Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nghiên cứu ngôn ngữ học khoảng ba thập niên trở lại đây, phạm trù tình thái ngày càng nhận được sự quan tâm sâu sắc, đặc biệt dưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng, ngữ nghĩa học và ngữ dụng học. Ngữ pháp truyền thống trước đây chủ yếu nhìn nhận yếu tố tình thái như một bộ phận phụ trong kết cấu cú pháp (tình thái ngữ) hoặc dừng lại ở việc phản ánh thái độ của người nói đối với đối tượng giao tiếp. Tuy nhiên, theo quan điểm ngữ pháp chức năng, cấu trúc nghĩa của một phát ngôn bao gồm hai thành phần cốt lõi song song tồn tại: nghĩa sự tình (dictum) và nghĩa tình thái (modus). Việc phân tích các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái giúp người tiếp nhận nắm bắt trọn vẹn và sâu sắc tầng thông tin mà người nói/người viết gửi gắm.

Trong hệ thống phương tiện từ vựng tiếng Việt biểu thị tình thái, các tổ hợp như "có lẽ", "dễ thường", "nói của đáng tội", "nói khi vô phép", "theo tôi thì"... thường được gọi là quán ngữ. Mặc dù xuất hiện với tần suất cao trong hoạt động giao tiếp tự nhiên và văn bản nghệ thuật, cơ cấu ngữ nghĩa cũng như vai trò biểu thị tình thái của lớp quán ngữ này vẫn chưa được khảo sát một cách thỏa đáng và có hệ thống. Đồng thời, trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc rèn luyện năng lực đọc hiểu văn bản đòi hỏi người học không chỉ nắm bắt nghĩa sự tình bề mặt mà phải giải mã được các tầng nghĩa tình thái ẩn sâu.

Xuất phát từ thực tế lý luận và ứng dụng giảng dạy, tác giả Nguyễn Tường Vi đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Sư phạm Ngữ văn với đề tài "Quán ngữ tình thái trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao" (Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, 2018, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Bùi Trọng Ngoãn). Tác phẩm Sống mòn của Nam Cao được lựa chọn làm ngữ liệu nghiên cứu điển hình vì phong cách ngôn ngữ của ông có đặc trưng dồn nén thông tin cao độ, câu văn giàu sắc thái đối thoại, giằng xé nội tâm và chứa đựng cái nhìn hiện thực đầy xót xa đối với kiếp sống mòn mỏi của người trí thức tiểu tư sản.

Văn bản khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Vận dụng lý luận ngôn ngữ học để khảo sát, phân loại và phân tích các quán ngữ biểu thị tình thái trong văn bản tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao.
  2. Đưa ra các nhận xét, đánh giá về vai trò và cơ chế biểu đạt của quán ngữ biểu thị tình thái trong việc tổ chức cấu trúc phát ngôn và liên kết văn bản nghệ thuật.
  3. Làm rõ năng lực gợi dẫn của quán ngữ tình thái trong việc khắc họa thế giới nghệ thuật của tác phẩm, bao gồm việc lột tả cá tính hóa nhân vật, tái hiện ngôn ngữ hội thoại sinh động và định hình phong cách nghệ thuật giàu yếu tố tình thái, đậm chất khẩu ngữ Bắc Bộ của nhà văn Nam Cao.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống quán ngữ tình thái xuất hiện trong câu văn của Nam Cao. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong toàn bộ văn bản nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết Sống mòn (nguyên bản có tên là Chết mòn, được sáng tác trong giai đoạn 1943–1944, gồm 20 chương).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm then chốt

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên sự phân biệt giữa tình thái trong logic học và tình thái trong ngôn ngữ học:

