Chương 1: VẤN ĐỀ MIÊU TẢ NGOẠI HÌNH NHÂN VẬT TRUYỆN KIỀU 1 z 1. Ngoại hình nhân vật chính diện .1 Nh©n vËt Thuý V©n:. Nhân vật Thúy Kiều : .3 Nhân vật Từ Hải : .4 Nh©n vËt Kim Träng:. Ngoại hình nh©n vËt ph¶n diÖn:.
Nhân vật M· Gi¸m Sinh .2 Nhân vật Tú Bà. Nhân vật Sở Khanh. Nhân vật Hoạn Thư .5 Nhân vật Hồ Tôn Hiến. 42 Chương 2: NGOẠI HÌNH NHÂN VẬT TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO.
Ngo¹i h×nh nh©n vËt chÝ PhÌo.1 Ngo¹i h×nh cña ChÝ PhÌo khi b¾t ®Çu tha hóa¸: .2 Ngo¹i h×nh khi Chí Phèo chìm sâu trong sự tha hóa trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại .3 Ngo¹i h×nh cña ChÝ PhÌo khi bÞ cù tuyÖt:. Ngo¹i h×nh nh©n vËt Thị Nở. Ngo¹i h×nh nh©n vËt L·o H¹c. Một vài quan sát so sánh :.
70 Chương 3: SO SÁNH VÀ LÍ GIẢI. Về hệ thống nhân vật :. Về bút pháp nghệ thuật:. Quan niệm văn học thời trung đại :.
Quan niệm về con người cộng đồng thời trung đại :. Quan niệm văn học thời hiện đại. 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lý do chọn đề tài: Để làm nổi bật đặc điểm riêng, nét độc đáo của một đối tượng nào đó, cần phải dùng phương pháp so sánh.
Có một số lý do để chúng tôi đến với đề tài nghiên cứu so sánh cách miêu tả ngoại hình nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và trong truyện ngắn Nam Cao. - Chúng ta đều biết, Nguyễn Du là một tác giả tiêu biểu của văn học trung đại và Nam Cao- một tác giả tiêu biểu của văn học hiện đại giai đoạn nửa đầu thế kỷ. Nghiên cứu so sánh miêu tả ngoại hình nhân vật của một tác giả trung đại và một tác giả hiện đại thoạt nhìn có vẻ như một đề tài đơn giản, song thực ra ẩn sau vẻ ngoài đơn giản này là những vấn đề khá quan trọng của so sánh loại hình học văn học trung đại và hiện đại. Đề tài của chúng tôi là một dạng nghiên cứu trường hợp, thông qua một sự kiện cụ thể để hình dung đặc điểm của hai nền, hai kiểu loại văn học lớn.
Trong nghiên cứu và giảng dạy văn học ở chương trình trường phổ thông, vấn đề về đặc trưng của văn học trung đại và văn học hiện đại là vấn đề quan trọng nhưng khá phức tạp. Làm cách nào để miêu tả và cắt nghĩa cho học sinh hiểu được những đặc trưng nổi bật của hai kiểu văn học này trên cơ sở những tác phẩm học sinh được học, một cách cắt nghĩa không quá khó, quá phức tạp, vừa đủ với trình độ tư duy và nhận thức của học sinh- câu hỏi này luôn thôi thúc sự suy nghĩ của tôi với tư cách một giáo viên dạy văn ở trường phổ thông cấp trung học cơ sở. Được sự gợi ý của thầy hướng dẫn, chúng tôi quyết định chọn đề tài “So sánh cách tả ngoại hình nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và truyện ngắn của Nam Cao”. Những lý do cụ thể như sau: 4 z 1.1 Vấn đề miêu tả ngoại hình với quan niệm về con người: Ngoại hình con người (cũng là nhân vật trong tác phẩm văn học) gồm những yếu tố gì ? Nếu duy danh định nghĩa, hình là hình khối, đường nét, màu sắc, ngoại là bên ngoài.
