Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là một hiện tượng đặc biệt của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Bên cạnh sự nghiệp kịch trường lẫy lừng với hơn 50 vở kịch đặc sắc và các tác phẩm văn xuôi giàu tính thời sự, thơ ca mới chính là thánh địa nghệ thuật nơi ông gửi gắm trọn vẹn thế giới tâm hồn và những trăn trở sâu kín nhất. Tuyển tập Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (xuất bản năm 2010, tái bản năm 2017) do nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ biên soạn đã tập hợp 130 bài thơ tiêu biểu, phản ánh trọn vẹn chặng đường sáng tác nhiều thăng trầm của tác giả.

Trong thơ ca, các biện pháp tu từ là phương tiện đắc lực giúp hiện thực hóa tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ. So sánh tu từ là một thủ pháp quen thuộc nhưng luôn mang đậm dấu ấn phong cách cá nhân nhờ năng lực liên tưởng độc đáo của mỗi tác giả. Các công trình nghiên cứu trước đây về Lưu Quang Vũ phần lớn tập trung khai thác kịch bản, thi pháp cái tôi trữ tình hoặc chỉ khảo sát ngôn ngữ thơ theo diện rộng (như các đề tài về ẩn dụ bổ sung của Nguyễn Thị Thảo My năm 2016, biện pháp tu từ liên tưởng của Đỗ Thị Thảo năm 2016, hoặc ngôn ngữ thơ tình của Lê Lan Hương năm 2012). Mảng so sánh tu từ trong tuyển tập thơ lớn nhất của Lưu Quang Vũ vẫn chưa có công trình khảo sát chuyên sâu, hệ thống. Khóa luận So sánh tu từ trong Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ của tác giả Nguyễn Thị Kiều Nhung (ngành Cử nhân Văn học, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, năm 2018) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về biện pháp so sánh tu từ trong tiếng Việt và xác lập mô hình phân loại phù hợp để ứng dụng vào văn bản thơ ca.
  2. Khảo sát, thống kê và phân loại toàn bộ các cấu trúc so sánh tu từ xuất hiện trong ngữ liệu khảo sát của tuyển tập thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi.
  3. Miêu tả, phân tích chi tiết cấu tạo ngữ pháp, ngữ nghĩa của các thành tố cấu tạo nên phép so sánh (cái được so sánh $A$, cái dùng để so sánh $B$, cơ sở so sánh, từ chức năng và thành phần thuyết minh).
  4. Phân tích năng lực biểu đạt, tác động tạo hình của so sánh tu từ đối với nội dung trữ tình, tư duy nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp so sánh tu từ và cơ chế tạo nghĩa của nó.
  • Phạm vi nghiên cứu: 111 bài thơ có xuất hiện cấu trúc so sánh tu từ trong tổng số 130 bài thuộc tuyển thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, năm 2017).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các giáo trình và công trình nghiên cứu phong cách học, tu từ học tiếng Việt tiêu biểu của Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, Hữu Đạt, Võ Bình, Lê Anh Hiền và Bùi Trọng Ngoãn. Đề tài làm rõ sự phân biệt giữa so sánh tu từ và so sánh logic theo các tiêu chí học thuật:

Tiêu chí phân biệt So sánh tu từ So sánh logic
Đối tượng so sánh Khác loại, khác phạm vi biểu vật. Cùng loại, cùng phạm vi biểu vật.
Mục đích so sánh Cách nói hình ảnh nhằm diễn đạt đặc điểm đối tượng, gợi cảm xúc và thẩm mỹ. Xác lập sự tương đương về giá trị, thuộc tính giữa hai đối tượng.
Phương thức so sánh Dựa vào nét cá biệt giống nhau giữa các đối tượng. Dựa vào tính đồng chất, đồng loại của các đối tượng.
Yêu cầu nghệ thuật Đòi hỏi sự chọn lọc hình ảnh sinh động, mang đậm dấu ấn cá nhân. Đơn giản, mang tính khách quan, không đòi hỏi tuyển chọn nghệ thuật.

Về mô hình cấu trúc, tác giả khóa luận tiếp thu quan điểm của PGS. Bùi Trọng Ngoãn, xác định mô hình cấu trúc hoàn chỉnh của so sánh tu từ gồm 4 thành phần:

  1. Cái được so sánh ($A$): Đối tượng cần được giải thích, làm rõ.
  2. Cơ sở so sánh: Nét tương đồng giữa hai đối tượng (thuộc tính của $B$ tương đồng với khía cạnh nào đó của $A$).
  3. Từ chức năng: Từ biểu thị quan hệ so sánh.
  4. Cái dùng để so sánh ($B$): Đối tượng dùng làm chuẩn, phương tiện thuyết giải.

