CHƯƠNG 1: BIỂU TƯỢNG VÀ TÁC GIẢ TRƯỜNG CA TRẦN ANH THÁI 1.1 Lý thuyết biểu tượng 1.1 Khái niệm biểu tượng Biểu tượng (tiếng anh là symbol, tiếng Pháp là symbole). Triết tự hai chữ biểu tượng ta có thể hiểu như sau: Biểu là bày ra ngoài, tượng là sự vật hiện tượng cụ thể được dùng để tượng trưng cho cái cụ thể nào đó. Biểu tượng là hình ảnh, sự vật cụ thể bày ra ngoài, dùng để tượng trưng cho cái cụ thể. Biểu tượng có ngh a rộng và hẹp: theo ngh a rộng, văn học phản ánh đời sống b ng hình tượng nghệ thuật.
Đặc điểm cơ bản của hình tượng nghệ thuật là sự tái hiện thế giới thông qua lăng kính chủ quan của người nghệ s. Nhưng hình tượng cũng là hiện tượng đầy tính ước lệ. B ng hình tượng, nghệ thuật sáng tạo ra thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng. Vậy, biểu tượng là đặc trưng phán ánh cuộc sống b ng hình tượng của văn học nghệ thuật.
Theo ngh a hẹp biểu tượng là phương thức chuyển ngh a của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt, có khả năng vừa khái quát được bản chất của sự vật hiện tượng vừa thể hiện một quan niệm, tư tưởng, triết lí sâu xa về con người cuộc đời. Biểu tượng bắt đầu được định danh và chú ý từ Arixtot, trải qua quá trình lịch sử nghiên cứu lâu dài với các tác giả như Heghen, Anault,… cho đến nay đã hình thành một hệ thống lý thuyết hết sức phong phú, đa dạng nhưng cũng vô cùng phức tạp. Đối với biểu tượng để có một khái niệm thật chính xác về nó quả là một điều không hề đơn giản, đúng như nhà nghiên cứu Jean Chevalier đã nhận xét: “Không cách gì định ngh a 12 được biểu tượng. Tự bản chất của nó, nó đã phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp lại các thái cực trong cùng một ý niệm [26].
Hơn nữa, biểu tượng không chỉ là thuật ngữ sử dụng riêng cho mảng nghiên cứu về văn hóa văn học, mà biểu tượng còn là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học khác. Bởi vậy, trước khi đi đến một kết luận đầy đủ về biểu tượng, chúng tôi xin được khảo sát các cách hiểu về biểu tượng ở những ngành khoa học khác nhau và đặc biệt là trong l nh vực văn hóa và văn học. Việc làm này giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về biểu tượng. Theo từ điển Triết học “Biểu tượng là hình ảnh trực quan – cảm tính, khái quát về các sự vật hiện tượng của hiện thực, được giữ lại và tái tạo lại trong ý thức và không có sự tác động trực tiếp của các sự vật và các hiện tượng đến giác quan.
Như vậy, nhìn từ góc độ triết học, biểu tượng thuộc về giai đoạn tiền ý thức, nó xuất phát từ hiện thực khách quan và được tái tạo lại trong não con người. Với cách hiểu như vậy, tất cả các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan sẽ trở thành biểu tượng khi con người tiếp nhận b ng ý thức chủ quan của mình. Thế giới ấy có phong phú đa dạng hay không tùy thuộc vào năng lực của m i cá nhân khi tiếp nhận. Bởi vậy, trong m i chúng ta ẩn chứa một kho biểu tượng vô tận, đúng như Guy Schoello nhận định: “Sẽ là quá ít, nếu nói r ng chúng ta sống trong một thế giới biểu tượng, một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta [26].
Dưới góc độ Tâm lý, theo từ điển tiếng việt “Biểu tượng là một hiện tượng tâm sinh lý do một số sự việc ở ngoài tác động vào giác quan khiến ý thức nhận biết được sự vật, kích thích hoặc nhìn thấy hình ảnh của nó trở lại trong trí tuệ hay ý thức. Như vậy, từ góc độ tâm lí biểu tượng chỉ có thể xuất hiện khi có sự vật hiện tượng ở ngoài tác động vào giác quan con người và nó là hình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính trực quan. Tâm lý học coi biểu tượng là khâu liên kết giữa các giai đoạn nhận thức của cảm giác trực quan với tư duy trừu tượng, góp phần tạo tiền đề cho giai đoạn nhận thức lý tính. Nó cũng giúp con người nhận biết và hiểu sâu sắc về những thuộc tính, bản 13 chất cũng như tính quy luật của sự vật hiện tượng.
Nhưng dù là hình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính, biểu tượng v n chưa phải là hình thức đóng vai trò quyết định đối với việc khám phá và phản ánh thế giới. Với đặc điểm như vậy, biểu tượng luôn gắn liền với trí tưởng tượng của con người và nó có thể chuyển hóa thành biểu tượng trong l nh vực nghệ thuật, đặc biệt là l nh vực thơ ca. Theo quan điểm Ngôn ngữ học, S.Poocxo đã đưa ra khái niệm về biểu tượng: “Biểu tượng là một kí hiệu tùy thuộc vào đối tượng mà nó biểu hiện do một luật lệ thông thường là sự liên tưởng chung, là cho biểu tượng ấy được xem như tùy thuộc vào đối tượng ấy .Yanggo cho r ng: “Biểu tượng là cái nhìn thấy được, mang một kí hiệu diễn tả cái không thấy được. Nhìn chung các nhà ngôn ngữ học cho r ng, biểu tượng cũng như tín hiệu ngôn ngữ, là sự thống nhất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt.
