chương 1, chúng tôi tiến hành khảo sát các cấu trúc so sánh tu từ trong tập thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ. Như phần lý thyết ở trên có nhắc đến bốn loại so sánh tu từ, song trong tập thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ thì dạng thứ tư : A bao nhiêu B bấy nhiêu không xuất hiện. Ở chương 2, chúng tôi sẽ lần lượt khảo sát ba dạng so sánh tu từ có mặt ở 111 bài trong tập thơ và phân tích, miêu tả về ngữ nghĩa cấu tạo của các thành tố đó. So sánh tu từ “A như B” So sánh tu từ được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau, trong cấu trúc hoàn chỉnh nhất của so sánh tu từ: A – cơ sở so sánh – từ so sánh – B, thì từ chức năng thường gặp nhất là “như”.
So sánh tu từ “A như B” là kiểu so sánh phổ biến, song nó cũng dễ bị nhầm lẫn với so sánh logic bởi từ so sánh. Trong khảo sát tuyển thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của nhà thơ Lưu Quang Vũ, chúng tôi nhận thấy ông vận dụng kiểu so sánh tu từ này rộng rãi nhất, 305 (chiếm 79,4%) phép so sánh tu từ dạng “A như B” trong 384 hình ảnh so sánh tu từ khảo sát. Dạng đầy đủ: “A – cơ sở so sánh – từ chức năng – B” Trong dạng đầy đủ của so sánh tu từ A như B, chúng tôi khảo sát thấy cơ sở so sánh có hai dạng là cụm từ và từ. Dưới đây sẽ phân ra hai trường hợp để khảo sát và phân tích giá trị biểu đạt của cụm từ và từ trong vai trò cơ sở so sánh.
Khi cơ sở so sánh là cụm từ Theo Diệp Quang Ban thì cụm từ “là những kiến trúc gồm 2 từ trở lên kết hợp từ tự do với nhau theo những quan hệ nghữ phép hiển hiện nhất định và không chứa kết từ (quan hệ từ) ở đầu” [1, tr.6] Với tổng số 83 cơ sở so sánh xuất hiện trong dạng đầy đủ của so sánh tu từ A như B thì cơ sở so sánh là cụm từ có 23 cụm từ (chiếm 28,6%) gồm cụm động từ, cụm tính từ và cụm đẳng lập. Một số ví dụ về cụm từ: Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ (Tiếng Việt) Luan van 17 Ai thuở trước nói những lời thứ nhất Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu (Tiếng Việt) cánh tay em dài và ấm như đất của những miền phiêu lãng (Ngọn lửa đen) Ở hai ví dụ trên, phần gạch chân chính là cơ sở so sánh ở dạng cụm từ. Trong đó, “rung rinh nhịp đập trái tim người” là cụm động từ (cụm từ chính phụ), “còn thô sơ” là cụm tính từ (cụm từ chính phụ) còn “dài và ấm” là cụm từ đẳng lập. a) Cụm động từ Trong số các cụm từ là cơ sở so sánh thuộc dạng A như B thì cụm động từ chiếm tỷ lệ nhiều nhất có 12 trường hợp trrong số 23 cụm từ.
Như trong bài Những đêm hoa vàng, Lưu Quang Vũ có câu thơ sử dụng cụm động từ làm cơ sở so sánh cho phép so sánh tu từ A như B: “Gió lục địa tràn về như bão”. Ở đây, “tràn” là động từ đóng vai trò chính còn “về” là động từ đóng vai trò phụ sau cho “tràn” vì thế “tràn về” được xác định là cụm động từ. So sánh “gió lục địa” và “bão”, tác giả đưa cụm động từ “tràn về” là nét tương đồng. Bởi dù “gió” và “bão” ở cấp độ khác nhau song việc sử cụm động từ “tràn về” thể hiện sức mạnh của lực “gió” trong lục địa đã không còn ở trạng thái “gió thổi” như bình thương nữa mà với “gió” với sức mạnh lớn hơn, như từ phía xa tiến vào lục địa.
Cụm động từ “tràn về” không chỉ thể hiện sức mạnh của “gió” đã mạnh lên như “bão” mà còn thể hiện trạng thái bị động của con người, con người không thể kiểm soát được hiện tượng của thiên nhiên. Hay như câu thơ: Nhưng chiều nay, chiều nay hoa ngoại ô Cứ ùa vào phố phường như ánh nắng (Chưa bao giờ) Trong ví dụ trên cụm “cứ ùa vào phố phường” có “ùa” là động từ, kèm trước là phó từ “cứ” và đi sau là động từ “vào” và danh từ “phố phường”. Sử dụng cụm động từ ở đây rất thú vị, bởi nó biểu hiện cho nhiều điều, trước hết ngoài chức năng thể hiện nét tương đồng rất rõ của “hoa” và “ánh nắng” thì thành phần phụ sau của cụm động từ “vào phố phường” còn xác định vị trí cụ thể cho “hoa” cũng như “ánh nắng”. Hình ảnh “hoa ngoại ô” so cùng “ánh nắng” có cảm tưởng là những bông hoa nhỏ bé, tươi tắn như tia nắng kết hợp với động từ “ùa” diễn đạt tình trạng đông đúc Luan van 18 không có tổ chức, chen chúc nhưng làm cơ sở so sánh thì câu thơ trở nên sinh động và cảm thấy nhận sự đông đúc, rộn ràng.