Dựa trên cấu trúc đó, so sánh tu từ được phân chia thành 4 dạng mô hình cơ bản:

  • Dạng 1: $A \text{ như } B$ (so sánh dùng từ chức năng "như" và các từ tương đương).
  • Dạng 2: $A \text{ là } B$ (so sánh dùng hệ từ "là" và các biến thể kết hợp).
  • Dạng 3: $\text{Bao nhiêu}\dots \text{bấy nhiêu}$ (mô hình so sánh tương ứng).
  • Dạng 4: $A // B$ (so sánh song hành, tỉnh lược từ chức năng).

Đồng thời, lý thuyết phân định rõ hai trạng thái: so sánh nổi (có cơ sở so sánh thể hiện trực tiếp bằng ngôn từ) và so sánh chìm (không có cơ sở so sánh hiển ngôn, người đọc phải dựa vào liên tưởng hoặc thành phần thuyết minh của $B$ để nhận diện).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Thu thập toàn bộ các câu thơ chứa cấu trúc so sánh tu từ trong 111 bài thơ, lập bảng phân loại theo mô hình cấu trúc, từ loại và ngữ nghĩa.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối chiếu giữa các dạng mô hình, giữa các cấu trúc ngữ pháp và đối chiếu với phong cách ngôn ngữ thông thường.
  • Phương pháp phân tích và miêu tả: Đây là phương pháp chủ đạo, dùng để mổ xẻ ngữ nghĩa của các thành tố, phân tích hiệu quả biểu đạt và giá trị thẩm mỹ của từng hình ảnh thơ.

Nguồn dữ liệu: Toàn bộ 130 bài thơ thuộc 5 phần của tuyển tập Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (Hương cây, Viết cho em từ cửa biển, Đất nước đàn bầu, Mắt của trời xanh, Những đám mây ban sớm), trong đó trích xuất được 384 hình ảnh so sánh tu từ từ 111 bài thơ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và tổng quan đối tượng nghiên cứu

Chương 1 tập trung tổng quan hệ thống lý thuyết về so sánh tu từ và phác thảo chân dung tác giả cùng văn bản nghiên cứu. Khóa luận phân tích và đánh giá ưu nhược điểm trong cách phân loại của các nhà nghiên cứu: Cù Đình Tú (tiêu chí hình thức và nội dung), Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa (các biến thể cấu trúc), Hữu Đạt (phân loại theo cấu trúc và ngữ nghĩa với 5 dạng nhưng còn hạn chế khi xếp lẫn so sánh logic vào so sánh bậc cao nhất), và Bùi Trọng Ngoãn (hệ thống hóa 4 mô hình rõ ràng, chỉ ra 20 từ chức năng và bác bỏ cấu trúc "$A \text{ hóa } B$", "$A \text{ thành } B$" khỏi so sánh tu từ).

Phần tổng quan tác giả trình bày các chặng đường đời và sáng tác của Lưu Quang Vũ từ khi nhập ngũ Phòng không – Không quân (1965 – 1970), giai đoạn gian khó lận đận (1970 – 1978), bước ngoặt gắn bó với nhà thơ Xuân Quỳnh (từ năm 1973), đến thời kỳ làm việc tại Tạp chí Sân khấu (từ năm 1978) và qua đời đột ngột năm 1988. Tuyển thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi được khẳng định là bức tranh phản ánh trung thực hành trình tâm trạng của Lưu Quang Vũ: từ những rung cảm trong trẻo ban đầu đến nỗi đau xót, trăn trở thời chiến loạn và khát vọng sống có ích cho cuộc đời.

