Chương 1. LÝ THUYẾT ĐỐI THOẠI VÀ ĐỐI THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ SAU 1975 1. Lý thuyết đối thoại 1. Giới thuyết khái niệm Trên thế giới, luận về đối thoại, trước khi trở thành hệ hình lý thuyết gắn với tên tuổi nhà triết học - mỹ học - nghiên cứu văn học M.
Bakhtin, khởi nguyên của nó bắt nguồn từ Socrate (khoảng 470 - 399 trước Công nguyên). Tuy nhiên, thời cổ đại, đối thoại Socrate là một thể loại văn học được ghi chép lại bởi Plato (khoảng 428 - 348 trước Công nguyên). Trong tiếng Hi Lạp, đối thoại (dialogos) được dùng để chỉ cuộc trò chuyện giữa ít nhất là hai nhân vật trong kịch hay tác phẩm văn xuôi. Nó cũng dùng để chỉ một thể loại chính luận - triết học, trong đó có sự tranh luận, trao đổi giữa hai hay một số người.
Đến những năm 20 thế kỷ XX, M. Bakhtin viết Bàn về ngôn ngữ tiểu thuyết, Tác giả và nhân vật trong hoạt động thẩm mỹ (cuối những năm 20), Những vấn đề sáng tác Dostoievski (1929) đã trở lại vấn đề đối thoại không phải trên phương diện một thể loại mà là đặc trưng thi pháp thể loại. Đặc biệt, trong công trình Những vấn đề sáng tác Dostoievski, nhà nghiên cứu đặt ra tính đa thanh, phức điệu, nguyên tắc phức điệu trong tiểu thuyết. Đa thanh, phức điệu cũng chính là tính đối thoại trong nội tại lời nói con người.
Bakhtin chú ý đến các quan hệ đối thoại của ý thức con người - một hiện tượng vẫn nằm ngoài phạm vi ngôn ngữ nhưng được biểu hiện bằng ngôn ngữ, qua ngôn ngữ. Đối tượng trong lý thuyết ngôn ngữ của Bakhtin là lời nói (parole), tức ngôn ngữ trong thực hành giao tiếp của con người. Ông cho rằng ngôn ngữ 10 chỉ tồn tại với các tình huống thực hành giao tiếp cụ thể. Chính vì thế ngôn ngữ và đời sống gắn bó chặt chẽ với nhau.
“Ngôn ngữ thâm nhập vào đời sống thông qua những phát ngôn cụ thể và chính thông qua những phát ngôn cụ thể, đời sống cũng thâm nhập vào ngôn ngữ” [32, tr. Ngôn ngữ không tồn tại tự thân mà phải qua các phát ngôn cụ thể, qua các giao tiếp bằng lời (tiếng nói, chữ viết) cụ thể. Nó cũng không đứng yên, tĩnh tại mà luôn vận động thành một dòng chảy giao tiếp rộng lớn trong cộng đồng người. Như vậy, ngôn ngữ theo lý thuyết của Bakhtin là một thứ “siêu ngôn ngữ”.
Đơn vị cơ bản của “siêu ngôn ngữ” này là phát ngôn. Đó là một chỉnh thể ngôn ngữ thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau (các thể loại lời nói) rất phong phú: một câu hỏi, một lời cảm thán, một lời cầu xin, một mệnh lệnh, một khẳng định…Chủ thể của phát ngôn chính là người nói. Tuy vậy, cái tổ chức nên phát ngôn không phải là ý chí chủ quan của người nói mà là môi trường xung quanh, đó là kết quả của quá trình tương tác xã hội. Mỗi phát ngôn là một mắc xích trong dòng chảy của hoạt động giao tiếp, phát ngôn chính là đầu mối của mọi vấn đề trong lý thuyết ngôn ngữ của Bakhtin.
