Chương 1: Khái lược về Biểu tượng và hành trình sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái và Nguyễn Bình Phương 1. Giới thuyết khái niệm Biểu tong 1. Một số định nghĩa về Biểu trợng Thuật ngữ Biểu tượng trong tiếng Việt có xuất xứ từ thuật ngữ Symbole trong tiếng Pháp. Thuật ngữ này được dịch sang tiếng Việt thành Biểu tượng hoặc Tượng trưng.
Tuy nhiên, trong tiếng Việt, khái niệm 7ượng rưng không năm cùng bình diện với Biểu tượng. Cách dịch thành Biểu tượng được chấp thuận rộng rãi hơn. Biểu tượng là một khái niệm rất quen thuộc trong đời sống thường ngày cũng như trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Tuy vậy, đây lại là một khái niệm vào loại rất phức tạp và chưa có sự đồng thuận trong cách hiểu cũng như cách sử dụng.
Ngày nay, trong xu thế phát triển vừa chuyên sâu vừa liên thông với nhau, các ngành khoa học gặp gỡ nhau ở sự phát hiện và khăng định vai trò của biểu tượng trong đời sống con người, và cùng hợp lực trong hành trình tiếp cận bản chất biéu tượng. Từ những góc độ của các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, người ta đã khám phá ở biêu tượng nhiêu khía cạnh, chúng vừa bô sung lân nhau, vừa có thê trái 19 ngược nhau, cho ta hình dung về tính năng động và sự đa diện của khái niệm này. Sau đây, chúng tôi xin nêu lên một số định nghĩa, kiến giải tiêu biéu về biểu tượng. Trong Từ điển tiếng Việt, trên cơ sở khảo sát cách dùng thuật ngữ biểu tượng trong đời sống hàng ngày, các soạn giả đã nêu lên ba nét nghĩa của biêu tượng.
Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên hai nét nghĩa có liên quan dến cách hiểu biểu tượng của luận văn: 1. Hình ảnh tượng trưng. Hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt. Ở định nghĩa này, cần lưu ý: Ở nét nghĩa thứ nhất, hình ảnh tượng trưng được hiểu là một sự vật cụ thể có hình thức hoặc tính chất thích hợp dé gol ra su liên tưởng đến một cái trừu tượng nào đó.
Còn nét nghĩa thứ hai được rút ra từ tâm lý học Macxit. Ngày nay, trong các ngành PR, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm, xây dung thương hiệu, và cả trong kỹ thuật tuyên truyền chính trị. người ta sử dụng biểu tượng như một hình thức tín hiệu đầy tiềm năng thông tin và có khả năng tác động mạnh mẽ. Trong cuốn Biểu trung, tác giả Nguyễn Duy Lam, trên cơ sở tìm hiểu, so sánh, đối chiếu biểu tượng với các dạng thức tín hiệu như biểu trưng, phù hiệu, huy hiệu, kí hiệu, huy chương, huân chương.
đã kết luận: Biểu tượng là hình thức tín hiệu có nội hàm phong phú hon cả. Tác giả cho răng: “Biểu tượng là những hình tượng ẩn dụ, mang sức mạnh của tâm thức, thường được bảo ton lâu bên trong kí ức con người ” [18]. Hầu hết các ngành khoa học, đặc biệt là các ngành khoa học xã hội và nhân văn như lịch sử các nền văn minh, các tôn giáo, ngôn ngữ học, tâm lý học, y học. đều quan tâm và có những kiến giải riêng về biểu tượng.
Trong lịch sử phát triển của mỗi ngành, ở các trường phái, khuynh hướng, trào lưu với những gốc rễ tư tưởng triết học khác nhau, quan niệm về biểu tượng di nhiên không thuần nhất. Giữa một sự ngôn ngang như vậy của những cách hiểu khác nhau, các soạn giả công trình Ti điển biểu tượng văn hoá thé giới phải có một sự nỗ lực rat lớn dé 20 có thé tong thuật những thông tin cơ bản, tiêu biểu về biểu tượng xoay quanh trục văn hoá, và có một sự tiếp cận hợp lý về mặt thuật ngữ mà không làm khái niệm trở nên chết cứng. Sau khi so sánh biểu tượng với các dạng dấu hiệu, ký hiệu; các soạn giả đã phân tích ban chất khó xác định và sống động của biểu tượng các chức năng của biểu tượng và điểm qua những cách phân loại biểu tượng nổi bật. Tất nhiên ở một mức độ nào đó, những ý kiến được lựa chọn nêu ra ở đây là phù hợp với quan niệm các soạn giả.
Lần theo lịch sử biểu tượng, khi nói đến những sự vật có thé mang gia tri biểu tượng, các soạn giả đã dẫn ra ý kiến của Pierre Emmanuel: “Vat ở đây không chỉ là một sinh thể hay một sự vật thực mà cả một khuynh hướng, mot hình anh ám ảnh, một giác mơ, một hệ thống định đề được ưu tiên, một hệ thuật ngit quen dùng. tắt cả những gì có định năng lượng tâm thân hay huy động năng lượng ấy vì lợi ích riêng của minh. Như vậy, vật mang giá trị biểu tượng có thé là một vật cụ thê hoặc vật trừu tượng. Chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi phần lớn các ý kiến được trích dẫn là của các nhà phân tâm học - những nhà tiên phong vĩ đại trong việc phát giác và khảo sát lĩnh vực vô thức của con người.