  • Tình thái trong logic học (Tình thái khách quan): Gắn liền với sự phân loại phán đoán, chỉ quan tâm đến giá trị chân ngụy khách quan của mệnh đề thông qua ba thông số cơ bản: tính hiện thực (có thật hay không), tính tất yếu (tất yếu hay không) và tính khả năng (có thể hay không thể xảy ra), gạt bỏ hoàn toàn yếu tố chủ quan như cảm xúc, ý chí hay thái độ của người phát ngôn.
  • Tình thái trong ngôn ngữ học (Tình thái chủ quan): Khóa luận tiếp thu luận điểm của Charles Bally về sự phân định giữa Dictum (nội dung mệnh đề/sự tình) và Modus (tình thái biểu thị thái độ, ý kiến của người nói đối với nội dung sự tình), khẳng định tình thái là linh hồn của câu, văn bản và hoạt động giao tiếp. Dẫn chiếu phân loại của F.R. Palmer và John Lyons, tình thái chủ quan được chia thành:
    • Tình thái nhận thức (Epistemic modality): Phản ánh mức độ cam kết của người nói đối với tính chân thực của mệnh đề, bao gồm ba tiểu loại: Tình thái thực hữu (factive modality), Tình thái không thực hữu/tiềm năng (non-factive modality) và Tình thái phản thực hữu (counter-factive modality).
    • Tình thái đạo lý/đạo nghĩa (Deontic modality): Phản ánh mức độ áp đặt chuẩn mực, quy tắc xã hội (bắt buộc, cấm đoán, cho phép, miễn trừ).
  • Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam: Tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu của Cao Xuân Hạo (Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng, phân định tình thái hành động phát ngôn và tình thái lời phát ngôn, tầm tác dụng của yếu tố tình thái), Hoàng Phê, Hoàng Tuệ, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (Cú pháp tiếng Việt, Thành phần câu tiếng Việt), Nguyễn Đức Dân (Logic và tiếng Việt, Logic ngữ nghĩa từ hư tiếng Việt với khuôn chất vấn $Ai\ V\ X$), Bùi Trọng Ngoãn (luận án tiến sĩ về động từ tình thái), Đoàn Thị Thu Hà (luận văn thạc sĩ về chức năng ngữ nghĩa - ngữ dụng của quán ngữ tình thái), Đỗ Hữu Châu, Vũ Đức Nghiệu, Vũ Thị Ân và Nguyễn Thị Ly Kha.

Khóa luận định vị quán ngữ là đơn vị ngữ cố định trung gian giữa cụm từ tự do và thành ngữ. Quán ngữ tình thái được xác định là những tổ hợp từ cố định, hoạt động như một khối có sẵn, đóng vai trò như một tác tử tình thái (modal operator) vừa có chức năng đưa đẩy, rào đón, liên kết văn bản, vừa biểu thị thái độ, sự đánh giá nhận thức và điều biến lực ngôn trung của người nói đối với nội dung mệnh đề.

Các phương tiện biểu thị tình thái được khóa luận tổng hợp thành ba nhóm:

  1. Phương tiện ngữ âm: Ngữ điệu, trọng âm, kéo dài giọng kết hợp trợ từ.
  2. Phương tiện ngữ pháp: Tình thái ngữ, trạng ngữ, khởi ngữ, câu tỉnh lược, câu đặc biệt, kết từ trong câu ghép.
  3. Phương tiện từ vựng: Động từ tình thái, trợ từ/tiểu từ tình thái, động từ chỉ thái độ mệnh đề, động từ ngữ vi, thán từ, phó từ/tổ hợp liên từ và các quán ngữ tình thái.

Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, tác giả sử dụng phối hợp bốn phương pháp và thủ pháp chuyên ngành ngôn ngữ học:

  • Thủ pháp tổng hợp – thống kê: Khảo sát, thu thập toàn bộ các quán ngữ tình thái trong tác phẩm, phân loại thành từng tiểu nhóm theo tiêu chí cấu tạo, vị trí cú pháp và phạm trù tình thái nhận thức, từ đó lập bảng số liệu định lượng tần suất xuất hiện.
  • Thủ pháp đối chiếu – so sánh: So sánh đặc điểm hình thức, chức năng ngữ nghĩa giữa quán ngữ tình thái với cụm từ tự do, thành ngữ và các từ hư khác trong tiếng Việt.
  • Thủ pháp cải biến: Thực hiện thao tác thay thế, chêm xen, tỉnh lược thành tố để kiểm tra tính cố định, tính thành ngữ và xác định hiệu lực biểu đạt của quán ngữ trong từng ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.
  • Phương pháp phân tích – miêu tả: Phương pháp chủ đạo dùng để giải thích cơ chế ngữ nghĩa - ngữ dụng, phân tích mối quan hệ giữa quán ngữ với mệnh đề đi kèm và làm sáng tỏ giá trị gợi dẫn nghệ thuật trong văn bản.

