN TRUNG QUỐC 1.1 Tiểu thuyết đời Minh – Sự khởi đầu cho thời đại hoàng kim của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc: 1.1 Những tiền đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đời Minh tác động đến sự hình thành tiểu thuyết: Lịch sử triều đại phong kiến nhà Minh, bắt đầu từ khi Chu Nguyên Chương xưng đế tại Nam Kinh (1368) cho đến khi vua Sùng Trinh tự tử tại Bắc Kinh (1644) kéo dài khoảng gần 280 năm. Tương ứng trong giai đoạn này (từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII), tại phương Tây, đặc biệt là các nước Châu Âu dấy lên một cuộc vận động tư tưởng và văn hóa mới hào hứng và quyết liệt chưa từng có từ trước đến nay. Cuộc vận động này khởi nguyên từ đất nước Italia, sau đó lan rộng ra các nước ở Tây Âu và Trung Âu. Người ta đặt tên cho luồng gió mới này là “Phong trào Văn hóa Phục hưng” (hay Tái sinh).
Một mặt, phong trào nêu cao truyền thống trân trọng, tôn vinh giá trị con người, phê phán thái độ coi rẻ, miệt thị con người của thời Trung cổ; mặt khác, các nhà văn ca ngợi truyền thống đấu tranh, giải phóng con người thoát khỏi chế độ chuyên chính, độc tài của Phong kiến và Nhà thờ. Họ tố cáo xã hội đương thời thông qua hành động biểu dương những khát vọng của con người mới. Họ đặt hoàn toàn niềm tin vào khả năng và triển vọng phát triển của con người. Hình tượng nhân vật mà các tác phẩm xây dựng là: “Những con người khổng lồ… Khổng lồ về tư tưởng, về nhiệt tình, về tính cách; khổng lồ về tài năng và sự hiểu biết sâu rộng” [85, tr.
Cuộc vận động tư tưởng và văn hóa Phục hưng đã gặt hái những thành quả tốt đẹp và phong phú. Khi đề cập đến nền phong trào Phục hưng, người ta nghĩ ngay đến chủ nghĩa nhân văn – trào lưu tư tưởng cơ bản tạo nên thành tựu rực rỡ của nền văn nghệ Phục hưng. Bên cạnh sự thành công về văn chương nghệ thuật, trong thời kì này, trên mọi lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị xã hội, tôn giáo, khoa học kĩ thuật cũng phát triển mạnh mẽ. Sự cộng hưởng và thay đổi tích cực đời sống vật chất lẫn tinh thần đã khẳng định bước ngoặt tiến bộ, vĩ đại nhất từ trước đến bấy giờ.
Nó tạo nên bộ mặt mới cho xã hội Tây Âu phồn thịnh hơn, khởi sắc hơn và tràn đầy sức sống. Như trên đã trình bày, thời đại Phục hưng ở phương Tây tương ứng với triều đại phong kiến nhà Minh. Nếu như tại châu Âu, mọi lĩnh vực đều thay da đổi thịt sâu sắc thì ngay trên đất nước Trung Quốc, vốn bảo thủ quan niệm “bế quan tỏa cảng” hàng ngàn năm cũng có sự biến chuyển mạnh mẽ, nhất là ngành thủ công nghiệp và kinh tế thương ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Hoïc vieân: Nguyeãn Thò Höông, maõ soá: 0305020503, lôùp CH.VHNN, khoùa (2005 - 2008) Ñeà taøi: “Tìm hieåu theá giôùi nhaân vaät trong Taây du kyù cuûa Ngoâ Thöøa AÂn” - 15 - _____________________________________________________________________ nghiệp. Những khu đô thị trung tâm, các thành phố lớn phía đông nam Trung Quốc, sau một thời gian dài bị suy thoái ở giai đoạn đầu triều Minh, đã dần dần khôi phục và phát triển trở lại.
Đồng thời, trong giai đoạn này cũng xuất hiện mầm mống chủ nghĩa tư bản. Về mặt tư tưởng văn hóa cũng có sự thay đổi nhất định. So với phong trào văn hóa Phục hưng phương Tây, trào lưu tư tưởng triều Minh mang một số nét tương đồng, cụ thể là nhấn mạnh tư tưởng giải phóng cá nhân. Đi vào sự khái quát đặc điểm tình hình chính trị, xã hội, văn hóa… đời Minh, có thể nhận thấy những nét cơ bản sau: 1.