Chương 2: Khảo sát về so sánh tu từ trong Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ

Chương 2 là phần trọng tâm về mặt định lượng và phân tích cấu trúc ngữ pháp - ngữ nghĩa của 384 hình ảnh so sánh tu từ. Khảo sát thực tế cho thấy mô hình thứ tư ($\text{Bao nhiêu}\dots \text{bấy nhiêu}$) hoàn toàn không xuất hiện trong tập thơ. Kết quả khảo sát 3 mô hình còn lại được phân tích chi tiết:

Mô hình so sánh tu từ Số lượng xuất hiện Tỷ lệ (%)
$A \text{ như } B$ 305 79,4%
$A \text{ là } B$ 63 16,4%
$A // B$ (So sánh song hành) 16 4,2%
Tổng cộng 384 100%
  1. So sánh tu từ "$A \text{ như } B$" (305 lượt):
  • Dạng đầy đủ ($A - \text{cơ sở so sánh} - \text{từ chức năng} - B$): Có 83 cơ sở so sánh xuất hiện. Khi cơ sở so sánh là cụm từ (23 cụm, chiếm 28,6%), cụm động từ chiếm số lượng nhiều nhất với 12 trường hợp (như "tràn về như bão", "cứ ùa vào phố phường như ánh nắng"), cụm tính từ có 6 trường hợp ("còn thô sơ", "lại dập dồn", "đều vô nghĩa"), cụm đẳng lập có 5 trường hợp ("thật và đẹp", "lạnh lẽo sưng vù", "dài và ấm"). Khi cơ sở so sánh là từ (60 từ), tính từ chiếm ưu thế áp đảo với 56 từ (chiếm 93,3% - từ "buồn" xuất hiện nhiều nhất, cùng các từ "dài", "vàng", "xanh", "sáng", "trong suốt", "trong trẻo"), trong khi động từ chỉ có 4 từ (chiếm 6,7% - "bay", "sôi", "rung rinh").
  • Dạng sơ giản ($A - \text{từ chức năng} - B$): Từ "như" đơn lẻ xuất hiện 280 lần. Ngoài ra có các biến thể kết hợp với phó từ: phải như, tưởng như, giống như, như là. Các từ chức năng khác đồng nghĩa chiếm số lượng nhỏ: so sánh ngang bằng có tựa (1 lần), bằng (1 lần), giống (2 lần); so sánh hơn kém có hơn (3 lần, luôn có cơ sở so sánh đi kèm phía trước: "dài hơn", "nhanh hơn", "thật và đẹp hơn").
  • Thành phần thuyết minh của $B$: Khi có cơ sở so sánh có 3 trường hợp; khi không có cơ sở so sánh có 29 trường hợp (gồm 4 từ và 25 cụm từ, trong đó cụm động từ chiếm tới 17 trường hợp).
  1. So sánh tu từ "$A \text{ là } B$" (63 lượt):
  • Điểm đặc thù của dạng này trong thơ Lưu Quang Vũ là hoàn toàn không xuất hiện cơ sở so sánh hiển ngôn.
  • Từ chức năng xuất hiện 56 lần với từ "là" đơn lẻ chiếm 45 lần (80,4%). Các trường hợp kết hợp với phó từ mang sắc thái khẳng định gồm chỉ là (4 lần), vẫn là (1 lần), hãy là (1 lần), cứ là (1 lần), chỉ còn là (1 lần); mang sắc thái phủ định gồm chẳng là (2 lần), không phải là (1 lần).
  • Thành phần thuyết minh của $B$ xuất hiện 10 lần (3 tính từ, 6 cụm động từ, 1 cụm đẳng lập), có tác dụng mở rộng ngữ nghĩa và xác lập nét tương đồng ngầm ẩn giữa $A$ và $B$.
  1. So sánh tu từ "$A // B$" (So sánh song hành - 16 lượt):
  • Dạng đầy đủ (có cơ sở so sánh) có 5 trường hợp, đều là tính từ (mong manh, đen, xanh, dịu hiền, gầy).
  • Dạng sơ giản (không có cơ sở so sánh) có 11 trường hợp (chiếm 68,8% nhóm song hành).
  • Thành phần thuyết minh của $B$ xuất hiện 3 trường hợp.

Khảo sát tổng hợp chỉ ra quy luật biểu vật: Cái được so sánh ($A$) chủ yếu thuộc phạm vi biểu vật con người và thế giới nội tâm, đời sống tinh thần; trong khi cái dùng để so sánh ($B$) chủ yếu thuộc phạm vi biểu vật thiên nhiên với 182 hình ảnh (như chùm quả, vầng trăng, cầu vồng, hoa chuối, dòng sông...). Ngoài ra, tác giả chỉ ra các hiện tượng bao gộp nhiều cấu trúc so sánh lồng ghép và sự phối hợp nhiều kiểu so sánh trong cùng một đoạn thơ.

Chương 3: Năng lực biểu đạt của các loại so sánh tu từ trong Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ

Chương 3 đi sâu đánh giá tác động thẩm mỹ của các phép so sánh tu từ đối với ba bình diện: nội dung, tư duy nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ.

