CHƯƠNG 1. VẤN ĐỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ HÀNH TRÌNH TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG 1. Tự sự học và vấn đề nghiên cứu tự sự học trong văn học Việt Nam 1. Khái lược tự sự và tự sự học Tự sự được hiểu là một sự truyền đạt thông tin, là quá trình phát ra trong quá trình giao tiếp, văn bản tự sự là cụm thông tin được phát ra, và tự sự có thể thực hiện bằng nhiều phương thức, con đường.
Nhà giải cấu trúc Mĩ J.Miller có nói (1993): “Tự sự là cách để ta đưa các sự việc vào một trật tự, và từ trật tự ấy mà chúng có được ý nghĩa [51, tr. Tự sự là cách tạo nghĩa cho sự kiện, biến cố”; và Jonathan Culler (1998) cũng nói: “Tự sự là phương thức chủ yếu để con người hiểu biết sự vật” [51, tr. Như vậy, tự sự là một khái niệm được sử dụng rộng rãi và có tính chất liên ngành. Tự sự tồn tại và sử dụng trong nhiều lĩnh vực; tuy vậy, trong các hình thức tự sự, chỉ có tự sự văn học là phức tạp nhất, và nó làm thành đối tượng chủ yếu của tự sự học.
Với ý nghĩa tự sự như một phương thức tạo nghĩa và truyền thông tin trong văn học, tự sự có trong thơ, trong kịch, chứ không chỉ là trong truyện ngắn, tiểu thuyết, ngụ ngôn. Và đối tượng chủ yếu của tự sự học là nghệ thuật tự sự. Tự sự học (Narratology) là thuật ngữ do nhà nghiên cứu người Pháp T.Todorov đề xuất năm 1969, và nó là “một bộ phận cấu thành của hệ hình lý luận hiện đại”. Và lý thuyết về tự sự đã bổ sung cho lý thuyết về tiểu thuyết, trở thành một trong những vấn đề chủ yếu của nghiên cứu văn học.
Từ thời cổ đại, đã có tự sự học, nhưng tự sự học lúc đó được hiểu trong giới hạn của tu từ học. Ban đầu người ta biết phân biệt các loại tự sự: tự sự lịch sử khác tự sự nghệ thuật. Sau đó phân biệt đến tự sự mô phỏng với tự sự 14 giải thích, tự sự hỗn hợp. Tuy được biết đến từ lâu nhưng từ cuối thế kỉ XIX, tự sự học hiện đại mới manh nha hình thành.
Những thập niên đầu thế kỉ XIX, B.Propp, Bakhtin là những người mở đường cho tự sự học hiện đại. Thành tựu phát triển của tự sự học theo thời gian có thể chia làm ba thời kì. Thời kì trước chủ nghĩa cấu trúc, tự sự học chủ yếu nghiên cứu các thành phần và chức năng của tự sự như cốt truyện, nhân vật, ngôn từ trần thuật, điểm nhìn… Giai đoạn tiếp theo của tự sự học là thời kì cấu trúc chủ nghĩa với vấn đề nghiên cứu chủ yếu là bản chất ngôn ngữ và ngữ pháp của tự sự nhằm tìm ra một cách đọc mà không cần đến sự đối chiếu giữa tác phẩm tự sự và hiện thực khách quan. Với mục đích trên, chủ nghĩa cấu trúc có đặc điểm là lấy ngôn ngữ học làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học, còn trữ tình là sự mở rộng của ẩn dụ.
Thời kì thứ ba của tự sự học là thời kì hậu cấu trúc chủ nghĩa coi tự sự học gắn liền với kí hiệu học và siêu kí hiệu học, lấy văn bản làm cơ sở và ý nghĩa tác phẩm được biểu hiện qua hình thức tự sự. Họ coi trọng phân tích hình thức như các tác giả thời kì thứ hai nhưng lại không tán thành việc sao phỏng giản đơn các mô hình ngôn ngữ học. Họ nhấn mạnh vai trò tác động của hình thái ý thức, nêu yêu cầu lí thuyết tự sự phải gắn với chức năng nhận thức và giao tiếp. Tự sự học là một lĩnh vực tri thức rộng lớn, trở thành một trong những lĩnh vực học thuật được phổ biến, quan tâm trên thế giới và lý thuyết về tự sự học không ngừng được khám phá từ xưa tới nay.
Mỗi giai đoạn, người ta nhận thấy sự thay đổi về hệ hình lí thuyết, các tầng bậc và phương pháp nghiên cứu tự sự. Ở giai đoạn đầu tương ứng là hệ hình tự sự học kinh điển tập trung nghiên cứu cấu trúc của truyện, mối quan hệ của các sự kiện tạo nên truyện. Bước phát triển thứ hai của tự sự học là theo hướng chủ nghĩa cấu trúc kinh điển, hướng này chủ yếu nghiên cứu lời kể, cách kể, hay còn gọi 15 là nghiên cứu diễn ngôn tự sự. Và ngày nay, hướng thứ ba là mô hình tự sự học có công thức “tự sự học + X”.
Quan niệm này thực sự mở rộng phạm vi của tự sự học, tạo ra mối liên kết, liên ngành giữa tự sự học với các lĩnh vực khác có liên quan. Với sự phát triển không ngừng của lí thuyết tự sự, có thể khẳng định tự sự học có vai trò rất lớn trong nghiên cứu cấu trúc tự sự. Tự sự học hiện đại cho chúng ta thấy rõ vai trò của chủ thể trong trần thuật khi phân biệt kể cái gì và kể như thế nào. Lần đầu tiên, người trần thuật vô hình vốn ít được chú ý phân tích, hiện ra như là một hệ thống biểu đạt.
