Mở đầu cho kiểu tiểu thuyết cách tân này là các tên tuổi như: M. và ở Việt Nam cũng đã xuất hiện các tên tuổi như: Bảo Ninh, Nguyễn Minh Châu, Chu Lai,. Từ quan niệm về thê loại tiểu thuyết trên đây , ta nhận thấy trong tương quan thé loại, tiêu thuyết có một số đặc trưng thé loại mang tính đặc thù. Tiểu thuyết nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư =.
Đặc điểm này làm cho tiểu thuyết khác biệt với sử thi (anh hùng ca), ngụ ngôn. Tiểu thuyết miêu tả những tình cảm, dục vọng và những biến cố thuộc đời sống riêng tư và đời sống nội tâm của con người. Đời sống riêng tư là tiêu điểm miêu tả cuộc sống một cách tiểu thuyết. Yếu tố đời tư càng phát triển, chất tiểu thuyết càng tăng.
Tiểu thuyết gần gũi cuộc sống hơn các thé loại văn chương khác chính bởi tiểu thuyết nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư với yêu cầu tái hiện cuộc sống như một thực tại đang sinh thành. Tiểu thuyết đặc trưng bởi chất văn xuôi. Chất văn xuôi chính là sự tái hiện cuộc sống không thi vi hoá, lang mạn hoá, lu tưởng hoá. Chất văn xuôi làm cho tiểu thuyết khác với truyện thơ, thơ trường thiên, sử thi.
Miêu tả cuộc sống như thực tại cùng thời dang sinh thành, tiêu thuyết hap thụ vào bản thân nó mọi yếu tô ngôn ngang bê bộn của cuộc đời bao gôm cái cao cả và cái tâm thường , 22 nghiêm túc và buồn cười „ cái bi và cái hai, cái lớn lẫn với cái nhỏ. Chính chất văn xuôi đã mở ra một vùng tiếp xúc tôi đa với thời hiện tại đang sinh thành làm cho tiểu thuyết không bị giới hạn bởi nội dung phản ánh. Chất văn xuôi làm cho tiểu thuyết du nhập ngày càng nhiều ngôn ngữ đời sống hằng ngày nhằm hướng tới cái đang diễn ra, cái chưa hoàn tất trong cuộc đời thực. Điều làm cho nhân vật tiêu thuyết khác với nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện trung cô ở chỗ nhân vật tiểu thuyết là con người ném trai trong khi các nhân vat kia thường là nhân vật hành động.
Nhân vật tiểu thuyết cũng hành động nhưng do sự chi phối của đặc trưng thé loại, nhân vật tiểu thuyết xuất hiện như là con người nếm trải tư duy, chịu khổ đau dan vặt của cuộc đời. Tiểu thuyết miêu tả con người trong hoàn cảnh _, không tach nó ra khỏi hoàn cảnh một cách nhân tạo, không cô lập nó cũng như không cường điệu sức mạnh của nó. Tiểu thuyết miêu tả nhân vật như con người đang trưởng thành biến đổi và do đời day bảo. Miêu ta thé giới bên trong , phân tích tâm lí là một phương diện rat đặc trưng cho tiểu thuyết.
Trong truyện ngắn trung cô , truyện vừa, cốt truyện đóng vai trò chủ yếu cùng với nhân vật, mọi yếu tố trong tác phâm được tô chức sát với sự vận động của cốt truyện và tính cách hầu như không có kế thừa. Lời nói nhân vật cũng chỉ là một khâu thúc đây cốt truyện phát triển hoặc mở nút. Tiểu thuyết lại khác, những cái thừa so với truyện vừa và truyện ngắn trung cổ lại là cái chính yếu trong thành phần thể loại tiểu thuyết: Suy tư của nhân vật về thế ĐIỚI, về đời người, sự phân tích diễn biến tình cảm, sự trình bày tường tận các tiêu sử của nhân vật, mọi chỉ tiết về quan hệ người - người. nói chung về toàn bộ tỒn tại của con nguoi.
