Luận Văn Tốt Nghiệp: Quán Ngữ Tình Thái Trong Tiểu Thuyết Sống Mòn Của Nam Cao

Chuyên đề nghiên cứu Phân Tích Quán Ngữ Tình Thái Trong Tiểu Thuyết Sống Mòn Của Nam Cao, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên gia

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

105
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

Lí do chọn đề tài

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Phƣơng pháp nghiên cứu

Dự kiến đóng góp của đề tài

Bố cục của đề tài

1. PHẦN NỘI DUNG

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TÁC PHẨM SỐNG MÒN

1.1. Cơ sở lí luận về tình thái và tình thái trong ngôn ngữ

1.1.1. Tình thái trong logic học và tình thái trong ngôn ngữ

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cơ sở lí luận về tình thái và tình thái trong ngôn ngữ

Tình thái trong ngôn ngữ học là một khái niệm quan trọng, thể hiện thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề. Tình thái không chỉ đơn thuần là thông tin về sự thật mà còn bao gồm các yếu tố như ý kiến, cảm xúc và đánh giá của người nói. Theo Charles Bally, tình thái là linh hồn của câu, giúp người đọc hiểu rõ hơn về ý nghĩa sâu xa của phát ngôn. Trong khi đó, tình thái trong logic học chỉ quan tâm đến giá trị chân ngụy của mệnh đề mà không xem xét đến thái độ của người nói. Điều này cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa hai lĩnh vực này. Tình thái trong ngôn ngữ học được phân loại thành hai loại chính: tình thái nhận thức và tình thái đạo lý. Tình thái nhận thức liên quan đến độ chân thực của thông tin, trong khi tình thái đạo lý thể hiện mức độ áp đặt về mặt đạo đức. Việc hiểu rõ về tình thái sẽ giúp người đọc nắm bắt được ý nghĩa sâu sắc hơn trong các tác phẩm văn học.

1.1. Tình thái trong logic học và tình thái trong ngôn ngữ

Tình thái trong logic học chủ yếu tập trung vào giá trị chân ngụy của mệnh đề, tức là xác định xem một mệnh đề có thật hay không, có tất yếu hay không, và có khả năng xảy ra hay không. Điều này có nghĩa là tình thái trong logic không quan tâm đến các yếu tố như cảm xúc hay thái độ của người nói. Ngược lại, tình thái trong ngôn ngữ học lại chú trọng đến thái độ chủ quan của người nói đối với nội dung mệnh đề. Theo các nhà ngôn ngữ học, tình thái là một phần không thể thiếu trong việc hiểu nghĩa của câu, vì nó thể hiện cách mà người nói cảm nhận và đánh giá về sự việc được đề cập. Sự phân biệt này giúp làm rõ vai trò của tình thái trong việc truyền đạt thông điệp và cảm xúc trong giao tiếp.

II. Tổng quan về tác giả tác phẩm

Nam Cao, tên thật là Trí Phú, là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học hiện đại Việt Nam. Ông nổi tiếng với những tác phẩm phản ánh sâu sắc tâm tư, tình cảm và số phận con người trong xã hội. Tiểu thuyết 'Sống mòn' là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông, thể hiện rõ nét phong cách viết và tư tưởng nghệ thuật của Nam Cao. Tác phẩm không chỉ đơn thuần là một câu chuyện về cuộc sống mà còn là một bức tranh sinh động về tâm lý nhân vật, thể hiện những khía cạnh sâu sắc của cuộc sống con người. Qua 'Sống mòn', Nam Cao đã khéo léo sử dụng các quán ngữ tình thái để thể hiện tâm trạng và cảm xúc của nhân vật, từ đó tạo nên một không gian nghệ thuật phong phú và đa dạng.

