Chương 1: Khái lược về người kể chuyện và truyện ngắn Nguyễn Minh Châu Chương 2: Ngôi kể và điểm nhìn của người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu Chương 3: Ngôn ngữ, giọng điệu và phương thức trần thuật của người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 11 z Chƣơng 1 KHÁI LƢỢC VỀ NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU 1. Khái lƣợc về tự sự học và ngƣời kể chuyện 1. Tự sự học Với thế giới, tự sự học - Narratology từ lâu đã không còn là một thuật ngữ xa lạ. Những vấn đề lý thuyết về tự sự học đã được hình thành một cách hệ thống và tự sự học ngày càng mở rộng, phát triển, nó đã khẳng định vai trò quan trọng của một công cụ đắc dụng trong việc khám phá, lý giải thế giới nghệ thuật ngôn từ.
Ở Việt Nam, ngay từ buổi đầu giới thiệu và dịch thuật tự sự học, việc xác định thuật ngữ, chọn dùng khái niệm tương đương đòi hỏi những cố gắng nhất định. Trong tình hình mà một số thuật ngữ quan trọng như tự sự, rồi tự sự học cũng như trần thuật, văn bản, diễn ngôn, thoại ngữ. mà hiện nay ta dùng đều là những từ Hán Việt thì việc tham khảo các học giả Trung Quốc có lẽ cũng là một việc có ích. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử có nói: “Chúng ta cần xây dựng cho mình một hệ thống thuật ngữ tiếng Việt về tự sự học”.
Liên hệ đến Trung Quốc, ông nói thêm: “Ngay thuật ngữ Narratology người Trung Quốc hiện nay vẫn có hai cách dịch. Tự sự học và Tự thuật học (tự = kể, thuật = kể). Khái niệm “tự thuật học” dùng tương đồng với “tự sự học”, nhưng trọng tâm có lúc có phần khác nhau. “Tự thuật học” nghiêng về nghiên cứu phương diện hành vi kể, lời kể, còn “tự sự học” nghiên cứu cả hai mặt: hành vi lời kể và cấu trúc sự kiện” [54, tr.
Lại Nguyên Ân đề nghị cách gọi trần thuật học (tr. 146, bài Về việc mở ra môn trần thuật học trong ngành nghiên cứu văn học ở Việt Nam trong sách Tự sự học (2007), Nxb ĐHSP, Hà Nội). Ông viết: “Trần thuật học (narratologie, naratology) được đề xuất cuối những năm 60 do việc xem xét lại học thuyết Chủ nghĩa cấu trúc từ quan điểm lí thuyết giao tiếp về bản chất của nghệ thuật và các dạng thức tồn tại của nó” [54, tr. 12 z Thời kỳ Đổi mới, các nhà nghiên cứu lý luận văn học Việt Nam đã nhận thấy tự sự học ngày càng chứng tỏ tính hữu dụng của nó đối với văn học nghệ thuật.
Trước hết các nhà nghiên cứu Việt Nam đã nỗ lực dịch và giới thiệu những vấn đề lý thuyết tự sự học ở các phương diện thuộc về lịch sử phát triển, các xu hướng chung - riêng, các khái niệm của tự sự học đương đại,. có thể kể đến các công trình dịch thuật như: Độ không của lối viết của R.Barthes do Nguyên Ngọc dịch; Cơ sở của ký hiệu học của R.Barthes do Trịnh Bá Đĩnh trích dịch [41, tr. Tự sự học hiện đại cố gắng khu biệt narrative và naration như là khu biệt giữa “chuyện kể ra” và “hoạt động kể chuyện”. Người ta giả định rằng mọi chuyện trên đời cho tới trước lúc được kể nên lời, là cứ tồn tại trong trạng thái “vốn thế”.