Nguồn dữ liệu

Toàn bộ ngữ liệu khảo sát được trích xuất trực tiếp từ 20 chương của cuốn tiểu thuyết Sống mòn của nhà văn Nam Cao.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và tổng quan về tác phẩm Sống mòn

Chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết và giới thiệu bối cảnh ngữ liệu nghiên cứu:

  • Phân tích ranh giới giữa tình thái khách quan trong logic học và tình thái chủ quan trong ngôn ngữ học; hệ thống hóa các phương tiện biểu đạt tình thái trong tiếng Việt theo ba bình diện ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng.
  • Xác định bản chất ngữ pháp - từ vựng của quán ngữ: là đơn vị ngữ cố định có tính xã hội hóa, giữ vị trí trung gian giữa cụm từ tự do và thành ngữ, không đảm nhiệm chức năng định danh sự vật mà chuyên thực hiện chức năng liên kết, đưa đẩy, rào đón và biểu thị tình thái.
  • Miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa – chức năng của quán ngữ tình thái: hoạt động như một khối biểu đạt trọn vẹn (ý nghĩa tổ hợp không bằng tổng số cộng các thành tố), mang tính chất siêu ngôn ngữ (metalanguage), phản ánh sự dao động nhận thức và có chức năng rào đón ngăn chặn phản ứng tiêu cực của người nghe (ví dụ qua khuôn chất vấn $Ai\ V\ X$ của Nguyễn Đức Dân).
  • Phân loại hình thức của quán ngữ tình thái:
    • Theo số lượng thành tố: Loại 2 thành tố (biết đâu, có lẽ, quả thực, thế mà, thế ra...); loại 3–4 thành tố (biết đâu đấy, có lẽ nào, ấy thế mà, của đáng tội, nói khí vô phép, cố nhiên là...).
    • Theo khả năng biến đổi: Nhóm có khả năng cải biến, thay thế tương đương (cứ như tôi thì / cứ như những người đó thì; theo tôi thì / theo lời y thì...) và nhóm có kết cấu cố định chặt chẽ không thể chêm xen (ai bảo, của đáng tội, có khi, thì ra...).
    • Theo vị trí phân bố: Nhóm đứng đầu phát ngôn (dẫn nhập đề tài, liên kết lập luận) và nhóm đứng cuối phát ngôn (chốt chặn, khẳng định, bổ sung sắc thái).
  • Tổng quan về nhà văn Nam Cao và hoàn cảnh ra đời của tiểu thuyết Sống mòn (sáng tác 1943–1944 phản ánh cuộc sống bế tắc, ngột ngạt của trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám), chỉ ra mối liên hệ giữa ngòi bút phân tích tâm lý sắc sảo của tác giả với việc sử dụng hệ thống quán ngữ tình thái.

Chương 2: Khảo sát quán ngữ tình thái theo các phạm trù nội dung của tình thái nhận thức trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao

Chương 2 là trọng tâm khảo sát ngữ liệu định lượng và định tính của khóa luận. Dựa trên khung phân loại ba phạm trù tình thái nhận thức (thực hữu, tiềm năng, phản thực hữu), tác giả tiến hành thống kê chi tiết nhóm quán ngữ tình thái nhận thức thực hữu trong tiểu thuyết Sống mòn.

Quán ngữ tình thái nhận thức thực hữu được xác định là những tổ hợp biểu thị sự cam kết, khẳng định dứt khoát của người nói về tính chân thực của sự tình dựa trên bằng chứng hoặc hiện thực khách quan đã xảy ra. Chúng có đặc điểm: phản ánh tiền giả định chân thực, không bắt buộc người nghe phải hồi đáp, có khả năng mang sắc thái đánh giá chủ quan (phê phán, chê trách hoặc mỉa mai), có thể kết hợp với các tiền phó từ tiếp diễn (đều, cũng, vẫn, lại) và từ chỉ quan hệ thời gian (đã, sẽ, đang, vừa, mới).