2.1. Nam Cao một đời văn

Nam Cao không chỉ là một nhà văn mà còn là một nhà tư tưởng lớn. Ông đã có những đóng góp quan trọng cho nền văn học Việt Nam, đặc biệt là trong việc khai thác tâm lý nhân vật. Tác phẩm của ông thường mang tính triết lý sâu sắc, phản ánh những mâu thuẫn trong cuộc sống và tâm hồn con người. Ông đã sử dụng ngôn ngữ một cách tinh tế, đặc biệt là các quán ngữ tình thái, để thể hiện những cảm xúc phức tạp của nhân vật. Điều này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về nhân vật mà còn tạo ra những trải nghiệm cảm xúc sâu sắc khi tiếp cận tác phẩm.

III. Khảo sát quán ngữ tình thái theo các phạm trù nội dung của tình thái nhận thức trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao

Trong tiểu thuyết 'Sống mòn', Nam Cao đã sử dụng nhiều quán ngữ tình thái để thể hiện các khía cạnh khác nhau của tình thái nhận thức. Các quán ngữ này không chỉ giúp làm rõ tâm trạng của nhân vật mà còn phản ánh những suy tư sâu sắc về cuộc sống. Các quán ngữ tình thái thực hữu, tiềm năng và phản thực hữu được phân tích một cách chi tiết, cho thấy sự phong phú và đa dạng trong cách mà Nam Cao thể hiện ý nghĩa tình thái. Việc khảo sát này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách sử dụng ngôn ngữ của Nam Cao mà còn mở ra những góc nhìn mới về tâm lý nhân vật và bối cảnh xã hội mà họ sống.

3.1. Các quán ngữ tình thái nhận thức thực hữu

Các quán ngữ tình thái nhận thức thực hữu trong 'Sống mòn' thường được sử dụng để thể hiện những suy nghĩ, cảm xúc và nhận thức của nhân vật về thực tại. Những quán ngữ này giúp làm nổi bật sự tương tác giữa nhân vật và thế giới xung quanh, từ đó tạo ra những hình ảnh sinh động về cuộc sống. Nam Cao đã khéo léo lồng ghép các quán ngữ này vào trong các tình huống cụ thể, giúp người đọc cảm nhận được sự chân thực và sâu sắc trong tâm tư của nhân vật. Điều này không chỉ làm tăng tính thuyết phục của tác phẩm mà còn tạo ra những trải nghiệm cảm xúc mạnh mẽ cho người đọc.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu câu) [56, tr.249], nhƣ có lẽ, tất nhiên, những cấu trúc chủ - vị (đề - thuyết) có tôi làm chủ thể của một vị từ, bằng những vị từ tình thái mà bổ ngữ là cấu trúc vị ngữ hạt nhân, bằng những trợ từ tình thái đặt trong ngữ đoạn vị từ hay ở ngoài đoạn này, chẳng hạn nhƣ cuối câu. Qua các nhận xét trên, chúng tôi nhận ra vai trò của các từ biểu thị tình thái trong tổ chức trừu tƣợng của câu vẫn chƣa đƣợc nhận thức đầy đủ, nhƣng không ít các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự đa dạng phong phú cả các đơn vị biểu hiện này. Tập Luan van 13 hợp những ý kiến của các tác giả về vấn đề các phƣơng tiện biểu thị tình thái trên, chúng tôi xác lập ba phƣơng diện sau là phƣơng tiện biểu thị tình thái, bao gồm: a. Các phƣơng tiện ngữ âm: dùng ngữ điệu để thể hiện thái độ hoặc cách nhìn nhận của ngƣời nói đối với điều đƣợc nói đến trong câu.