Cái biểu đạt là lớp vỏ bên ngoài hay phương thức thể hiện, cái được biểu đạt là ý ngh a bên trong hay giá trị nội dung tư tưởng. Mối quan hệ giữa hai bình diện này là có lý do dựa trên quan hệ liên tưởng, tưởng tượng và tính ước lệ. Cũng nhờ mối quan hệ này mà biểu tượng thường chứa đựng trong nó nhiều tầng ý ngh a sâu xa, hàm ẩn. Từ góc độ Văn hóa, m i nền văn hóa đều được cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau, và một trong những yếu tố đó chính là biểu tượng.
Biểu tượng cũng là một trong những cơ sở để xác định đặc trưng của các nền văn hóa với nhau. Theo từ điển về văn hóa của Unessco đã khẳng định: “Văn hóa là tập hợp hệ thống biểu tượng, nó quy ước về ứng xử của con người và làm cho số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ thành một cộng đồng riêng. Vì vậy, biểu tượng là vấn đề được các nhà văn hóa đặc biệt quan tâm. Jean Chevalier đã chỉ rõ “mọi nền văn hóa đều có thể xem như tập hợp các hệ thống biểu tượng trong đó xếp hàng đầu là ngôn ngữ, quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế,… , và ông cũng khẳng định “bản chất khó xác định và sống động của biểu tượng, 14 đồng thời “phân biệt rạch ròi hình ảnh tượng trưng với tất cả những hình ảnh khác mà nó quá thường hay bị l n lộn [26;XVII] như: biểu hiện, phúng dụ, ẩn dụ,… Những lối diễn đạt b ng hình ảnh này chỉ là những dấu hiệu, không vượt quá mức độ biểu ngh a, còn biểu tượng luôn luôn “rộng hơn hơn cái ý ngh a được gán cho nó một cách nhân tạo, nó có một sức vang cốt yếu và tự sinh [26;XIX].
Biểu tượng luôn mang trong nó tính cách tân, biến đổi không ngừng, mãi mãi gợi đến những cái bất tận, vô biên. Đồng thời m i thời đại, m i dân tộc lại có những biểu tượng của riêng mình, nó hướng tới biểu đạt những tầng vỉa cảm xúc, thể hiện rõ nét âm hưởng dân tộc và thời đại. Bên cạnh đó biểu tượng vừa mang tính ổn định vừa chứa đựng một tiềm năng về sự biến đổi và phát triển. Ổn định vì các nền văn hóa khác nhau bao giờ cũng có một tập hợp hệ thống biểu tượng khác nhau.
Mặt khác, trong dòng chảy văn hóa ý ngh a của m i biểu tượng cũng như cả hệ thống luôn được bồi đắp những ý ngh a mới cùng những biến đổi và chuyển hóa của thời đại. Chẳng hạn, ở cấp độ đầu tiên là m u gốc khi đi vào đời sống văn hóa m i m u gốc lại sản sinh ra những biểu tượng văn hóa khác nhau, ví như m u gốc nước sẽ sản sinh những biểu tượng khác nhau như: biển, sông, suối, giọt sương,. Cho nên, không thể xem xét biểu tượng như một yếu tố t nh mà phải luôn luôn nhìn nó trong quá trình vận động, trong sử dụng và tái tạo nó của đời sống xã hội. Từ góc độ văn học, biểu tượng là phương tiện tạo hình và biểu đạt có tính đa ngh a trong văn học.
Văn học là nghệ thuật ngôn từ trong đó ngôn từ nghệ thuật không chỉ là vật liệu chuyên chở nội dung mà nó có thể làm nảy sinh tư tưởng. Muốn vậy, nhà văn phải mã hóa ngôn từ, tạo ra hình thức lạ hóa nh m tổ chức một thế giới nghệ thuật in đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo và xuất hiện những hình tượng nghê thuật có giá trị. Như vậy, trong văn học, biểu tượng chính là hình tượng được hiểu ở bình diện kí hiệu – kí hiệu chứa tính đa ngh a của hình tượng. Biểu tượng văn học mang nhiều tầng sâu ý ngh a và có tính khái quát cao, soi sáng và làm rõ hình tượng.
Cũng chính vì biểu 15 tượng mang tính đa ngh a nên không thể giải mã chúng chỉ b ng n lực của lí trí mà đòi hỏi phải có sự thâm nhập vào bên trong với sự m m cảm trong liên tưởng, tưởng tượng. Để giải mã ý ngh a của biểu tượng cần đặt chúng trong mối quan hệ với cả ngữ cảnh (ngữ cảnh lời nói và ngữ cảnh văn hóa). Bởi vì các mối quan hệ này tạo nên hàng loạt sự tương tác trong môi trường văn hóa – ngôn ngữ, giúp cho chúng ta nhận diện được ý ngh a cũng như sự biến đổi ý ngh a nếu chỉ dựa vào các thành phần nội tại của ngôn ngữ nhất là đối với ngôn ngữ văn học. Các biến đổi ngữ ngh a trước hết xuất phát từ các nguyên do : đời sống tâm lí xã hội, văn hóa, năng lực nhận thức về đối tượng của cộng đồng.
Như vậy, biểu tượng và đặc biệt là biểu tượng trong văn học có tính đa ngh a và khả năng khái quát cao. Biểu tượng văn học không còn sức sống khi tồn tại biệt lập trong ngôn ngữ của tác phẩm văn học mà còn phải có sự liên hệ với môi trường văn hóa, tâm lí xã hội. Do vậy, biểu tượng chỉ được nắm bắt, lí giải b ng việc thâm nhập, khả năng liên tưởng, xâu chu i kết hợp với sự nhạy bén của m i người.