Với những khám pha táo bạo của mình, họ đã làm sáng tỏ cấu trúc chiều sâu của đời sống tâm linh con người với sức mạnh, vai trò của vô thức. Họ cũng đưa ra những lý giải thú vị và sâu sắc những hiện tượng tâm linh bấy lâu vẫn chìm trong bóng tối. Biểu tượng được các nhà Phân tâm học quan tâm một cách đặc biệt, thậm chí trở thành một trong những đối tượng khảo sát chủ yếu, bởi rằng, theo họ, đây là những cầu nối hiếm hoi bắc từ ý thức qua vô thức; là những tia sáng vừa phát lộ vừa che lấp phát ra từ miền nội tâm của con người. Freud cho rằng: “Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đội.
Biểu tượng là moi liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của ching” |4, tr. Như vậy, theo Freud, biểu tượng luôn là tiếng nói của những ham muôn bị dôn nén, những xung đột chìm sâu trong vô thức con 21 người. Cũng cần lưu ý rằng, những ham muốn ở đây, theo Freud, là những ham muốn tính dục.Jung - môn đệ xuất sắc của Freud - với hướng đi riêng của mình, đã có rất nhiều đóng góp có giá trị trong kiến giải biểu tượng. Từ lý thuyết về vô thức tập thể, Jung cho rằng tất cả những biểu tượng của con người dù phong phú đa dạng đến đâu, đi đến tận cùng, đều có cau trúc là những Mẫu gốc.
Mẫu gốc là những vết tích tâm lý hình thành từ thời nguyên thuỷ, di truyền theo loài và tạo thành những cấu trúc tâm thần phổ biến của loài người. Thực ra, đây là sự kết tinh của vô số những kinh nhiệm, những tình huống cảm xúc của loài người. Biểu tượng mẫu gốc, do đó, nối liền cái phổ quát với cái cá thể. Jung đã đưa ra định nghĩa trong đó nêu bật được những đặc tính, những giá trị cơ bản của biểu tượng: “Biểu tượng là hình ảnh thích hop chỉ ra đúng hon cả cái bản chất ta mơ hồ nghỉ hoặc cua tâm linh.
biểu tượng không bó chặt gì hết, nó không cắt nghĩa, nó đưa ta ra bên ngoài chính nó đến mộtý nghĩa còn nằm ở tận phía xa kia, không thé nắm bắt; được dự cảm một cách mơ ho, và không có từ nào trong ngôn ngữ chúng ta có thể diễn đạt thoả đáng” [4. Nói đến tính chất sống động, khả năng đánh thức những sức mạnh tâm linh con người của biểu tượng, Jung cho rằng, biểu tượng sống là “biểu hiện tuyệt dinh cua cai được dự cảm nhưng còn chưa nhận ra được”, và “nó giục gọi v6 thức tham gia, nó đẻ ra sự sống và kích thích sự sống”. Vì vậy, biêu tượng có thê tạo nên những âm vang đồng vọng sâu xa trong con người, cuốn con người tham gia cùng nó trong một quá trình sản sinh ý nghĩa. Định nghĩa của R.de Becker đã nói đến tính chất này của biểu tượng: “Có thé vi biểu tượng như một khôi tinh thé phục nguyên lại theo cách khác nhau nguồn sáng tuỳ theo từng mặt tỉnh thể tiếp nhận ánh sáng.
Và ta còn có thể nói nó là một thé sống, một mẫu của con người ta đang chuyển động và biến doi. Đến cứ nhìn ngắm nó, nắm bắt nó như là doi tượng của suy ngẫm, thì cũng tức là ta đang nhìn ngắm chính cái quỹ đạo ta sắp lan theo, ta nam bắt cái hướng vận động đang lôi kéo con người ta di toi” [4, tr. Tuy nhiên, tính chất này của biểu tượng phụ thuộc nhiêu vào chủ thê tiêp nhận. Sự thụ cảm biêu tượng đòi hỏi ở con người một 22 thái độ nhập cuộc thực sự dé tham gia vào biểu tượng băng tất cả con người mình.
Mặt khác, mỗi biểu tượng có thể xem như một vũ trụ tinh thần thu nhỏ với quy luật riêng, toạ độ riêng của nó. Do đó, dé nắm bắt biểu tượng cần phải đặt nó vào “dung môi” nuôi song nó, tim ra cai tọa độ ma nó tồn tại. Trên đây là những lý giải về biểu tượng đã được các soạn giả Tir điển biểu tượng văn hoá thé giới trích dan trong phần Mo ddu của công trình. Những kiến giải đó phan nao làm sáng tỏ nguồn gốc, cấu trúc, tính chất của biểu tượng trong đời sống văn hoá nhân loại.
Cũng trong phan này, các soạn giả đã tiến hành sự trừu xuất và phân tích các chức năng của biểu tượng. Tóm lại có các chức năng sau: 1- thăm dò những vùng miền nằm bên lề ý thức; 2- là vật thay thế “cái không xác định của dự cảm”; 3- trung gian: nối liền thực và mộng, ý thức và vô thức, vật chat và tinh thần, tự nhiên và văn hoá; 4- là lực thống nhất - liên kết các chiều sâu nội tại với cái siêu tai vô tận; 5- giáo dục va tri liệu; 6- xã hội hoá, nghĩa là đưa con người nhập sâu vao hiên thực, tao sự lưu thông sâu sắc với môi trường xã hội; 7- cộng hưởng: tạo âm vang rung động trong ý thức cá nhân và tập thé; 8- chức năng siêu nghiệm: kết nối, điều hoà những lực lượng đối kháng, mở đường cho sự tiến bộ của ý thức; 9- chức năng biến đồi năng lượng tâm than. Đây chỉ là một sự trừu xuất có ý nghĩa thao tác. Các tác giả cũng đã lưu ý rằng, trên thực tế, những chức năng này được thực hiện đồng thời trong một mối quan hệ tương hợp, chỉ phối lẫn nhau.