Trước nhất, xã hội đời Minh là một xã hội tồn tại những mâu thuẫn phức tạp và sâu sắc. Chế độ chính trị dưới bàn tay Chu Nguyên Chương thực thi những chính sách chuyên chế, bạo tàn. Trừ mấy chục năm đầu dựng nước, dẹp yên tình trạng hỗn mang, phần lớn thời gian còn lại, triều đình nhà Minh, từ Minh Thành Tổ cho đến Minh Vũ Tông, Minh Thế Tông đều tập trung mọi quyền bính vào tay mình. Minh Thành Tổ (Chu Nguyên Chương) – Vị hoàng đế khai quốc có đầy đủ “hùng tài đại lược”, đã dùng mọi thủ đoạn để xây dựng một nền thống trị độc tài.
Vốn được xem là vị anh hùng xuất thân từ tầng lớp bình dân, từng nằm gai nếm mật mới dựng nên cơ đồ nên Chu Nguyên Chương hiểu thấu đáo sự lợi hại “có thể nâng thuyền cũng có thể lật thuyền” từ sóng gió của những cuộc khởi nghĩa nông dân. Ban đầu, ông thi hành một số chính sách quan trọng nhằm khôi phục lại nền kinh tế nông nghiệp, tạo uy tín trong lòng nhân dân như phát triển thủy lợi, khuyến khích khẩn hoang, phù trợ nông nghiệp, hạn chế cường hào… Những chính sách hợp lòng dân đã giúp cho kinh tế xã hội dần ổn định và có chiều hướng phát triển phồn vinh. Thế nhưng, mặt khác, chính Chu Nguyên Chương lại tiến hành chính sách thanh trừng một cách tàn khốc đối với khu vực duyên hải Đông Nam Trung Quốc xóa bỏ những mối uy hiếp, đe dọa sự tồn vong của vương triều nhà Minh. Những gia đình sống nơi đây buộc phải di dời đi nơi khác hoặc bị tịch thu tài sản… khiến nền công thương nghiệp cả một vùng suy sụp nghiêm trọng.
Nhà vua còn ra lệnh phong tỏa mọi sự giao thông trên biển, cấm hẳn dân chúng có mối quan hệ buôn bán qua lại với ngoại quốc, thi hành triệt để chính sách “trọng nông ức thương”. Không những thế, mọi quyền hành, ruộng đất được tập trung cao độ vào tay bọn địa chủ quan lại. Pháp luật thời bấy giờ là bàn tay hữu hình, công khai che chở cho giai cấp thống trị, địa chủ phong kiến nhưng lại bóc lột nông dân một cách tàn nhẫn. Nền tư bản thương nghiệp cũng dần thâm nhập vào nông thôn khiến người nông dân ngày càng kiệt quệ, dẫn đến phá sản.
Sự kiện Minh Thái Tổ lần lượt tạo ra những vụ “mưu phản”, gây xáo trộn triều đình nhằm viện cớ để sát hại mấy vạn người, cả những vị công thần từng trọng dụng là một ví dụ điển hình cho việc củng cố địa vị thống trị. Nhân cơ hội này, nhà vua hủy bỏ chế độ thừa tướng, để tập trung mọi quyền lực chính trị, quân sự, ngoại giao… Song song đó, là sự ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Hoïc vieân: Nguyeãn Thò Höông, maõ soá: 0305020503, lôùp CH.VHNN, khoùa (2005 - 2008) Ñeà taøi: “Tìm hieåu theá giôùi nhaân vaät trong Taây du kyù cuûa Ngoâ Thöøa AÂn” - 16 - _____________________________________________________________________ thẳng tay chém giết, loại trừ những kẻ không “ăn cánh”, có dấu hiệu hoặc thái độ bất hợp tác với chính quyền. Thời Minh Thành Tổ (1403 - 1424) qui định: “Những kẻ sĩ phu trong nước không ra giúp vua tội đáng giết và tịch biên gia sản” [89, tr. Chính quyền từ trung ương đến địa phương nằm trong tay một nhóm người có quyền thế.