Sử dụng trọng âm và biến âm có chủ ý để thể hiện đƣợc ý nghĩa tình thái trong câu. Bằng cách ngữ điệu, trọng âm hoặc lên giọng ngƣời giao tiếp có thể nhận thấy đƣợc thái độ trong phát ngôn đó. Dùng ngữ điệu bằng cách lên giọng hoặc xuống giọng ở những ngữ đoạn nhất định để thể hiện thái độ, tình cảm hoặc nhấn mạnh vào điểm mà ngƣời nói cho là cần chú ý là loại phƣơng tiện ngôn điệu phổ biến ở tiếng Anh, Pháp… Tiếng Việt rất ít dùng ngữ điệu mà thay vào đó nhấn giọng hay dài giọng ở các trợ từ nhấn mạnh cuối câu hoặc các thành phần khác của câu, hay kết hợp ngữ điệu với trọng âm để gắn ngữ điệu với cách nhấn âm tiết. Ví dụ khi ngƣời nói lên giọng “Giỏi nhỉ” đã biểu hiện sắc thái khác nhau trong từng ngữ cảnh khác nhau: -Hôm nay con làm toán đƣợc 10 điểm (nếu nhƣ ngƣời con này học có tiến bộ) thì “giỏi nhỉ” đƣợc dùng nhƣ là một lời khen ngợi.

-Con ráng trứng bị cháy thì “giỏi nhỉ” (Hành động làm cháy trứng: chỉ chủ thể hành động chủ động làm một việc X nào đấy nhƣng thành quả lại bị thất bại). Từ dùng giỏi nhỉ nhằm chỉ sự chê trách của ngƣời nói. Các phƣơng tiện ngữ pháp: Tất cả các phƣơng tiện ngữ pháp hầu nhƣ đều biểu thị ý nghĩa tình thái nhƣ tình thái ngữ, trạng ngữ, chú thích ngữ, khởi ngữ, các kiểu cấu trúc câu bất thƣờng: câu đặc biệt, câu dƣới bậc, câu tỉnh lƣợc và đặc biệt là các kết từ trong câu ghép. Các phƣơng tiện từ vựng: Các tính từ tình thái nhận thức, động từ tình thái nhận thức, trạng từ tình thái nhận thức, danh từ tình thái nhận thức trong tiếng Anh, hoặc các quán ngữ tình thái, tiểu từ tình thái, phó từ tình thái, động từ tình thái… trong tiếng Việt.

Cụ thể, đƣợc biểu hiện qua các mặt: (1) Các động từ tình thái: muốn, toan, định, dám hòng, … (2) Các trợ từ, tiểu từ tình thái: à, ƣ, nhỉ, nhé, cơ, ngay, cả, … Luan van 14 (3) Các động từ chỉ thái độ mệnh đề gắn với cấu trúc câu ghép: lo rằng, tiếc là, ngờ rằng, sợ rằng, … (4) Các động từ ngữ vi: hỏi, mời, khuyên, yêu cầu, đề nghị tuyên bố, hứa, cam đoan, … (5) Các thán từ: ôi, chao, trời ơi, chết, ối dào, ối giời ơi, … (6) Các phó từ, tổ hợp phó từ, tổ hợp liên từ: có lẽ là, ắt là, đƣơng nhiên là, hay là, quả thực là, thực tình là, ấy thế mà, … (7) Các cụm từ biểu hiện ý nghĩa tình thái mang tính chất cố định nhƣ: làm nhƣ… không bằng, xem ra, nghe đâu, nghe nói, nghe bảo, thế nào cũng, theo ý tôi, nói tóm lại là, ƣớc gì… (8) Các quán ngữ biểu thị tình thái: nói của đáng tội, nói khí vô phép, chẳng giấu gì… 1. Khái niệm quán ngữ biểu thị tình thái Quán ngữ thuộc kiểu đơn vị từ vựng. Vì vậy, khái niệm quán ngữ chúng ta thƣờng bắt gặp nhiều trong nghiên cứu từ vựng hơn là trong nghiên cứu ngữ pháp. Quán ngữ là đơn vị thuộc cụm từ cố định.

Đơn vị dùng làm chất liệu cơ sở để tạo ra câu – đơn vị giao tiếp – không phải chỉ có từ. Ngoài từ ra, còn có một loại đơn vị gọi là cụm từ cố định. Khái niệm cụm từ cố định đƣợc khái quát: “Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại; tồn tại với tƣ cách một đơn vị có sẵn nhƣ từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định nhƣ từ” [12, tr. Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại, tồn tại với tƣ cách là một đơn vị có sẵn, mang tính xã hội hóa cao nhƣ từ, có cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định nhƣ từ, có chức năng làm đơn vị cơ sở để tạo câu nhƣ từ.