Trong thực tế phát ngôn, người nói bao giờ cũng hướng đến một đối tượng nào đó, tiến hành một sự đối thoại nào đó (với người khác hoặc với chính mình). Theo nhà nghiên cứu, nói bao giờ cũng nhằm tới một sự “thông hiểu chủ động”, “thông hiểu chủ động” là quá trình tiếp nhận - hồi đáp, không phải tái hiện y nguyên lời nói trong đầu người tiếp nhận, mà là sự tán thành hay phản đối…làm cho người khác hiểu mới chỉ là một công đoạn trong quá trình phát ngôn, người nói còn muốn, còn chờ đợi một “hồi đáp”. Mỗi phát ngôn như vậy tự nó đã hàm chứa “câu trả lời sơ bộ” và “lời kẻ khác” trong lời người nói. Nhìn chung, quan điểm của Bakhtin có sự khác biệt so với quan điểm của nhà ngôn ngữ học F.
Mô hình giao tiếp mà 11 Saussure đề xướng cũng bao gồm người nói và người nghe, nhưng người nghe chưa phải là người tham thoại, đối thoại mà chỉ là người tiếp nhận một cách thụ động. Saussure xem bản chất của ngôn ngữ nằm ở sự khác biệt, Bakhtin xem bản chất ngôn ngữ là đối thoại. Không những thế, Bakhtin còn trừu tượng hóa đối thoại thành một khái niệm triết học. Đối thoại được xem là bản chất tư tưởng nhân loại.
Cho nên, ý nghĩa của mọi phát ngôn đều tùy thuộc vào những gì được nói trước đó và cách thức người nghe tiếp nhận phát ngôn ấy. Hiểu một cách đơn giản hơn, mọi phát ngôn đều mang tính đối thoại. Như vậy khái niệm “đối thoại” của Bakhtin khác với khái niệm mà chúng ta thường thấy trong ngôn ngữ học (thường chỉ giới hạn trong phạm vi lời hỏi, đáp và được ghi vào trong ngoặc kép hoặc sau dấu gạch đầu dòng). Đối thoại trong quan điểm của Bakhtin là thái độ của ý thức, biểu hiện qua sự đồng tình, phản đối, khẳng định, phủ định, hoài nghi, giễu nhại… Khi lý thuyết đối thoại của Bakhtin du nhập vào Việt Nam, các nhà nghiên cứu nước ta cũng đưa ra nhiều khái niệm về đối thoại trong văn học.
Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân đã đưa ra khái niệm về thuật ngữ đối thoại với một số hàm nghĩa khác nhau: 1) Sự giao tiếp bằng lời nói giữa hai người (hoặc nhiều người với nhau). 2) Một phần của văn bản ngôn từ nghệ thuật, một thành tố mà chức năng là tái tạo sự giao tiếp bằng lời nói của các nhân vật. 3) Một thể loại văn học ở châu Âu, nghiêng về nội dung chính luận triết lí, trong đó tư tưởng của tác giả được khai triển dưới dạng trò chuyện, tranh cãi giữa hai người (hoặc nhiều hơn). Thể loại này dựa vào truyền thống giao tiếp trí tuệ bằng lời nói miệng, vốn có ở thời Cổ đại Hy Lạp; ngọn nguồn của truyền thống này là hoạt động Sokraste.
12 Ở cách hiểu thứ nhất, đối thoại thiên về giao tiếp hàng ngày; cách hiểu thứ hai, đối thoại là một phạm trù thuộc về ngôn từ trong văn chương; cách hiểu thứ ba, đối thoại lại là một thể loại văn học. Ở đề tài này, đối thoại không chỉ nhìn nhận đơn giản từ góc độ ngôn ngữ trong văn chương, là các phát ngôn qua lại giữa các chủ thể hay thể loại văn học mà rộng hơn, nó phải được xem xét như một phương tiện nhằm khám phá nghệ thuật thể hiện cuộc sống của nhà văn. Cũng trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân còn phân biệt đối thoại và độc thoại trong vai trò là hai kiểu giao tiếp ngôn từ cơ bản: “Do chỗ các thành phần ngôn từ của hai kiểu này đều mang màu sắc chủ quan và bộc lộ đặc tính của những chủ thể phát ngôn chúng, ngôn từ đối thoại và ngôn từ độc thoại trở thành nhân tố tổ chức nhiều văn bản ngôn từ, nhất là văn bản tác phẩm văn học (tác phẩm ngôn từ nghệ thuật), nơi mà chúng hiện diện với tư cách là đối tượng của sự miêu tả” [3, tr. Ngôn từ đối thoại và ngôn từ độc thoại là phương tiện nghệ thuật chủ yếu để tái tạo các hành vi của con người và các giao tiếp về tinh thần giữa họ, được kết hợp với các quá trình tư duy vốn nhuốm màu ý chí - cảm xúc của họ.