Dưới đây là bảng thống kê tần số và ý nghĩa tình thái của 30 quán ngữ tình thái nhận thức thực hữu được trích xuất từ ngữ liệu Sống mòn:

STT Quán ngữ tình thái nhận thức thực hữu Số lần xuất hiện Ý nghĩa tình thái và chức năng ngữ dụng trong văn bản
1 Cố nhiên là P 29 Khẳng định dứt khoát tính chân thực của sự tình; gạt bỏ, phủ nhận ý kiến đối lập.
2 Thế mà P 27 Biểu thị điều nêu ra có tính bất thường, trái với điều đáng lẽ xảy ra; thể hiện thái độ đánh giá sự việc trái dự đoán.
3 Thế là P 21 Biểu thị sự tình tất yếu tiếp nối ngay sau sự tình trước; nhấn mạnh sự hoàn thành và kết quả tất yếu.
4 Đã đành P / Đã đành rằng P / Đã đành là P 20 Biểu thị một điều được coi là dĩ nhiên của sự thật, làm tiền đề để bổ sung một sự tình khác quan trọng hơn.
5 Thật ra P 19 Biểu thị sự tình nêu ra mới là chân tướng sự thật, đối lập với điều ngộ nhận trước đó.
6 Ấy thế mà P / Ấy thế P 15 Giả định sự tồn tại của phát ngôn trước; biểu thị sự đánh giá về tính chất bất thường, nghịch lý của sự tình.
7 Thế thì P 13 Biểu thị giải pháp cần làm, kết luận tất yếu rút ra từ tiền đề ở phát ngôn trước.
8 Ấy là P (ấy thế là P) 12 Biểu thị sự tình trở thành hiện thực tất yếu; đánh giá sự biến đổi làm thay đổi hành động.
9 P mà lại 10 Đưa ra lí lẽ giải thích, xác nhận điều nêu ở phát ngôn trước là đương nhiên đúng.
10 Thì ra P / Thế ra P 9 Biểu thị sự thật vừa mới nhận ra, điều chỉnh nhận thức trước đó, thể hiện sự ngạc nhiên.
11 Ai bảo P 8 Giả định quan hệ nhân quả; biểu thị sự giải thích kèm theo thái độ quy lỗi, chê trách, phê phán.
12 Nói thật P 5 Giả định điều nói ra là thông tin chân thực người nghe chưa biết; tăng tính chân thực.
13 Ai chả thế P 4 Nhấn mạnh sự tình là lẽ phổ biến, hiển nhiên; mang sắc thái mỉa mai, chế giễu.
14 Rõ ràng P 3 Khẳng định sự thật hiển nhiên đến mức ai cũng nhận biết được dễ dàng.
15 Nói khí vô phép / Vô phép P 3 Lời rào đón, xin lỗi trước để tránh sự khiếm nhã, tế nhị khi nói ra sự thật tiêu cực.
16 Biết ngay mà 2 Khẳng định sự việc xảy ra hoàn toàn trùng khớp với nhận định, dự đoán từ trước.
17 Quả thật P 2 Xác nhận tuyệt đối tính chân thực của sự tình, không còn nghi ngờ.
18 Dù có thế nào P 2 Khẳng định, cam kết sự tình chắc chắn diễn ra bất chấp mọi điều kiện.
19 Được cái (là) P 2 Đánh giá mặt tích cực nổi bật nhằm bù đắp cho những hạn chế, tiêu cực khác.
20 Tóm lại P 2 Dẫn nhập nội dung đúc kết, bao quát những điều đã trình bày.
21 Nói của đáng tội 2 Thanh minh, giải thích thêm sự thật mang tính hạn chế nhưng hoàn toàn có thật để tăng độ tin cậy.
22 Quả có như thế P 1 Xác nhận tuyệt đối sự tình có thật kèm hàm ý mỉa mai, châm biếm.
23 Tất nhiên là P 1 Thừa nhận sự tình là tất yếu khách quan, không thể khác được.
24 Sự thật là P 1 Khẳng định điều sắp nêu ra là thực tế cần được làm sáng tỏ.
25 P chứ còn gì nữa 1 Phản bác nghi ngờ của đối thoại; tái khẳng định sự tình là tuyệt đối đúng.
26 Ít cùng ra P 1 Khẳng định mức độ tối thiểu hợp lý cần phải đạt đến.
27 Nói chung P 1 Tổng kết bao quát, bỏ qua các yếu tố cá biệt, giảm nhẹ tính khẳng định tuyệt đối.
28 Suy rộng ra P 1 Dẫn nhập ý kiến suy luận logic mở rộng từ tiền đề đã nêu.
29 Khổ một nỗi P 1 Khẳng định sự tình thực tế mang tính tiêu cực, gây cản trở.
30 Nói cho đúng P 1 Điều chỉnh phát ngôn trước để đảm bảo tính chuẩn xác và khách quan hơn.