Vậy ngoại hình trước hết đó là chân dung –khuôn mặt, mắt, mũi, miệng thông qua nụ cười, cái nhìn, giọng nói, sau đó là cách phục sức, quần áo với kiểu cách, màu sắc của quần áo. Chúng ta dễ thống nhất với nhau rằng ở một con người, nếu tâm lý vốn trừu tượng, chỉ có thể nắm bắt, phán đoán và diễn tả gián tiếp thì ngoại hình là phần hữu hình, có thể quan sát trực quan. Tất nhiên, tả ngoại hình có ý nghĩa quan trọng trong việc nắm bắt, diễn tả tính cách nhân vật. Cùng với ngôn ngữ, hành động, tâm lý, các yếu tố ngoại hình góp phần làm nổi bật tính cách của nhân vật.
Nhưng mỗi nền văn học, mỗi thời đại văn học lại có cách miêu tả ngoại hình khác nhau. Nói một cách lý luận, miêu tả ngoại hình nhân vật là một phạm trù lịch sử. Các trích đoạn Truyện Kiều hay tác phẩm Chí Phèo đều có miêu tả chân dung nhân vật, dĩ nhiên ở các mức độ và tính chất khác nhau, với những quan niệm khác nhau. So sánh cách tả ngoại hình nhân vật để từ đó khái quát lên đặc trưng của tư duy văn học trung đại và hiện đại do đó là cách làm phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh, mà cũng là cách làm mà giới nghiên cứu chưa từng vận dụng khi so sánh hai nền văn học trung đại và hiện đại.
Đề tài do vậy có tính ứng dụng thực tiễn cấp thiết, đồng thời cũng có cái mới. Đề tài tuy đề cập đến một phương diện rất nhỏ của nhân vật văn học nhưng có liên quan đến tư duy văn học của văn học trung đại và văn học hiện đại. Tả ngoại hình con người không đơn giản là câu chuyện của kỹ thuật viết văn mà ẩn sau việc miêu tả ấy là quan niệm của mỗi tác giả, mỗi thời đại về con người. Quan niệm về con người như thế nào thì tác giả sẽ tả ngoại hình nhân vật tương ứng.
Đọc lịch sử nghiên cứu bình luận việc miêu tả nhân vật Truyện Kiều, chúng tôi gặp ý kiến độc đáo của René Crayssăc, một nhà 5 z Việt Nam học người Pháp. Ông cho rằng, con người trong Truyện Kiều sống trong xã hội gia trưởng, lấy gia đình làm bản vị, hy sinh con người cá nhân cho cộng đồng gia đình nên nét cá nhân thường rất mờ nhạt. Theo ông, quan niệm con người như vậy chi phối đến cách miêu tả nhân vật, trước hết là miêu tả ngoại hình. Ông viết “Các nhân vật trong Truyện Kiều, người nào cao hay thấp, béo hay gầy, mặc xanh hay mặc đỏ, cái đó không có quan hệ gì.
Người trong truyện đây chẳng qua mỗi người chỉ là để đóng một vai trong xã hội, cái bản thân mình không có quan hệ gì; mỗi người có thể cho là chân “phái viên” phải làm một công việc cho xã hội” ( René Crayssac, Truyện Kiều và xã hội Á Đông, Thượng Chi dịch từ Pháp văn, Nam phong, các số 111 và 112 (tháng 11 và 12,1926) ). Nghĩa là, vì không có quan niệm đề cao con người cá nhân nên Nguyễn Du không theo đuổi việc tả chi tiết ngoại hình nhân vật. Từ cách giải thích thú vị của ông, ta có thể suy ra, các tác phẩm văn học hiện thực ở thế kỷ XX, ví dụ, sáng tác của Nam Cao, sở dĩ có việc tả chi tiết, tỉ mỉ ngoại hình nhân vật vì các nhà văn hiện đại sống trong môi trường văn học chịu nhiều ảnh hưởng của văn học phương Tây, vốn đề cao con người cá nhân. Nghĩa là nếu mở rộng xem xét ngữ cảnh văn hóa, ta sẽ thấy sau chuyện tả ngoại hình nhân vật là một vấn đề văn hóa của từng thời đại.