Lí thuyết tự sự cũng chỉ ra kết cấu của các tầng bậc trần thuật và theo đó xuất hiện các kiểu người trần thuật khác nhau. Lí thuyết tự sự hiện đại nêu ra các khái niệm về góc nhìn, điểm nhìn, tiêu cự… điều đó giúp dễ dàng phân tích, nhận dạng hình thức tự sự. Tóm lại, có thể hiểu tự sự học là một ngành nghiên cứu của lý luận văn học, lấy nghệ thuật tự sự làm đối tượng. Và, trong các hình thức tự sự, thì tự sự văn học là đáng quan tâm nhất, trở thành đối tượng nghiên cứu chủ yếu của tự sự học.
Tự sự học trong nghiên cứu văn học Việt Nam Ở Việt Nam, tự sự học là một hướng nghiên cứu tương đối mới mẻ và rất giàu tiềm năng. Vào những năm cuối thập niên 80 của thế kỉ XX, tự sự học được biết đến như một bộ phận của thi pháp học. Nghiên cứu thi pháp trở thành một khuynh hướng nổi bật trong giới học thuật, đem lại một cách tiếp cận mới nghiêng về tính nội tại của văn học. Đến năm 2001, khi khoa Ngữ văn - Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức hội thảo lần đầu tiên về tự sự học, vấn đề nghiên cứu văn học theo hướng tự sự học mới thực sự được ý thức một cách đầy đủ.
Tiếp đó, các cuộc hội thảo về tự sự học tiếp tục diễn ra thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu (Tự sự học lần 2 - 2008, Đại học Sư phạm Hà 16 Nội; Tự sự học, lí luận và ứng dụng - 2010, Viện Văn học). Từ đó đến nay, lí thuyết tự sự học được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu văn học cũng như các công trình nghiên cứu ở các cấp đại học và sau đại học trong các trường đại học, viện nghiên cứu trên toàn quốc. Tìm hiểu các bài viết, công trình nghiên cứu về tự sự, chúng tôi nhận thấy có các hướng nghiên cứu về tự sự học ở Việt Nam như sau: Thứ nhất là dịch thuật, giới thiệu các lí thuyết tự sự. Đóng vai trò lớn trong việc này phải kể đến hai hội thảo Tự sự học có quy mô toàn quốc được tổ chức ở Đại học Sư phạm Hà Nội, kỉ yếu hội thảo được xuất bản thành sách (Trần Đình Sử chủ biên, Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử, Nxb Đại học Sư phạm, Phần 1, 2004; Phần 2, 2008).
Qua hai cuộc hội thảo, giới nghiên cứu trong nước có được một cái nhìn khái quát về tự sự học, các giai đoạn phát triển, xu hướng phát triển của tự sự học thế giới. Nhiều bài viết tham gia hội thảo giới thiệu một số lí thuyết tự sự của Greimas, N. Trong những năm qua, việc giới thiệu và dịch các lí thuyết tự sự vẫn không ngừng được bổ sung, mở rộng. Có thể kể đến một số công trình dịch và trích dịch như Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học (Trịnh Bá Đĩnh, Nxb Văn học - Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Hà Nội, 2002); một số công trình của V.Propp như Hình thái học truyện cổ tích (Phan Ngọc dịch), Nghiên cứu cấu trúc và nghiên cứu lịch sử về truyện cổ tích thần kì (Chu Xuân Diên dịch).
in trong Tuyển tập V.Propp, Nxb Văn hóa dân tộc - T/c Văn hóa nghệ thuật, 2003; một số mục từ trần thuật học in trong sách Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kì thế kỉ XX của I.Tzurganova (Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003); Thi pháp văn xuôi của Tz.Todorov (Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch, Nxb Đại học Sư phạm, 2004); Cấu trúc văn bản nghệ thuật của Iu. 17 Lotman (Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004), Thi pháp của huyền thoại của E.Meletinxki (Trần Nho Thìn, Song Mộc dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004); các bản trích dịch như Ngôi - G.Genette, Trật tự - G.Genette (Lê Phong Tuyết dịch); Tự sự học kinh điển (Nhiều người dịch, Nxb Văn học, 2010); Dẫn luận về phương pháp phân tích văn chương hiện đại (tiểu thuyết) của Bernaffd Valette (Lê Nguyên Cẩn dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014)… Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết giới thiệu, phân tích lí thuyết tự sự đăng trên tạp chí chuyên ngành như Nghiên cứu văn học, Văn học nước ngoài. Nhìn chung, ở hướng nghiên cứu này, giới phê bình Việt Nam bắt đầu tiếp cận lí thuyết tự sự hiện đại trên thế giới qua việc dịch, cắt nghĩa các quan điểm của các nhà lí luận. Mỗi học thuyết, trường phái có một phát kiến riêng nhưng cũng có những giới hạn nhất định mà khi tiếp nhận cần kết hợp với kiến thức khác và kinh nghiệm để tự thiết lập nên một phương pháp phù hợp nhất với đối tượng và mục tiêu đề ra.
Thứ hai là nghiên cứu các hệ vấn đề trong lí thuyết tự sự.