Về đối nội, họ đề ra sưu cao thuế nặng, áp bức, bóc lột dân thảm hại. Về đối ngoại, họ thực thi chính sách bành trướng lãnh thổ sang nước Mông Cổ và một số dân tộc vùng Tây Bắc Trung Quốc. Vương triều nhà Minh càng ngày càng trở nên lỗi thời, độc đoán, cản trở tiến trình phát triển của xã hội. Thêm vào đó, những cuộc chiến tranh xâm lược xảy ra liên miên tại vùng biên giới càng góp phần làm cho bức tranh xã hội vốn đã rối ren lại trở nên hỗn độn hơn.
Hậu quả từ những chính sách ngang ngược, cực đoan đã khiến cho nhân dân lao động vô cùng bất mãn. Đời sống xã hội xáo trộn, sản xuất bị tàn phá; mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc thêm phần gay gắt. Áp bức giai cấp và áp bức dân tộc thúc đẩy sự bùng nổ của những cuộc khởi nghĩa nông dân, những cuộc nổi dậy có qui mô lớn, qui tụ lực lượng nông dân, thị dân, lực lượng vũ trang và tầng lớp sĩ phu yêu nước. Tính chất của những cuộc khởi nghĩa cũng phức tạp: vừa chống áp bức bóc lột của địa chủ vừa kết hợp với chống ách thống trị của ngoại tộc.
Không những đưa ra chính sách chuyên chế về kinh tế, xã hội, triều đại nhà Minh còn xây dựng một chính sách hết sức tàn bạo về văn hóa. Để củng cố địa vị độc tôn, giữ nghiêm tôn ti trật tự phong kiến, thủ tiêu tinh thần đấu tranh của nhân dân, giai cấp thống trị ra sức đề cao Lý học (tức Tống Nho) do Trình Hạo, Chu Hi giải thích lại từ Nho giáo của Khổng Tử, theo đó nhằm củng cố chế độ phong kiến tập quyền. Lý học trở thành một thứ quốc giáo, một học thuyết của nhà nước vào đời Minh. Về nhân sinh quan, nó đề cao mệnh trời, khuyên răn con người an phận thủ thường, số mệnh do trời định, ai giữ phận nào thì ở yên phận ấy; không nên làm điều gì trái với ý trời vì đó là mệnh lệnh tối cao.
Về luân lý xã hội, đề cao “Tam cương ngũ thường” khuyên răn con người khép mình vào khuôn phép đã được định vị theo những mối quan hệ. Đồng thời nó đề cao tư tưởng “chủ lĩnh”, mọi quyền hành tập trung vào tay triều đình, đứng đầu là nhà vua. Những sách kinh điển do học phái này chú thích được dùng làm sách giáo khoa thường ngày cho các sĩ tử cũng như dùng làm tư liệu để thi cử. Về mặt khoa cử, triều đình đề xướng thể “văn bát cổ” (gồm 8 vế: phá đề, thừa đề, khởi giảng, nhập thư, tiền cổ, trung cổ, hậu cổ, thái cổ) làm thể loại chính sử dụng trong các kỳ thi.
Đề thi được rút ra từ những luận điểm trong Tứ thư do Chu Hy soạn và Ngũ Kinh do các nhà Tống Nho chú thích. Thí sinh phải dựa trên “ngữ khí người xưa” mà làm bài. Đi kèm với khẩu khí ấy là những qui định nghiêm ngặt về số câu, chữ, tuyệt đối không được tự do sáng tạo hay phát huy ý tưởng cá nhân. Đây là một thủ đoạn nhằm thủ tiêu sự tự do về mặt tư tưởng của văn nhân.
Đồng ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Hoïc vieân: Nguyeãn Thò Höông, maõ soá: 0305020503, lôùp CH.VHNN, khoùa (2005 - 2008) Ñeà taøi: “Tìm hieåu theá giôùi nhaân vaät trong Taây du kyù cuûa Ngoâ Thöøa AÂn” - 17 - _____________________________________________________________________ thời với sự khống chế trên, triều đại nhà Minh áp dụng một chính sách vô cùng tàn khốc đối với các sĩ phu. Bất cứ ai đứng ngoài quỹ đạo về mặt tư tưởng và hành động do nhà Minh định hướng đều phải chịu những kết cục thảm khốc.