  1. Về nội dung thể hiện:
  • Biểu đạt tình yêu mãnh liệt dành cho đất nước, nhân dân và thời đại: So sánh tu từ giúp hình tượng hóa vẻ đẹp bình dị, mộc mạc của quê hương xứ sở (như bài thơ Qua sông Thương, Đất nước đàn bầu). Nổi bật là bài thơ Tiếng Việt, tác giả huy động một chuỗi so sánh tu từ dạng "$A \text{ như } B$" để tôn vinh vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ qua các hình ảnh quen thuộc: "như đất cày, như lụa", "như tơ", "như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ", "như đời mẹ đắng cay", "như hồn dân tộc Việt".
  • Thể hiện thế giới tình yêu nhiều cung bậc: Diễn tả các trạng thái cảm xúc phức tạp, sự gắn kết thủy chung và những dự cảm lo âu trong tình cảm lứa đôi qua các liên tưởng giàu sức gợi.
  1. Về tư duy nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ:
  • Tư duy nghệ thuật lấy cái đẹp của thiên nhiên làm chuẩn mực để soi chiếu con người và cuộc đời. Kiểu liên tưởng bất ngờ, phá vỡ các khuôn mẫu ước lệ truyền thống.
  • Phong cách ngôn ngữ thơ: Mang cái nhìn giàu tính phát hiện; hình ảnh so sánh gắn chặt với trạng thái cảm xúc; cấu trúc so sánh đa dạng (kết hợp, bao gộp); nâng cao năng lực biểu đạt triết lý nhân sinh, đúc kết thành những tuyên ngôn nghệ thuật sâu sắc như "Thơ tôi là mây trắng của đời tôi".

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể và đóng góp khoa học sau:

  • Xác lập bức tranh định lượng chi tiết: Thống kê chính xác 384 phép so sánh tu từ trên 111 bài thơ khảo sát, phân bổ theo 3 kiểu cấu trúc: "$A \text{ như } B$" (305 lượt, chiếm 79,4%), "$A \text{ là } B$" (63 lượt, chiếm 16,4%), "$A // B$" (16 lượt, chiếm 4,2%).
  • Phát hiện các quy luật ngữ pháp và ngữ nghĩa đặc thù trong thơ Lưu Quang Vũ:
    1. Kiểu so sánh $\text{Bao nhiêu}\dots \text{bấy nhiêu}$ hoàn toàn vắng mặt trong tập thơ.
    2. Kiểu so sánh "$A \text{ là } B$" luôn ở dạng so sánh chìm (100% không có cơ sở so sánh hiển ngôn).
    3. Trong dạng so sánh "$A \text{ như } B$", khi cơ sở so sánh là cụm từ thì cụm động từ chiếm đa số (12/23 cụm), biểu hiện xu hướng động hóa hình ảnh; khi cơ sở so sánh là từ thì tính từ chiếm ưu thế tuyệt đối (56/60 từ, đạt 93,3%).
    4. Xác lập mối quan hệ đối ứng trong trường biểu vật: Vế $A$ tập trung vào con người và tâm trạng, vế $B$ hướng về thiên nhiên với 182 hình ảnh làm chuẩn mực thẩm mỹ.
  • Đóng góp so với các công trình trước: Đề tài đã chuyển dịch hướng tiếp cận từ thi pháp học nội dung thuần túy sang phong cách học ngôn ngữ - cấu trúc định lượng, cung cấp hệ thống số liệu xác thực về so sánh tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ mà các nghiên cứu trước đây chưa thực hiện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Ngữ liệu nghiên cứu của đề tài giới hạn trong phạm vi 111 bài thơ của tuyển tập Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (NXB Hội Nhà văn, 2017), chưa bao quát toàn bộ các sáng tác thơ nằm ngoài tuyển tập cũng như các thể loại văn học khác mà Lưu Quang Vũ đã sáng tác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Mở rộng việc khảo sát và so sánh đối chiếu biện pháp so sánh tu từ giữa thơ ca với kịch bản văn học và văn xuôi của Lưu Quang Vũ để tìm ra tính thống nhất trong phong cách ngôn ngữ toàn bộ tác phẩm của ông.
    2. Mở rộng so sánh đối chiếu hệ thống so sánh tu từ của Lưu Quang Vũ với các nhà thơ cùng thời kỳ (thế hệ thơ chống Mỹ và giai đoạn đổi mới) nhằm xác lập rõ nét hơn vị trí độc đáo của thơ Lưu Quang Vũ trong tiến trình hiện đại hóa ngôn ngữ thơ ca Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Ngữ văn, Sư phạm Ngữ văn, Ngôn ngữ học tiếng Việt và Lý luận văn học khi tìm kiếm tư liệu tham khảo về thi pháp tác giả, phong cách học tiếng Việt.
  • Những người thực hiện đề tài nghiên cứu về thơ ca Lưu Quang Vũ hoặc nghiên cứu các biện pháp tu từ trong văn học Việt Nam hiện đại.
  • Các phần có giá trị tham khảo cao nhất: Bảng tổng hợp số liệu khảo sát, phân loại chi tiết các dạng thức cấu trúc so sánh tu từ ở Chương 2 và phương pháp thao tác hóa mô hình cấu trúc 4 thành phần của Bùi Trọng Ngoãn trong phân tích văn bản nghệ thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát bao nhiêu bài thơ và thu thập được bao nhiêu hình ảnh so sánh tu từ? Khóa luận đã tiến hành khảo sát trên 111 bài thơ có sử dụng so sánh tu từ trong tổng số 130 bài thơ của tuyển tập Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, qua đó thống kê và phân tích chi tiết 384 hình ảnh so sánh tu từ.