Bên cạnh nhóm thực hữu, khóa luận phân loại và mô tả hoạt động của nhóm quán ngữ tình thái tiềm năng (theo tôi thì, nghe đâu, nghe nói, xem ra, xem chừng, hình như, dường như... - biểu thị phỏng đoán, ước lượng chưa chắc chắn) và nhóm quán ngữ tình thái phản thực hữu (làm như, chẳng lẽ, đáng lẽ, không có lẽ, chẳng nhẽ... - biểu thị sự phủ định, gạt bỏ tính chân thực của sự tình).

Chương 3: Năng lực gợi dẫn của quán ngữ tình thái đối với thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Sống mòn

Chương 3 phân tích giá trị thẩm mỹ và chức năng nghệ thuật của quán ngữ tình thái trong việc xây dựng thế giới hình tượng của tác phẩm:

  • Tái hiện bức tranh hiện thực ngột ngạt và bi kịch sống mòn:
    • Nhóm quán ngữ thực hữu (cố nhiên là, thế mà, thật ra, ai bảo...) phơi bày hiện thực trần trụi, những quy luật sinh tồn khắc nghiệt đè nặng lên kiếp người (miêu tả cảnh nghèo túng, miếng ăn, tiền bạc, sự bất công).
    • Nhóm quán ngữ tiềm năng (có lẽ, hình như, xem chừng...) phản ánh trạng thái bấp bênh, hoang mang, sự dao động và bất lực của con người trước lý tưởng sống bị thui chột.
    • Nhóm quán ngữ phản thực hữu (chẳng lẽ, đáng lẽ, làm như...) thể hiện thái độ cay đắng, xót xa và sự phản kháng yếu ớt của nhà văn trước thực tại phi lý.
  • Cá tính hóa ngôn ngữ và tâm lý nhân vật:
    • Nhân vật Thứ: Sử dụng dày đặc các quán ngữ trí tuệ, suy tư (thật ra, cố nhiên là, đã đành, ấy thế mà) thể hiện quá trình độc thoại nội tâm giằng xé, tự vấn, tự phẫu thuật tư tưởng và khát vọng vươn lên nhân cách cao đẹp.
    • Nhân vật San và Oanh: Thể hiện ngôn ngữ đốp chát, tính toán thực dụng qua các quán ngữ hội thoại mang tính khẳng định hoặc chỉ trích (ai bảo, thế thì, rõ ràng, làm gì...).
    • Các nhân vật bình dân (Mô, vợ chồng ông Học): Sử dụng các quán ngữ khẩu ngữ chân chất, rào đón (nói khí vô phép, của đáng tội, ấy thế mà...) phản ánh tâm lý e dè, cam chịu nhưng vẫn le lói tình nghĩa con người.
  • Khắc họa phong cách nghệ thuật Nam Cao: Khẳng định đặc trưng câu văn Nam Cao là lối viết giàu tính đối thoại nội tâm, đa thanh, kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ văn học trau chuốt và lớp khẩu ngữ đời sống sinh động của vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Khóa luận đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ bản chất ngôn ngữ học của quán ngữ tình thái như một công cụ ngữ pháp - ngữ dụng đặc thù trong tiếng Việt, có khả năng vừa định hình cấu trúc câu, vừa điều biến thái độ của người nói.
  2. Khảo sát và lập danh mục chi tiết 30 quán ngữ tình thái nhận thức thực hữu trong Sống mòn, cung cấp số liệu tần số cụ thể với các tổ hợp xuất hiện cao nhất: Cố nhiên là (29 lần), Thế mà (27 lần), Thế là (21 lần), Đã đành (20 lần), Thật ra (19 lần), Ấy thế mà (15 lần), Thế thì (13 lần), Ấy là (12 lần), P mà lại (10 lần), Thì ra / Thế ra (9 lần), Ai bảo (8 lần).
  3. Chứng minh cơ chế tác động của các quán ngữ tình thái trong việc liên kết cấu trúc đề - thuyết, tạo lập các phát ngôn siêu ngôn ngữ và vận hành khuôn chất vấn trong đối thoại nghệ thuật.