Cũng nhƣ từ, cụm từ cố định nằm trong thành phần từ vựng của ngôn ngữ, cũng đƣợc hệ thống hóa trong từ điển, cũng đƣợc gọi là đơn vị định danh cơ bản của ngôn ngữ, thực hiện chức năng gọi tên các sự vật hiện tƣợng… của thực tế. Tuy nhiên, cụm từ cố định không phải là đơn vị từ vựng cơ bản, bởi vì chúng do các từ cấu tạo nên (muốn có các cụm từ cố định thì trƣớc hết phải có các từ). Từ ghép và cụm từ tự do là những đơn vị lân Luan van 15 cận, dễ lẫn với cụm từ cố định. Vì vậy, để nhận diện cụm từ cố định, cần phân biệt nó với các đơn vị này.

Phân loại cụm từ cố định tiếng Việt nhƣ sau: Cụm từ / ngữ cố định Thành ngữ Quán ngữ Ngữ định danh Ngữ cố định là đơn vị do các từ tạo nên, có cấu tạo ổn định và có tính thành ngữ. Ngữ cố định tƣơng ứng với từ ở tính hiển nhiên tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ và thực hiện chức năng tạo câu trong hoạt động. Căn cứ vào mức độ của tính thành ngữ mà ngữ cố định đƣợc chia thành quán ngữ và thành ngữ. “Quán ngữ là cách nói quen thuộc (cấu tạo có tính ổn định của ngữ cố định) dùng để đƣa đẩy, rào đón, liên kết” [13, tr.

Còn thành ngữ là đơn vị đặc trƣng của ngữ cố định về tính ổn định trong cấu tạo và giá trị biểu trƣng về mặt nghĩa. Ví dụ: quán ngữ khẩu ngữ: của đáng tội, nói khí phải, vô phép…; quán ngữ sách vở: nói tóm lại, suy rộng ra, theo tôi thì… Trong quán ngữ tính thành ngữ và tính ổn định cấu trúc không đƣợc nhƣ thành ngữ. Dáng vẻ của cụm từ tự do còn in đậm trong các cụm từ cố định thuộc loại này. Chỉ có điều, do nội dung biểu thị của chúng đƣợc ngƣời ta thƣờng xuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định và rồi ngƣời ta quen dùng nhƣ một đơn vị có sẵn.

Vũ Đức Nghiệu còn phân loại các quán ngữ của Tiếng Việt dựa vào phạm vi và tính chất phong cách của chúng. Những quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ: của đáng tội, khí vô phép, khổ một nỗi là, nói bỏ ngoài tai, nói dại đó đi, còn mồ ma, nó chết (mọt) cái là, nói…bỏ quá cho, cắn rơm cắn cỏ, chẳng nước non gì, dùng một cáu, chẳng ra chó gì, nói trộm bóng vía…Những quán ngữ hay dùng trong phong cách viết (khoa học, chính luận…) hoặc diễn giảng nhƣ: nói tóm lại, có thể nghĩ rằng, ngược lại, một mặt thì, mặt khác thì, có nghĩa là, như trên đã nói, từ đó suy ra, có thể cho rằng, như sau, như dưới đây, như đã nêu trên, sự thực là, vấn đề là ở chỗ… Luan van 16 Khó lòng có thể phân tích, phân loại quán ngữ theo cơ chế cấu tạo hoặc cấu trúc nội tại của chúng. Tuy nhiên, sự tồn tại của những đơn vị gọi là quán ngữ không thể bỏ qua đƣợc và chức năng của chúng có thể chứng minh đƣợc không khó khăn gì. Tình trạng đa tạp và đầy biến động của các quán ngữ cũng nhƣ những đặc trƣng bản tính của chúng, khiến cho ta nếu nghiêm ngặt thì phải nghĩ rằng: chúng đứng vị trí trung gian giữa cụm từ tự do với cụm từ cố định chứ không hoàn toàn nghiêng hẳn về một bên nào.