Và những sự-việc tồn tại “vốn thế” đó không phải là narrative (tạm gọi là truyện kể, hoặc chuyện kể - trong cách nói “chuyện kể rằng.”) mà là story (tạm gọi là chuyện, câu chuyện, trong cách nói “có một câu chuyện. Các nhà tự sự học giải cấu trúc cho rằng chúng ta (cả độc giả lẫn nhà viết truyện) chỉ có thể tiếp xúc với câu chuyện thông qua thoại ngữ tự sự đã sản sinh nên nó. Họ cho rằng tự sự học giả định sự kiện tồn tại trước thoại ngữ nói về hoặc biểu đạt chúng. Vì vậy đã kiến lập nên một trật tự tầng bậc.
Thế nhưng tác phẩm tự sự trong quá trình vận tác thường lật nhào trật tự đó. Các tác phẩm tự sự không phải là biểu đạt sự kiện như là biểu đạt sự thực đã biết, mà là biểu đạt chúng như là sản vật của sức mạnh hay yêu cầu của thoại ngữ. Tự sự học phân biệt hai hiện tượng ai đang lên tiếng kể (một giọng nói, một tiếng nói) và ai đang quan cảm thế giới (một trường nhìn, một tiêu điểm) trong trần thuật. Trong các thể loại văn học, truyện ngắn là thể loại văn học đặc biệt.
Mặc dù là hình thức tự sự cỡ nhỏ nhưng nó lại luôn có "sức chứa" và "sức mở lớn", "sự sáng tạo của truyện ngắn là không cùng" (Vương Trí Nhàn). Vai trò quan trọng của truyện ngắn trong đời sống văn học hiện đại là khả năng khám phá đời sống, bộc lộ tư tưởng, tình cảm và tài năng của nhà văn. 13 z Trong địa hạt tác phẩm tự sự nói chung và truyện ngắn nói riêng thì người kể chuyện đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Nó không chỉ là yếu tố liên kết, dẫn dắt câu chuyện, môi giới để bạn đọc tiếp cận với thế giới nghệ thuật mà còn có chức năng tổ chức, sắp xếp các sự kiện trong tác phẩm.
Vì vậy, tìm hiểu các phương diện người kể chuyện giúp người đọc tiếp cận được với những giá trị văn chương đích thực. Người kể chuyện Người kể chuyện (narrator) là một thuật ngữ công cụ của tự sự học, được xem là khái niệm trung tâm nhất trong phân tích trần thuật. Tuy nhiên xung quanh khái niệm này còn có rất nhiều quan điểm khác nhau. Khi tiếp cận về vấn đề người kể chuyện, chúng tôi cho rằng người kể chuyện chính là chủ thể của những lời kể về câu chuyện nào đó trong tác phẩm văn học.
Chủ thể đó là một nhân vật đặc biệt do nhà văn sáng tạo ra để dẫn dắt, gợi mở hay sắp đặt câu chuyện được kể. Người kể chuyện có thể là con người của quá khứ, hiện tại hoặc tương lai, nhưng là người kể lại câu chuyện trong tác phẩm bằng một chỗ đứng, một điểm nhìn phù hợp với ý đồ sáng tạo của nhà văn. Đó là "kẻ được sáng tạo ra để mang lời kể" [39, tr. Vì vậy trong tác phẩm tự sự "không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện.
Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện" (Todozov) [39, tr. Những quan niệm khác nhau trong giới nghiên cứu về người kể chuyện đưa đến những cách phân loại khác nhau về hình tượng này. Có thể phân chia các dạng thức người kể chuyện trên tiêu chí của điểm nhìn, dựa vào mối quan hệ của người kể chuyện với câu chuyện, hay dựa vào quyền năng của người kể chuyện. chúng tôi cho rằng dù được phân chia theo tiêu chí nào thì cái đích đạt tới cũng là chỉ ra vai trò của người kể chuyện trong câu chuyện.