Đóng góp về mặt khoa học và phương pháp

  • Về mặt lý luận: Khóa luận củng cố và làm rõ hơn cách hiểu về quán ngữ biểu thị tình thái trong tiếng Việt; mở rộng phạm vi nghiên cứu từ việc khảo sát hình thức tĩnh sang phân tích chức năng ngữ dụng - liên chủ thể gắn liền với ngữ cảnh giao tiếp và ý đồ nghệ thuật cụ thể.
  • Về mặt thực tiễn và tư liệu: Đề tài cung cấp bảng thống kê định lượng chuẩn xác về các quán ngữ tình thái trong tác phẩm của một tác giả văn học tiêu biểu, đóng vai trò như nguồn cứ liệu xác thực phục vụ nghiên cứu phong cách học ngôn ngữ.
  • Đóng góp cho giáo dục: Cung cấp phương pháp tiếp cận ngôn ngữ học chức năng ứng dụng vào việc dạy học đọc hiểu văn bản văn học theo chương trình đổi mới, giúp người học nhận biết và giải mã các tầng ý nghĩa biểu cảm, thái độ của tác giả và nhân vật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Do giới hạn về dung lượng và thời gian thực hiện của một khóa luận tốt nghiệp đại học, phạm vi khảo sát mới chỉ tập trung vào văn bản một tác phẩm đơn lẻ (Sống mòn).
  • Số liệu thống kê định lượng chi tiết theo từng đơn vị quán ngữ trong văn bản chủ yếu tập trung sâu vào nhóm quán ngữ tình thái nhận thức thực hữu, trong khi các nhóm tiềm năng và phản thực hữu chủ yếu được miêu tả định tính theo bố cục phân tích.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi khảo sát hệ thống quán ngữ tình thái trên toàn bộ di sản sáng tác của Nam Cao (bao gồm truyện ngắn, phóng sự, bút ký) để có cái nhìn toàn diện về phong cách ngôn ngữ của nhà văn.
  • Triển khai nghiên cứu so sánh đối chiếu việc sử dụng quán ngữ tình thái giữa Nam Cao với các tác giả văn xuôi hiện thực phê phán cùng thời (như Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng).

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn thiết thực đối với các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết phân loại tình thái nhận thức (thực hữu, tiềm năng, phản thực hữu) của F.R. Palmer kết hợp với lý thuyết ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo, Nguyễn Văn Hiệp và phương pháp phân tích khuôn chất vấn của Nguyễn Đức Dân.
  • Sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn và giáo viên phổ thông: Vận dụng bảng giải nghĩa ngữ dụng của 30 quán ngữ tình thái thực hữu vào việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu, giải mã chiều sâu tâm lý nhân vật và phân tích phong cách nghệ thuật Nam Cao trong chương trình Ngữ văn.
  • Người nghiên cứu phong cách học văn bản: Tham khảo mô hình tích hợp phương pháp thống kê ngôn ngữ học định lượng với phân tích thi pháp - nghệ thuật văn học.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân loại quán ngữ tình thái nhận thức thành những tiểu loại nào và dựa trên cơ sở lý thuyết của ai?
Khóa luận phân loại quán ngữ tình thái nhận thức thành ba tiểu loại: Quán ngữ tình thái nhận thức thực hữu (factive), Quán ngữ tình thái nhận thức không thực hữu/tiềm năng (non-factive), và Quán ngữ tình thái nhận thức phản thực hữu (counter-factive). Khung phân loại này dựa trên hệ thống lý thuyết về tình thái nhận thức của học giả F.R. Palmer, được các nhà ngôn ngữ học Việt Nam như Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Minh Thuyết kế thừa, phát triển.