Đối thoại và độc thoại là đối tượng miêu tả quan trọng nhất trong mọi thể loại, thể tài văn học. Ở các giai đoạn lịch sử ban đầu, trong nghệ thuật ngôn từ, lối khoa trương bóng bẩy mang tính độc thoại có ưu thế hơn lối trò chuyện mang tính đối thoại. Trong học thuật hiện đại, nhân tố đối thoại được xem như một đặc tính phổ quát hết sức quan trọng của hoạt động ngôn từ, bởi vì các phát ngôn luôn luôn hiện diện sự chờ đợi (sự kích thích) một lời đáp lại nào đó, cũng tức là phản ứng lại kinh nghiệm ngôn ngữ trước đó. Về mặt này, “đối thoại và độc thoại trong văn học tương ứng với tính đối thoại và tính độc thoại của ý thức các nhân vật và của bản thân các nhà văn, do các đặc điểm của quan niệm tư tưởng - nghệ thuật của họ.
Ý thức mang tính đối thoại hướng tới 13 những xúc tiếp rộng - liên cá nhân và được làm giàu bởi kinh nghiệm của người khác - nó - theo M. Bakhtin - là thuận lợi hơn cả cho hoạt động nghệ thuật hiện đại (kể cả hoạt động cảm thụ); nó được bộc lộ đầy đủ nhất trong tính đối thoại nội tại của những lời độc thoại ở người trần thuật và các nhân vật trong các tiểu thuyết” [3, tr. Đỗ Đức Hiểu trong Từ điển văn học xem tính đối thoại là một đặc trưng của tiểu thuyết, chứa đựng nhiều tiếng nói khác nhau, tranh luận với nhau - một phát hiện của Bakhtin. Sau này, một số nhà nghiên cứu như Genette, Todorov, Kristeva… mở rộng đến thơ, kịch… Văn chương nói chung có tính đối thoại, dù nhiều hay ít.
Cũng theo Đỗ Đức Hiểu, trong tiểu thuyết, những tiếng nói khác nhau xen lấn nhau, đối kháng nhau, được tạo nên bởi đối thoại giữa các nhân vật với những tình cảm, suy tư khác nhau, đối lập nhau, đứng cạnh nhau, trao đổi, cãi vã nhau; bởi vì trong tiểu thuyết “tôi” và “nó” xuất hiện, mà mỗi người là một thế giới riêng biệt. Tính đối thoại của tiểu thuyết được tạo nên bởi giọng nói của nhiều tầng lớp xã hội, có phong cách cao, có phong cách thấp. Tiểu thuyết (một loại hình văn học ra đời muộn so với thơ, anh hùng ca, kịch…), tiếp thu những cái hay, cái đẹp của các loại hình, vì vậy, bao gồm tiếng nói hùng tráng, lời ca trữ tình, tiếng nói cười cợt, thư từ, cả những đoạn triết lý, chính luận, đạo đức học… nó là một thể “lai”. Thêm nữa, tiểu thuyết còn đối thoại với tiểu thuyết trước nó và sau nó, đối thoại với tiểu thuyết nước ngoài, với các ngành nghệ thuật khác.
Cuối cùng, tiểu thuyết còn có tính đa âm (theo Berger trong Từ vựng phân tích văn chương); tính đa âm là tiếng nói của nhà văn (chủ thể), hiểu như con người xã hội làm nghề viết văn; tiếng nói của tác giả, người phát ngôn và tiếng nói của người kể chuyện - ba tiếng nói này xen lẫn nhau trong một tác phẩm. Tính đa âm là một bộ phận của tính đối thoại. 14 Như vậy, tìm hiểu tư duy đối thoại trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà không đơn thuần là khảo sát cấu trúc đối thoại của ngôn từ mà chính là sự dụng công trong việc tìm ra ý nghĩa của đối thoại thông qua ngôn từ. Điều này đã được M.
Bakhtin chứng minh rõ trong sự diễn giải trên cứ liệu tiểu thuyết Dostoievski.