Xoá bỏ khoảng cách giữa người tran thuật và nội dung trần thuật, tiêu thuyết hướng về miêu tả hiện thực như cái hiện tại đương thời của người trần thuật. Tiểu thuyết cho phép người trần thuật tiếp xúc, nhìn nhận các nhân vật 23 một cách gần gũi như người bình thường , thường tình dé hiểu ho bằng kinh nghiệm của mình. Khoảng cách gần gũi làm cho tiêu thuyết trở thành một thể loại dân chủ, nó cho phép người trần thuật có thái độ thân mật thậm chí sudng sã với nhân vật của mình ˆ, từ đó có thé nhinh iện tượng từ nhiều chiều , sử dụng nhiều giọng nói. Tiểu thuyết hấp thu mọi loại lời nói khác nhau của đời sống, san bang ngăn cách lời trong văn học và lời ngoài văn học _.
Cuộc sống nhân vật trong tiêu thuyết là quá tính chưa xong xu ôi. Ngay lời trần thuật, dạng thức nhân vật cũng là một cái gì chưa xong xuôi _. Kết cấu tiểu thuyết do đó thường là kết cau dé ngỏ. Tiểu thuyết là thể loại có khả năng tông hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các loại hình văn học khác.
Tiểu thuyết tổng hợp đặc điểm của các thé loại kịch, kí, tho,. và tổng hợp thủ pháp nghệ thuật của các loại hình nghệ thuật lân cận như hội hoạ, âm nhạc, điêu khắc, điện ảnh. Những nét đặc trưng trên chỉ rõ hơn tính chưa hoàn kết của thê loại tiêu thuyết. Từ đặc trưng thể loại tiểu thuyết ta thấy , đặt trên cả nền của các thể loại thì tiêu thuyết là một tạo thành hết sức “tự do” , “tự do” tạo nên sức hút va sức sống lâu dai cho thé loại tiểu thuyết.
Tóm lại, với các đặc điểm đó đã cho thấy tiểu thuyết là thé loại văn học có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các thé loại văn học khác. Bởi thé mà ta có thé bắt gặp trong tiểu thuyết những rung động tinh tế của thơ ca, những xung đột gay gắt của hình thái kịch, những mảng hiện thực nóng hồi chất sống của thé ký, những bức tranh thiên nhiên giàu mau sắc hội họa. Chính hiện tượng tổng hợp trên đã làm cho tiểu thuyết cũng đang vận động, không đứng yên. Đúng như Bakhtin đã nói: “Tiểu thuyết là thể loại duy nhất đang hình thành và chưa xong xuôi ”.
Tác giả Maria Remarque và tiểu thuyết Phía Tây không có gì lạ 1.Erich Maria Remarque — Nhà văn hiện đại tiêu biểu của Đức Remarque (1898 - 1970) tên thật là Erich Paul Remarque, sinh ngày 22 tháng 06 năm 1898, tại Osnabrueck. Ông là con của một người thợ đóng sách. Lớn lên ông theo học trường Giòng. Bi động viên vào lính năm 18 tuổi trong chiến tranh thé giới lần thứ nhất.
Chiến đấu tại mặt trận phía Tây bị thương trong chiến đấu. Chiến tranh kết thúc , Ông giải ngũ và làm nhiều nghề khác nhau: kinh doanh, giáo viên, thủ quỹ, viết quảng cáo,.Từ 1923, ông làm phóng viên, đi nhiều nước trên thế giớivàb at đầu công việc viết văn, văn phong của ông mang tư tưởng tự do, tiến bộ. Năm 1933, khi bọn phát xít lên nam chính quyền ở Đức, sách của ông bị chúng cấm và đốt. Năm 1938, ông bị trục xuất khỏi Đức.
Sống lưu vong ở Mỹ và Thụy Sĩ trong 32 năm còn lại của cuộc đời. Ông mắt ngày 25 tháng 9 năm 1970, tại Locano, Thụy Sĩ. Remarque là nhà tiểu thuyết hiện đại tiêu biéu của Đức. Các tác phẩm của ông mang tư tưởng chống phát xít và chế độ quân phiệt, nên nó đã thu hút được sự chú ý của độc giả trên thế giới.