2. Quán ngữ tình thái nhận thức thực hữu nào xuất hiện nhiều nhất trong tiểu thuyết Sống mòn và đảm nhiệm chức năng gì?
Quán ngữ xuất hiện nhiều nhất là "Cố nhiên là P" với 29 lần xuất hiện. Về mặt ngữ nghĩa - chức năng, quán ngữ này biểu thị ý khẳng định dứt khoát của người nói đối với tính chân thực của điều được nói đến ở mệnh đề $P$, đồng thời có chức năng gạt bỏ hoặc phủ nhận các ý kiến trái chiều của đối phương trong giao tiếp.

3. Quán ngữ biểu thị tình thái được phân loại theo hình thức cú pháp như thế nào?
Về mặt hình thức, quán ngữ được phân loại theo ba tiêu chí:

  • Số lượng thành tố: Loại 2 thành tố (biết đâu, có lẽ, thế mà...) và loại 3–4 thành tố (nói khí vô phép, của đáng tội, cố nhiên là...).
  • Khả năng cải biến: Nhóm có thể thay thế thành tố tương đương (theo tôi thì / theo ý tôi...) và nhóm có cấu trúc khối chặt chẽ không thể chêm xen (ai bảo, thì ra, của đáng tội...).
  • Vị trí phân bố: Nhóm có vị trí cố định ở đầu phát ngôn (ai bảo, ấy thế mà, thì ra...) và nhóm đứng ở cuối phát ngôn (P mà lại, P đã đành, P là cùng...).

4. Ý nghĩa sự tình và ý nghĩa tình thái của quán ngữ "Ai bảo P" được phân tích ra sao qua ngữ liệu Sống mòn?
Qua ngữ cảnh phát ngôn "Ai bảo cuộc đời cứ khắt khe vậy?", quán ngữ "Ai bảo P" được phân tích thành hai tầng nghĩa:

  • Nghĩa sự tình: Giải thích điều đã xảy ra theo mối quan hệ nhân - quả (vì cuộc đời khắt khe nên hạnh phúc như cái chăn hẹp, người này co thì người kia hở).
  • Nghĩa tình thái: Người nói thể hiện thái độ quy lỗi, phê phán, chê trách trước hậu quả tiêu cực của sự tình, đồng thời vận dụng tiền giả định chân thực đã được người nghe ngầm hiểu.

5. Tác giả đã sử dụng những phương pháp và thủ pháp nghiên cứu cụ thể nào?
Tác giả đã sử dụng bốn phương pháp và thủ pháp nghiên cứu ngôn ngữ học chính: Thủ pháp tổng hợp – thống kê (khảo sát, lập bảng tần số); Thủ pháp đối chiếu – so sánh (đối chiếu quán ngữ với cụm từ tự do và thành ngữ); Thủ pháp cải biến (thay thế, chêm xen thành tố để kiểm tra tính cố định); và Phương pháp phân tích – miêu tả (phương pháp chủ đạo để phân tích ngữ nghĩa, ngữ dụng và phong cách nghệ thuật).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Tường Vi đã giải quyết một cách khoa học và thấu đáo vấn đề quán ngữ tình thái trong mối liên hệ với lý thuyết ngữ pháp chức năng và ngữ dụng học. Bằng việc khảo sát định lượng chi tiết trên văn bản tiểu thuyết Sống mòn, công trình đã làm sáng tỏ cấu trúc ngữ nghĩa, đặc điểm hình thức và tần số xuất hiện của hệ thống quán ngữ tình thái, đặc biệt là nhóm tình thái nhận thức thực hữu. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cứ liệu thực chứng quý giá cho việc tìm hiểu phong cách ngôn ngữ sắc sảo, giàu tính khẩu ngữ của nhà văn Nam Cao mà còn mở ra hướng tiếp cận giàu tiềm năng cho hoạt động giảng dạy đọc hiểu văn bản văn học trong nhà trường.