Mặc dù ở từng quán ngữ cụ thể, có thể nặng về bên này mà nhẹ bên kia một chút hay ngƣợc lại. Từ là đơn vị từ vựng cơ bản. Bên cạnh các từ, trong thành phần từ vựng của mỗi ngôn ngữ, còn tồn tại rất nhiều đơn vị từ vựng là các cụm từ, những cụm từ này có nhiều điểm giống với từ. Chúng cũng có khả năng tái hiện trong lời nói nhƣ các từ, về mặt ngữ pháp, chúng cũng có thể làm thành phần câu, về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu thị những hiện tƣợng của thực tế khách quan gắn liền với các kiểu hoạt động khác nhau của con ngƣời.

Chính vì vậy, chúng cũng đƣợc hệ thống hóa trong các từ điển. Những đơn vị từ vựng này thƣờng đƣợc gọi là những thành ngữ, quán ngữ. 209] Thành ngữ là những cụm từ mà trong cơ cấu cú pháp và ngữ nghĩa của chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó Ví dụ: Chó ngáp phải ruồi, hồn xiêu phách lạc, nói thánh nói tƣớng… “Quán ngữ là những cụm từ đƣợc dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết, đƣa đẩy, rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó. Mỗi phong cách thƣờng có những quán ngữ riêng, chẳng hạn các quán ngữ: của đáng tội, nói khi vô phép, nói bỏ ngoài tai… thƣờng đƣợc dùng trong phong cách hội thoại, các quan ngữ: như trên đã nói, thiết nghĩ, có thể nghĩ rằng, nói cách khác, thường được dùng trong phong cách sách vở.

Về nghĩa của chúng nhƣ về hình thức, các cụm từ trên chẳng khác gì các cụm từ tự do, nhƣng do nội dung của chúng đã trở thành điều thƣờng xuyên phải cần đến trong sự suy nghĩ và diễn đạt mà chúng đƣợc dùng lặp đi lặp lại nhƣ một đơn vị có sẵn. Luan van 17 Đỗ Hữu Châu phân loại ngữ cố định bằng cách: tách những ngữ trung gian với cụm từ tự do thành một loại gọi là quán ngữ, còn những trƣờng hợp còn lại, tức những trƣờng hợp trung gian với từ phức và các ngữ cố định thực sự là các thành ngữ. Ông cho rằng: quán ngữ là những đơn vị trung gian giữa ngữ cố định và cụm từ tự do.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn tốt nghiệp mang tiêu đề "Luận Văn Tốt Nghiệp: Quán Ngữ Tình Thái Trong Tiểu Thuyết Sống Mòn Của Nam Cao" của tác giả Nguyễn Tường Vi, dưới sự hướng dẫn của PGS. Bùi Trọng Ngoãn, thuộc trường Đại học Đà Nẵng, tập trung vào việc phân tích quán ngữ tình thái trong tác phẩm nổi tiếng của Nam Cao. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ thể hiện tâm tư, tình cảm của nhân vật mà còn mở ra những góc nhìn sâu sắc về bối cảnh xã hội và tâm lý con người trong văn học Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến văn học và phân tích nhân vật, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận Văn Phân Tâm Học Về Nhân Vật Trong Tác Phẩm Vũ Trọng Phụng", nơi khám phá thế giới nhân vật từ góc nhìn phân tâm học, hoặc bài viết "Bức Tranh Ngôn Ngữ Thế Giới Qua Ca Dao Tục Ngữ Nam Bộ", giúp bạn hiểu thêm về ngôn ngữ và văn hóa dân gian Việt Nam. Cuối cùng, bài viết "Tác động của biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế đến hồ thủy điện Nam Mang 3" cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về mối liên hệ giữa văn học và các vấn đề xã hội hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan.