Chương 1: Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều trong dòng mạch của truyện ngắn Việt Nam thời kì déi mới. Chương 2: Cốt truyện và kết cấu trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều Chương 4: Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều PHAN NOI DUNG Chuong 1: TRUYEN NGAN NGUYEN QUANG THIEU TRONG DONG MACH CUA TRUYEN NGAN VIET NAM THỜI ki DOI MỚI 1.1 Khái quát chung về truyện ngắn Việt Nam thời kì đỗi mới 1.1 Giới thuyết truyện ngắn Trong Tử điển thuật ngữ văn học, truyện ngắn được định nghĩa: “Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thê loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự, hay sử thị, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắn được viết ra dé tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [21, tr.
Theo 150 thuật ngữ văn hoc, truyện ngăn là “một thé loại của tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập đến các phương diện của đời sống con người và xã hội. Nét nồi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng, tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người tiếp nhận đọc nó liền mạch không nghỉ” [2, tr. Mức độ dài ngắn không phải là đặc điểm chủ yếu dé phân biệt truyện ngắn VỚI các tác phẩm tự sự khác. Trong văn học hiện đại có nhiều tác phẩm rất ngắn nhưng thực chất là những truyện dài viết ngắn lại.
Thời trung đại thì truyện ngắn cũng ngắn nhưng rất gần với truyện vừa. Các hình thức kể chuyện dân gian rất ngắn gọn như truyện cô tích, truyện cười. không phải là truyện ngắn. Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách chiếm lĩnh cuộc sống rất riêng, mang tính chat thé loại.
Vì vậy, truyện ngắn xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học. Tiểu thuyết là thé loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự day đủ và toàn ven của nó, còn truyện ngăn thường hướng tới việc khắc họa hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay thế giới nội tâm của con người. Cho nên truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thé giới đó.
Truyện ngắn thường không nhăm tới việc khắc họa những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh. Cốt truyện của truyện ngắn thường tự giới hạn về thời gian, không gian, có chức năng nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời, con người. Kết cau của truyện ngăn không chia làm nhiều tang, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng. Bút pháp tường thuật của truyện ngắn thường là chấm phá.
Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chỉ tiết đặc sắc và lỗi hành văn chứa nhiều ân ý làm nên tác phẩm những chiều sâu chưa khám phá hết. Truyện ngắn là thé loại gần gũi với đời sống hàng ngày, ham súc, dé đọc, thường gắn liền với hoạt động bao chí, do đó có tác dụng ảnh hưởng kịp thời trong đời sống. Từ những định nghĩa và phân tích trên, chúng tôi rút ra những đặc điểm chính của thê loại truyện ngắn như sau: Thứ nhất, truyện ngắn là một thê tài tự sự cỡ nhỏ. Nhỏ có nghĩa là từ vai trang dén vai chuc trang, một câu chuyện được kê nghệ thuật nhưng không được phép ké dài dong, câu chuyện có sức ám ảnh, tạo ấn tượng duy nhất mạnh mẽ đồng thời tạo liên tưởng cho độc giả.
Thứ hai, dung lượng và cốt truyện của truyện ngắn tập trung vào một vài biến cố, mặt nào đó của đời sống, các sự kiện tập trung trong một không gian nhất định. Thứ ba, nhân vật truyện ngắn thường được làm sáng tỏ, thể hiện một trạng thái tâm thế con người thời đại. 10 Thứ tư, chỉ tiết và lời văn là những yếu tố đóng vai trò quan trọng, đặc biệt ở chỉ tiết của nó có tính chất biểu tượng.2 Truyện ngắn thời kì đổi mới Từ sau Đại hội Đảng lần VI (1986), Đổi mới như một nhu cầu tất yêu của văn chương đề phù hợp với đời sống xã hội, với nhận thức và tiếp nhận của người đọc hiện đại. Tuy nhiên, viết cho mới không là mục đích.
Viết cho hay mới là mục đích. Đổi mới được coi như phương tiện, bút pháp dé làm hay văn chương. Đổi mới không đơn thuần chi dé đôi mới thiên về mặt hình thức mà cần đôi mới về tư duy nghệ thuật, đôi mới quan niệm nghệ thuật về con nguoi, đôi mới về nghệ thuật trần thuật. Quan niệm như vậy khác han với quan niệm thời kỳ trước.
Sau khi cách mạng thang 8 thành công, đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Phần lớn nhà văn lên chiến khu theo cách mạng. Với quan điểm văn nghệ phục vụ công nông binh, phục vụ kháng chiến, văn chương nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung lay nhiệm vụ phục vụ chính tri làm mục tiêu hang đầu nên đã không tránh khỏi chính trị hóa, báo chí hóa, đơn giản hóa, quần chúng hóa; tác phẩm mang tính nghệ thuật đích thực có, nhưng không thật nhiều. Kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng ta chưa có thời gian định lại những giá trị đích thực của văn chương, đã phải bước vào cuộc kháng chiến mới, trong đó văn học có nhiệm vụ phục vụ lợi ích dân tộc, cụ thể là phục vụ lợi ích cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Với quan niệm về văn chương như vậy tất yêu sẽ dẫn đến có nhiều tác phâm ra đời nhưng lại đơn giản, té nhạt, một chiều. Xã hội thay đôi, nhận thức con người đã thay đôi, quan niệm thẩm mỹ đã khác nhưng quan niệm đối với văn chương gần như không có gì thay đối, van bảo thủ trì trệ. Bởi vay một giai đoạn kha dai sau cuộc 11 kháng chiến chống Mỹ cứu nước, văn học nước nhà rơi vào trạng huống bế tắc, người đọc quay lưng lại với văn chương. May thay, vào những năm giữa của thập niên 80 thé kỷ trước, sau đại hội VI của Đảng, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới.
