Chương 1 (Từ trang 13 đến trang 48): Quan niệm Con người cá nhân - Tiền đề xuất hiện trở lại và sự vận động của con ngƣời cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Chương 2 (Từ trang 49 đến trang 96): Những kiểu con ngƣời cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Chương 3 (Từ trang 97 đến trang 148): Con ngƣời cá nhân và những đổi mới nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975 CHƢƠNG 1 QUAN NIỆM “CON NGƢỜI CÁ NHÂN” – TIỀN ĐỀ XUẤT HIỆN TRỞ LẠI VÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CON NGƢỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU THUYẾT, TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 1. Quan niệm “con ngƣời cá nhân” Con người được hiểu như một phần, một sinh thể toàn năng của thế giới tự nhiên, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: sinh học, tâm lí học, đạo đức học, dân tộc học, y học, triết học, văn học… Mỗi khoa học có cách nhìn nhận, cách nghiên cứu khác nhau về con người, tùy theo mục tiêu cụ thể. Việc hình dung “con người” trong tính chỉnh thể của nó thật không đơn giản và cũng không dễ bề thống nhất. “Con ngƣời” và bản chất của con ngƣời Con người là “sinh vật có tính xã hội.
Một bước phát triển cao nhất của sự sống trên trái đất. Con người tạo ra xã hội, làm ra công cụ lao động, biến đổi thiên nhiên, ý thức và có tiếng nói”[260; 197-198]. Xét về mặt bản chất xã hội, “con người không những chỉ tạo ra lao động xã hội mà còn thiết lập ra các mối quan hệ xã hội, hình thành hiện thực văn hóa xã hội và tiến trình lịch sử ” [260; 199]. Mặt khác, “với tính cách là hiện thân những năng lực sáng tạo đã hình thành về mặt lịch sử, với tính cách là kẻ chịu trách nhiệm cá nhân về tất cả những hậu quả của những hành vi của mình, của những sự đánh giá về việc chấp nhận những tiêu chuẩn nhất định của sinh hoạt xã hội, con người là một cá nhân”[260; 199].
Trong lịch sử triết học cơ bản có hai quan niệm khác nhau khi nói về bản chất của con người. Quan niệm thứ nhất – xuất phát từ chỗ đề cao tự nhiên, lấy tự nhiên là trung tâm - cho rằng con người là một bộ phận của vũ trụ, là một tiểu vũ trụ, phụ thuộc vào Trời - đấng toàn năng tối cao (Triết học Ấn Độ và Trung Quốc cổ trung đại). Quan niệm thứ hai đề cao con người, nhấn mạnh đến vị thế của con người trong xã hội và đặt nó trong mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với tự nhiên (Triết học phương Tây cổ đại khẳng định con người là vốn quý, là trung tâm hoạt động của thế giới. Triết học Tây Âu thời phục hưng và cận đại phát hiện ra con người trong thế giới và cả một thế giới trong con người.
Các nhà Khai sáng quan niệm con người là một bộ phận của thế giới tự nhiên, một động vật, suy nghĩ nhờ các giác quan. Các nhà triết học cổ điển Đức đã đề cao sức mạnh trí tuệ của con người và cho rằng: tư duy, ý thức của con người chỉ phát triển trong chừng mực con người nhận thức và cải tạo thế giới, con người là chủ thể, đồng thời là kết quả hoạt động của một thời đại lịch sử nhất định của nền văn minh do chính nó tạo ra.) Một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại (từ giữa thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX) lại đưa ra những quan điểm khác nhau về con người và bản chất con người. Sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật đã giúp con người khắc phục nghèo đói, bệnh tật; con người học được cách chế ngự tự nhiên, thay lao động cơ bắp bằng lao động cơ khí, lạc quan nhìn về tương lai. Tuy nhiên, đại chiến thế giới hai đã tàn phá các thành tựu khoa học – kĩ thuật, đẩy con người vào tình trạng khủng hoảng và hoài nghi, mất lòng tin vào lịch sử.
Triết học phương Tây hiện đại vì vậy diễn ra theo xu hướng “có sự điều hòa mâu thuẫn giữa khoa học với tôn giáo, sự tách biệt đối lập giữa chủ nghĩa duy lí và chủ nghĩa nhân bản”[243; 144]. Triết học hiện sinh thể hiện “ý thức thuần túy về bản thân” cũng như “sự tồn tại đích thực nhân cách con người”, coi sự tồn tại của con người là hiện thực tuyệt đối và duy nhất. Triết học Freud nhấn mạnh đến ba yếu tố hình thành nhân cách con người: “cái ấy” (tính dục), “cái tôi” (ý thức của con người) và cái “siêu tôi” (đại diện của xã hội, lí tưởng và những tác động bên ngoài trong tâm lí con người). Triết học tôn giáo (điển hình là chủ nghĩa Thomas mới) đề cao đức tin vào Chúa, lấy Chúa làm trung tâm để con người thấm nhuần những giá trị chân chính… Như vậy, trong thời đại mới, các trào lưu triết học phương Tây cũng đi theo hai chiều hướng: một là đề cao vị thế của con người, hai là nhấn mạnh vai trò của tự nhiên (triết học tôn giáo).