Do đó người kể chuyện cũng có thể khoác lên mình nhiều vai trò khác nhau trong mỗi câu chuyện. Và tùy thuộc vào ý đồ sáng tạo của nhà văn mà người kể chuyện sẽ xuất hiện ở những mức độ khác nhau trong tác phẩm. Người kể chuyện có thể can thiệp một cách trực tiếp vào văn bản với vai trò của người tổ chức cấu trúc câu chuyện được kể, người kể chuyện có thể chỉ đảm nhiệm những chức năng đơn thuần là kể chuyện hoặc có thể đảm nhiệm 14 z bất cứ chức năng nào mà người kể chuyện có thể đảm nhiệm, kể cả khi nó chỉ xuất hiện một cách hàm ẩn. Khi tìm hiểu về người kể chuyện, ngoài việc xem xét người kể chuyện như một hình thức nghệ thuật nhằm mang lại hiệu quả cho tác phẩm, chúng tôi cho rằng, cần xem xét nó trong mối quan hệ với tác giả văn bản.
Bởi suy cho cùng "Cơ sở nghệ thuật của hình tượng tác giả trong văn học chính là tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật: văn bản của tác phẩm bao giờ cũng là lời của người trần thuật, người kể chuyện, hoặc nhân vật trữ tình. Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng ra hình tượng người phát ngôn văn bản ấy với giọng điệu nhất định" [17; tr. Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã đưa ra định nghĩa, khái niệm về người kể chuyện như: Tz. Kayser, Manfred Jahn, Genette,… thông qua đó, chúng tôi xin tổng kết như sau: Đó là hình tượng nghệ thuật được nhà văn sáng tạo nên và trở thành công cụ trong trần thuật của văn xuôi tự sự, góp phần thể hiện quan điểm, cách nhìn của người viết về vấn đề được đề cập đến trong tác phẩm văn học.
Người kể chuyện phục vụ đắc lực cho nhà văn trong quá trình dẫn chuyện; tổ chức các sự kiện, tình tiết và thể hiện tình cảm, thái độ của không chỉ tác giả mà còn của nhân vật. Người kể chuyện trong văn xuôi không phải là một phạm trù thuần nhất mà là một thể đa diện. Nó có liên quan mật thiết đến những vấn đề khác bao gồm ngôi kể, điểm nhìn và ngôn ngữ, giọng điệu. Trong Trần thuật học - nhập môn lý thuyết trần thuật, Manfred Jahn đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về người kể chuyện.
Theo đó, ông tiến hành phân loại người kể chuyện thành người kể chuyện ẩn tàng và người kể chuyện lộ diện. Người kể chuyện lộ diện: anh/cô ta tự nhắc đến mình ở ngôi thứ nhất, trực tiếp hoặc gián tiếp hướng đến người nghe, sẵn sàng bộc lộ thái độ thân thiết với người đọc nếu cần. Người "xâm nhập vào câu chuyện để nói lên những chú giải, là người có một giọng điệu đặc trưng". Người kể chuyện ẩn tàng không bày tỏ những đặc điểm công khai như trên.
Người kể chuyện loại này không 15 z hướng đến người nhận hay người nghe, có giọng điệu và phong cách ít nhiều trung tính; không sẵn sàng bộc lộ dù rất cần thiết; không xâm nhập hay can thiệp vào dòng chảy của câu chuyện, để cho câu chuyện vận động theo đúng logic mà nó phải trải qua, không bình luận thêm, không định hướng độc giả. Trần thuật hàm ẩn có thể dễ dàng nhận ra khi hành động được nhìn qua con mắt của người quan sát từ bên trong. Ứng với hai kiểu người kể chuyện trên, Genette đề xuất một cách phân loại người kể chuyện dựa trên những tiêu chí khác. Vấn đề người kể chuyện được đặt trong mối tương quan và mối quan hệ với tiêu cự, tiêu điểm, thức, giọng, tần suất.
Xuất phát từ giọng, tức là "ai kể?" G.Genette đưa ra bốn kiểu kể chuyện tương ứng với bốn kiểu người kể chuyện.