b) Cụm tính từ Cũng như cụm động từ có động từ là thành tố chính thì thành tố chính của cụm tính từ là tính từ. Qua khảo sát, so sánh tu từ A như B có 6 cụm tính từ trong 23 cụm từ đóng vai trò là cơ sở so sánh: Ai thuở trước nói những lời thứ nhất Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu (Tiếng Việt) Bài hát cũng tôi hát cùng đồng đội Lại dập dồn như gió khắp rừng khuya (Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi) Một thế hệ cứng đi như thỏi sắt (Những bông hoa không chết) những cô gái ướt đầm đìa như cá (Em (I)) Tất cả đều vô nghĩa Như một đồng xèng han gỉ (Hoa cẩm chướng trong mưa) Và sau đê sông Hồng nước lớn Đỏ phập phồng như một trái tim đau (Thư viết cho Quỳnh trên máy bay) Trong những cụm tính từ nêu trên, có các cụm “còn thô sơ”, “lại dập dồn”, “đều vô nghĩa” là có thành phần phụ trước còn lại là tính từ kết hợp thành phần phụ sau. Kết hợp tính từ với các từ chỉ mức độ: “còn”, “lại”, “đều” để thể hiện trạng thái của tính chất đang nói tới. Trong bài thơ Gió và tình yêu thôi trên đất nước tôi, so sánh những bài hát hát cùng đồng đội với gó ở rừng khuya, Lưu Quang Vũ sử dụng cụm tính từ “lại dồn dập” thể hiện sự lặp đi lặp lại.
“Còn thô sơ” trong Tiếng Việt thể hiện tính chất thô sơ chưa mất đi và “đều vô nghĩa” trong Hoa cẩm chướng trong mưa thấy được sự tương tự, “tất cả đều vô nghĩa”, “tất cả” đã mang ý nghĩa bao hàm nhưng khi nhà thơ sử dụng phụ từ “đều” như thêm sự nhấn mạnh cho sự “vô nghĩa”. Luan van 19 Ở trường hợp “đỏ phập phồng” và “ướt đầm đìa”, thành phần trung tâm là “đỏ” và “ướt” kết hợp phụ sau cũng là tính từ nhưng chỉ bổ sung thêm. Giả sử như, tác giả chỉ lấy “đỏ” làm cơ sở so sánh: Và sau đê sông Hồng nước lớn đỏ như một trái tim đau, thì “đỏ” chỉ thể hiện màu sắc tương đồng của “sông Hồng” với “trái tim”. Nhưng chọn cụm tính từ “đỏ phập phồng” sẽ gợi cảm hơn, không chỉ là nhịp đập của hình ảnh “trái tim” và dường như “sông Hồng” cũng có “nhịp”, sinh động hơn.
Cũng tương tự như vậy “đầm đìa” bổ sung thêm cho tính từ “ướt” thấy được hình ảnh những cô gái bao quanh đều là nước như cá dưới hồ. “Một thế hệ cứng đi như thỏi sắt”, cụm từ “cứng đi” có tính từ “cứng” là thành tố trung tâm kết hợp với thực từ “đi” thể hiện mức độ của “cứng” cao nhờ đó nâng cao tầm vóc cho “một thế hệ”. c) Cụm từ đẳng lập Cụm từ đẳng lập với tính chất là các thành tố trong cụm đóng vai trò ngang nhau. Bởi vậy, sử dụng cụm từ đẳng lập không nhấn mạnh vào một nét tương đồng của cái được so sánh và cái dùng để so sánh mà cụm từ đẳng lập sẽ giúp cho cơ sở so sánh tăng thêm nét tương đồng trong một phép so sánh tu từ.
Trong so sánh tu từ A như B, 5 cụm từ đẳng lập được sử dụng làm cơ sở so sánh với tỷ lệ 21,7% trong số các cụm từ: Môi tôi run lên cổ tôi nghẹn nấc Như sắp nghĩ ra một bài hát khác Thật và đẹp hơn mọi điều trong sách Về những con tàu và các bạn của tôi (Những bạn khuân vác) Đất lạnh lẽo sưng vù như mặt chết (Móng tay trên đá) Những cô gái gầy thơm Như nến trắng đi trong đêm tối (Cầu nguyện) Mái tóc rậm xòa bay như ngọn khói (Bài ca trên bán đảo) cánh tay em dài và ấm như đất của những miền phiêu lãng (Ngọn lửa đen) Luan van 20 Trong 5 trường hợp trên là các cụm từ đẳng lập xuất hiện ở so sánh tu từ A như B, có thể nhận thấy hầu hết là các tính từ tạo thành cụm: thật – đẹp, lanh lẽo – sưng vù, gầy – thơm, dài - ấm; duy chỉ có cặp động từ xòa – bay. Các cụm từ đẳng lập có thành phần cấu tạo chung về từ loại tạo thành cặp với nhau. Từ đó chỉ ra hai hay nhiều hơn hai nét tương đồng giữa cái được so sánh với cái dùng để so sánh ở các phép so sánh, tác giả sử dụng các cụm từ đẳng lập. Ví dụ như ở trường hợp câu thơ trong bài Những người bạn khuân vác, Lưu Quang Vũ sử dụng biện pháp đảo ngữ đưa cái được so sánh (một bài hát khác) về phía sau nên cơ sở so sánh được thể hiện ở đầu với “thật và đẹp”.
Ở đây so sánh “những con tàu và bạn của tôi” với “mọi điều trong sách” tác giả muốn nói không chỉ về tính chân thật mà còn là nét đẹp ở bên trong thế nên ông sử dụng cụm từ đẳng lập để đồng thời thể hiện hai tính chất có vai trò, giá trị ngang nhau trong cơ sở so sánh. Có thể thấy việc sử dụng cụm từ có tác dụng diễn đạt tính chất rõ ràng hơn, giàu hình ảnh liên tưởng hơn ở nét tương đồng của cái được so sánh và cái dùng để so sánh. Thống kê cho thấy cụm động từ được sử dụng nhiều nhất với 12 lần, cụm tính từ có 6 lần xuất hiện và cụm từ đẳng lập là ít nhất: 5 lần.