Nhưng trong Truyện Kiều có một vấn đề khác nữa mà Crayssac chưa đề cập đến, nhưng đã được một số nhà nghiên cứu gần đây miêu tả và lý giải, trong số đó có nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn. Đó là việc phân tích và lý giải vì sao có sự khác biệt trong miêu tả nhân vật chính diện và phản diện ở tác phẩm này. Nội dung vấn đề tóm tắt như sau: trong Truyện Kiều, có sự phân biệt trong việc sử dụng các kỹ thuật tả nhân vật- không chỉ ngoại hình mà còn cả tâm lý- dành cho các nhân vật chính diện và phản diện. Theo ông, ngoài một hai nhân vật có tính trung gian, các nhân vật Truyện Kiều về cơ bản vẫn phân tuyến thành chính diện và phản diện.
Ông dùng khái niệm “tư duy phân 6 z loại” để diễn tả, tư duy phân loại này bộc lộ trên ba cấp độ khác nhau (thái độ của tác giả đối với mỗi loại nhân vật; cấu tạo giá trị cho mỗi loại nhân vật và phân loại nhân vật bằng các phương tiện nghệ thuật ngôn từ). Nghệ thuật tả ngoại hình nhân vật thuộc tầng thứ ba, theo Trần Nho Thìn là tầng sâu nhất, mang những đặc trưng rõ nhất của nghệ thuật tự sự truyện Nôm bác học. Ông viết “Đặc điểm nổi bật của tính ước lệ trong việc miêu tả nhân vật Truyện Kiều là việc tác giả sử dụng rộng rãi và nhất quán các biểu tượng rút từ thiên nhiên làm công cụ miêu tả. Chúng ta thấy ngoại hình của Thúy Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng, Từ Hải được miêu tả một cách ước lệ, trong đó vai trò của các yếu tố thiên nhiên là đặc điểm nổi bật” [48, tr.
Trong khi đó, ngoại hình nhân vật phản diện lại có xu hướng được tả thực. “Nếu như khi miêu tả các nhân vật chính diện, Nguyễn Du khai thác các yếu tố thiên nhiên thì khi miêu tả các nhân vật phản diện, ông lại cố gắng đặt chúng vào địa hạt cuộc sống hàng ngày, cố gắng miêu tả chúng sao cho cụ thể giống thực…Với các nhân vật phản diện, tác giả cố gắng gọi sự vật bằng đúng cái tên của nó. Do đó chúng ta mới có cơ hội bắt gặp một Mã Giám Sinh khá cụ thể về tuổi tác, ngoại hình, phục sức…Có thể nói rằng Nguyễn Du phân biệt một cách rạch ròi, kiên quyết, triệt để trong quan sát và miêu tả hai loại nhân vật, sự phân biệt đã đi vào tư duy nghệ thuật” [48, tr. Với nhận xét này, Trần Nho Thìn chỉ rõ, các từ ngữ “khuôn trăng‟, “nét ngài”, “hoa cười ngọc thốt”, “thu thủy”, “xuân sơn”, “hoa ghen, liễu hờn” không đơn giản là những công thức ước lệ mà ẩn sau chúng là quan niệm văn hóa riêng cuả thời trung đại.
Cũng vậy, sau những từ ngữ “mày râu nhẵn nhụi” tả Mã Giám Sinh, “nhờn nhợt màu da” tả Tú Bà không đơn giản là chuyện bút pháp chủ nghĩa hiện thực như có nhà nghiên cứu quan niệm mà chính là một biểu hiện của tư duy văn học rất riêng thời trung đại. Trần Nho Thìn lý giải “Vì coi thiên nhiên là nguồn gốc sinh ra nhân cách cao quý nên theo quan niệm Nho gia, thiên nhiên là mẫu 7 z mực, là lý tưởng, là cái đẹp, cái hoàn mỹ. Mặt khác chỉ có những con người cao quý mới xứng đáng sánh cùng thiên nhiên, đối diện với thiên nhiên. Những kẻ độc ác, xấu xa vĩnh viễn bị cầm tù trong phạm vi cuộc sống xã hội, trong cái hàng ngày, trần tục bụi bặm, đánh khinh đáng ghét” [48, tr.