Cùng với sự đổi mới tư duy chính tri, tư duy kinh tế là đổi mới tư duy nghệ thuật, đổi mới quan niệm về văn chương, về nhà văn, về hiện thực và con người. Thời tiết chính trị thay đổi, không khí dân chủ hóa của đời sống và văn chương là tiền đề cho sự xuất hiện một loạt tác phẩm viết theo phương cách "cởi trói", không đơn điệu, một chiều, dám đối mặt với thực tế đời sống. Hay nói cách khác, đã viết như đời sống vốn thế, tức là văn chương thật sự đã phản ánh đúng thực trạng tâm lý phức tạp của con người, qua đó can dự trực tiếp vào đời sông xã hội. Truyện ngắn thời kì đổi mới được mùa nở rộ và thực sự là niềm tự hào của văn xuôi nước nhà.
Sau Nguyễn Huy Thiệp, hoàn toàn không thiên cưỡng dé nói rằng, một diện mạo mới của truyện ngắn Việt Nam đã hình thành. Diện mạo này trước hết là sự phong phú, đa dạng trong phương cách thé hiện. Đọc truyện ngắn thời kỳ đổi mới dé dàng nhận ra rằng thê loại này đã bắt được nhịp, theo kịp và cùng song hành với cuộc sống. Nó không mòn cũ, công thức ở lỗi viết, không một chiều, nhẫn ly trong cảm xúc, không dập khuôn với lối viết đã định sẵn.
Trân trọng những thành tựu trước đó, song không thoả mãn, luôn tìm tòi, luôn đổi mới trong cách cảm, cách nghĩ, cách viết là đặc trưng nhân cách nhà văn. Nền kinh tế thị trường tất yếu dẫn đến việc hình thành lối sống đa chiều, nó không còn thuần khiết, giản đơn, trong trẻo như thời kỳ trước đây. Nó phức tạp, nhiêu khé và rối ram. Phan ánh hiện thực ấy đòi hỏi truyện ngắn cũng như các thể loại văn học khác phải gồ ghề, góc cạnh, 12 phải bung nở, đa chiều.
Truyện ngắn giai đoạn đôi mới đã làm được điều ay. Bên cạnh những tác giả đã có su dam lang trong tư duy, va trong phong cách thé hiện, đã làm nên nền truyện ngắn Việt Nam sáng giá một thời như Bùi Hiển, Vũ Tú Nam, Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Đỗ Chu, Chu Lai, Nguyễn Quang Thân, Lý Biên Cương, Nguyễn Bản, Lê Minh Khuê. là một thé hệ hết sức đa dạng và hùng hậu: Nguyễn Quang Thiéu, Nguyễn Quang Lập, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Bão Vũ, Nguyễn Thị Phước, Lý Lan, Phạm Ngọc Tiến, Trần Đức Tiến, Văn Cầm Hải và mới đây là Nguyễn Ngọc Tư. Mỗi người tạo nên một phong cách làm cho truyện ngắn giống một nguồn mạch có nhiều dòng chảy, bởi vậy truyện ngắn đa chiều và phong phú, không đơn điệu tẻ nhạt.
Các tác giả viết truyện ngắn trong thời kỳ đổi mới đã thôi vào truyện ngắn một luồng gió mới, trần trụi hơn, thật hơn, đời hơn. Cấu trúc truyện ngắn của họ không chỉ là mặt phăng, mà đã có cái gì như thể không gian đa chiều. Đọc truyện ngắn thời kỳ đổi mới ít nhiều đã thấy các tác giả đang có xu hướng không còn quá lệ thuộc vào những điều mà thế hệ đi trước, bằng nhiều nguyên do, phải gánh, đã thấy được sự bứt phá khỏi những ràng níu của một thời. Bởi vậy truyện ngắn đã có sự khoáng đạt, hồn nhiên, cởi mở và trí tuệ.
Đã có những xoay trở nhằm kéo truyện ngắn về với phong cách mới, gần với đời thường, trong ý thức rạch ròi, gọi đúng tên các hiện tượng của đời sống, chỉ đích danh sự vật. Phương cách thé hiện cũng nhiều chiều, thậm chí mượn sự không có thật, phi lý như phương tiện dẫn giải dé đạt được điều muốn nói nhằm tỏ thái độ với cái xấu, cô xuý cho cái tốt, qua đó gợi mở, đánh thức tư duy người đọc. Điều này 13 không mới, song so với những gì đã có trước đây, trong xu hướng thiên về sự phăng lặng, rành mạch, có hậu thì có thé coi lối thé hiện này như một đột pha. Có thê nói truyện ngắn thời kỳ này mang đậm ý thức cảnh báo, dự báo.
Đó không gì khác hơn chính là ý /ức phản tinh, phan tu - một trong những thuộc tính cần có của văn chương. Ý thức phản tỉnh trong tác phẩm văn học làm nên tính nhân bản của nó.