Tác phẩm nổi tiếng nhất công bố khi ông 31 tudi: Phía Tây không có gi lạ (1929), đề cập tới quá trình “thú vật hóa” con người trong cuộc chiến. Tất cả các tác phâm của ông đều trực tiếp hay gián tiếp rung tiếng chuông báo động về nguy cơ của chủ nghĩa phát xít và yêu cầu phải tiêu diệt nó, bảo vệ sự sống của loai người, từ Khải Hoàn Môn viết về số phận của một người Đức chống phát xít phải sống lưu vong, đến Tia Lửa Sống t6 cáo tội ác phát xit Đức trong các trại tập trung, từ Thdi gian để sống và thời gian để chết nói về sự tàn bạo của chủ nghĩa phát xít, đến Đường về của những ngày khủng khiếp chiến tranh thé giới thứ hai,.tat cả đều toát lên tình yêu của ông đối với dân tộc Đức và đất nước Đức đang bị quan quai dưới ach thống trị của bọn phát xit. Tat cả đều thé hiện sâu sắc tinh thần đấu tranh không mệt mỏi cho hòa bình và hạnh phúc con người. 25 Tác phẩm của Remarque ít nhiều mang yếu tố tự nhiên chủ nghĩa trong cách miêu tả.
Nó vừa là sự hấp dẫn đối với những người này, lại vừa là sự thất vọng đối với những người khác. Tác phẩm của ông là sự thể hiện của tâm trạng và thái độ của cả một thế hệ, một tầng lớp người đã trải qua chiến tranh tàn khốc suy ngẫm về chiến tranh, giải thích về nó với những mặc cảm tội lỗi của một dân tộc. Bang cách ké chuyện điêu luyện và hap dẫn, với óc quan sát tinh tế và sắc sao, tiểu thuyết của Remarque đã gây hứng thú cho đông đảo độc giả trên thế giới, nhất là khi ông bày tỏ trong tác phẩm của mình nỗi xúc động đau đớn về thân phận của dân tộc ông, cũng như của nhân loại. Tiểu thuyết Phía tây không có gì lạ Phía tây không có gi lala một cuỗn tiêu thuyết viết về đề taichién tranh của Erich Maria Remarque— một cựu chiến binh đã từng tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất.
Tác phâm được viết dưới dạng hồi ức của một người lính Đức , kế về cuộc sống chiến đấu và những nỗi kinh hoàng ma anh và các đồng đội trai qua trong các chiến haotai mặt trận phía Tây của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhava được xem là một trong số những tac phn hay nhất thời ki nay Tiểu thuyết Phía Tây không có gì lạ được xuất bản năm 1929, ngay từ khi mới ra đời, tiêu thuyết này đã gây một tiếng vang lớn, làm cho chính tác giả và bất cứ một người nào cũng phải ngạc nhiên “ Bóng ma của chiến tranh luôn ám ảnh chúng tôi — ông nói — nhất là khi chúng tôi có gắng không nghĩ đến nó nita’”[17, tr. Và kết quả là Phía tây không có gi lạ đã làm tat cả những người ở hai bên bờ Thái Bình Dương xúc động sâu sắc trong khi trước đây , họ ra sức tìm kiếm ý nghĩa của chiến tranh. Trong những năm dau tiên , riêng độc gia Đức đã mua tới hơn một triệu bản cuốn tiểu thuyết Phía tây không có gì lạ và người Anh , Pháp, Mỹ thậm chí còn mua nhiều hơn. Cuốn tiêu thuyết còn thành công hơn nữa nhờ bộ phim do người My dung voi Lewis Ayres va Lewis Wolherim đóng vai chính.
Do là một 26 trong những bộ phim nói dau tiên và hiện nay van là một phim kinh điền thé giới. Năm 1932, tiểu thuyết Phía tây không có gila được dịchra 29 tht tiếng.