Xu hướng thứ nhất lại tiếp tục được tách ra thành hai quan niệm: đề cao bản năng tự nhiên (triết học Freud) hoặc coi trọng ý thức nhân vị (triết học hiện sinh). Chủ nghĩa Marx đã đưa ra những nguyên lí cơ bản của quan niệm biện chứng duy vật về con người. Song, việc xây dựng một quan điểm hài hòa, hoàn chỉnh về con người là một việc vô cùng khó khăn vì những biểu hiện bản chất của con người cực kỳ nhiều vẻ (đó là lí tính, là ý chí, tính cách, xúc cảm, lao động, giao tiếp…). Marx cho rằng: điều kiện quyết định sự hình thành con người là lao động.
Lao động và xã hội đã tạo ra bản chất của con người. Marx viết: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng vốn có của một cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của tất cả những quan hệ xã hội”[289; 7]. Quan niệm về con người như vậy thực ra đã được manh nha từ triết học cổ điển Đức, khi J.G Fichte cho rằng, khái niệm con người không liên quan tới một con người đơn nhất… mà có liên quan đến giống người.A Feurbach cũng nhấn mạnh không có con người cô lập.
Đó chính là tiền đề cho quan niệm của Marx về con người và bản chất con người. Tâm lí học chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx về con người nhấn mạnh đến quan điểm về “sự thống nhất biện chứng của những thành tố tự nhiên và xã hội”, đồng thời cho rằng: “con người về cơ bản phải được xem xét như một hiện tượng xã hội lịch sử cụ thể với những thuộc tính của mình, nó trở thành một cá nhân đặc biệt so với các cá nhân khác. Con người phát triển thành cá nhân và thành nhân cách, phụ thuộc trước hết không phải vào mong muốn và ý chí, mà là vào quan hệ xã hội, kinh tế chính trị và vật chất khách quan mà trong đó con người sống”[53; 114]. Tuy nhiên, do quá nhấn mạnh vào bản chất xã hội của con người, triết học Marx và Tâm lí học chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx chưa coi trọng đúng mức yếu tố tự nhiên trong cấu trúc cá nhân ở mỗi con người.
Như vậy, các học thuyết cơ bản cho thấy: con người là một thực thể, một sản phẩm của tự nhiên và xã hội. Tuy nhiên, đi vào cụ thể, quan niệm về bản chất của con người cũng được phân tách theo hai xu hướng: một đề cao yếu tố tự nhiên, bản chất tự nhiên; một nhấn mạnh vào bản chất xã hội, ý thức xã hội của con người. Quan niệm “con ngƣời cá nhân” và quá trình phát triển của con ngƣời cá nhân trong lịch sử 1. Quan niệm con người cá nhân Từ điển Triết học (Cung Kim Tiến (2002), NXB Văn hóa thông tin Hà Nội) cho rằng con người cá nhân được thể hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng, chịu sự tác động mạnh mẽ bởi các yếu tố xã hội: “Con người với những phẩm chất được quy định về mặt xã hội và được biểu lộ ở mỗi cá nhân: trí tuệ, tình cảm, ý chí”, “các đặc tính vốn có của cá nhân không thể là bẩm sinh, mà xét cho cùng là bị quy định bởi chế độ xã hội hình thành trong lịch sử”; “cá nhân là một tổng thể gắn bó những nét bên trong và những đặc điểm của con người, qua đó mọi tác động từ bên ngoài được phản ánh”, “cái chủ quan trong cá nhân (cảm xúc, ý thức, nhu cầu) là không tách rời các quan hệ khách quan được hình thành giữa con người với hình thức chung quanh.
Trình độ phát triển của cá nhân phụ thuộc vào chỗ các quan hệ này tiến bộ đến đâu về mặt lịch sử”[260; 144]. Theo quan điểm này, con người – cá nhân được hiểu là những thực thể mang tính xã hội, ở đó có mối quan hệ khăng khít, tác động qua lại giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng. Cá nhân vì vậy vừa mang tính cá thể (của riêng nó) lại vừa mang tính phổ quát (của nhân loại). Nó được phân biệt với các cá thể khác thông qua chính tính đơn nhất và tính phổ biến của nó.
Tiếp tục phân tích mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, triết học Marx cho rằng cá nhân luôn luôn được phân biệt với những đặc trưng căn bản sau: - “Thứ nhất: cá nhân là phương thức tồn tại cụ thể của loài người một cách trực tiếp, cảm tính. Không có con người nói chung, mà chỉ có con người cụ thể - cá nhân - của giống loài. - Thứ hai, cá nhân là phần tử đơn nhất, riêng lẻ, tạo thành cộng đồng xã hội, là cơ sở hình thành lịch sử xã hội loài người. - Thứ ba, cá nhân là một chỉnh thể toàn vẹn có nhân cách, biểu hiện trong phẩm chất sinh lý và tâm lý riêng biệt của mỗi con người.
- Thứ tư, cá nhân trong mối quan hệ với xã hội là một hiện tượng lịch sử, vận động phát triển phù hợp với mỗi thời đại nhất định. Do đó, trong bất kỳ xã hội nào, cá nhân cũng không tách rời khỏi xã hội, mỗi thời đại sản sinh ra một kiểu cá nhân có tính đặc thù, thậm chí đối lập nhau, trong những quan hệ xã hội nhất định”[283]. Ở đây, cá nhân được hiểu theo nghĩa vừa là mỗi cá thể đơn nhất, là cơ sở hình thành xã hội; vừa là những nhân cách độc lập với phẩm chất tâm lí, sinh lí riêng.