2. Tỷ lệ phân bố giữa các mô hình so sánh tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ như thế nào? Trong 384 hình ảnh so sánh được khảo sát, mô hình "$A \text{ như } B$" chiếm tỷ lệ cao nhất với 305 lượt (79,4%), mô hình "$A \text{ là } B$" có 63 lượt (16,4%), mô hình so sánh song hành "$A // B$" có 16 lượt (4,2%), và mô hình "$\text{Bao nhiêu}\dots \text{bấy nhiêu}$" không xuất hiện lần nào (0%).

3. Cơ sở so sánh trong dạng cấu trúc "$A \text{ như } B$" có đặc điểm từ loại gì đáng chú ý? Trong dạng đầy đủ của mô hình "$A \text{ như } B$" có 83 cơ sở so sánh. Khi cơ sở so sánh là cụm từ (23 trường hợp), cụm động từ chiếm nhiều nhất với 12 cụm (52,2%). Khi cơ sở so sánh là từ (60 trường hợp), tính từ chiếm tỷ lệ áp đảo với 56 từ (93,3%), trong khi động từ chỉ có 4 từ (6,7%).

4. Phạm vi biểu vật của hai vế so sánh $A$ và $B$ trong thơ Lưu Quang Vũ có đặc trưng gì? Cái được so sánh ($A$) phần lớn thuộc phạm vi biểu vật con người, đời sống nội tâm, cảm xúc và hành động. Ngược lại, cái dùng để so sánh ($B$) chủ yếu thuộc phạm vi biểu vật thiên nhiên với 182 hình ảnh đẹp và bình dị (chùm quả, vầng trăng, con sông, hoa mướp, mây bay...), phản ánh tư duy lấy vẻ đẹp thiên nhiên làm chuẩn mực thẩm mỹ.

5. Điểm khác biệt lớn nhất về mặt cấu trúc của mô hình "$A \text{ là } B$" trong tập thơ là gì? Tất cả 63 trường hợp thuộc mô hình "$A \text{ là } B$" trong tập thơ đều là so sánh chìm, nghĩa là hoàn toàn không xuất hiện cơ sở so sánh trực tiếp trong câu thơ. Mối liên hệ so sánh được xác lập ngầm định thông qua từ chức năng "là" (hoặc các kết hợp chỉ là, chẳng là, vẫn là...) và thành phần thuyết minh đi sau vế $B$.

Kết luận

Khóa luận So sánh tu từ trong Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ của tác giả Nguyễn Thị Kiều Nhung đã khảo sát và phân loại định lượng toàn diện 384 phép so sánh tu từ trên nền tảng lý thuyết phong cách học hiện đại. Công trình làm rõ nét đặc thù về cấu tạo ngữ pháp, từ loại, cơ chế thuyết minh và trường biểu vật của các mô hình so sánh trong thơ Lưu Quang Vũ, đặc biệt là sự chiếm ưu thế của dạng "$A \text{ như } B$". Qua đó, đề tài chứng minh so sánh tu từ là phương thức biểu đạt cốt lõi giúp hình tượng hóa tình yêu đất nước, con người và định hình phong cách nghệ thuật giàu chất suy tưởng của nhà thơ.