phần mở đầu của cuốn “Văn chương như là quá trình dụng điển của mình”, tác giả Ngô Tự Lập đã đưa ra Sơ đồ Aristotle và đánh giá của chủ nhân “Chiếc gương và ngọn đèn”: Lý thuyết lang mạn và truyền thống phê bình (1953) như sau: “Mặc dù bất kỳ lý thuyết nào cũng đều có tính đến cả bốn yêu tố, nhưng mỗi lí thuyết chỉ chủ yếu hướng đến một yêu tô mà thôi. Điều này có nghĩa là các nhà nghiên cứu có xu hướng chọn một trong bốn yếu tổ làm nền tang cho quá trình đánh giá, nghiên cứu và phân tích tác pham nghệ thuật, cũng như làm cơ sở quan trọng dé đánh giá”. Các yếu tô theo như M.Abrams nhắc đến gồm tác phẩm, tác giả, độc giả và thực tại, mà trong đó, tác phẩm chính là yếu tố trung tâm. Ngô Tự Lập từ đó đã đi đến kết luận: Các lý thuyết văn học tiếp cận văn chương theo rất nhiều cách khác nhau và có thé được phân loại khác nhau tùy thuộc vào tiêu chí đánh giá.
Tuy nhiên, có một điểm chung vô cùng thú vị mà không thé nao chối cãi: Tác phẩm văn học sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, trong đó không thê thiếu vắng sự ảnh hưởng của nhà văn đối với tác phẩm cũng như xã hội, dù cho các yêu tô này tham gia sáng tác với các mức độ khác nhau. Về cơ bản, tiếp nhận văn học là một cuộc g1ao tiếp đối thoại trên cơ sở tự do sáng tạo giữa đối tượng là độc giả và tác giả thông qua hình thức biểu hiện là tác phẩm. Tại đó độc giả có cơ hội cụ thể hóa, hiện thực hóa tác phẩm trong trí tưởng tượng của mình. Trong quá trình sáng tác, người đọc có thể gặp gỡ với nhà văn, năm được tư tưởng của nhà văn, nhưng cũng có thể rời xa hoặc quá xa so với người sáng tác.
Sự thụ hưởng văn chương còn có công dụng đây mạnh sáng tạo văn chương, khiến cho tác phẩm không tĩnh lặng mà liên tục phát triển, trở nên phong phú hơn trong cuộc sống lich sử văn chương và dan trở thành đời sống lịch sử của tác phẩm. Nếu lý thuyết tiếp nhận truyền thống chi tập trung vào sự tương tác giữa hai chủ thể cá nhân của nhà văn và độc giả, của hai "thế giới nội tam" đối lập của II ý thức (và vô thức) nhà văn và độc giả, thì lý thuyết tiếp nhận hiện đại tập trung vào phương diện xã hội, sự ràng buộc và lịch sử của mối gap gỡ nay. Y nghia cua ly thuyết tiếp nhận hiện đại là giải thích được cơ chế hoạt động cua sự tiếp nhận và qua đó cho thấy sự tồn tại thực sự của nhà văn cũng như sỐ phận lịch sử của tác phẩm. Nhiều nhà lý thuyết tiếp nhận hiện đại nổi tiếng như H.
đồng thuận rằng, tác phẩm văn học là một “dé án tiếp nhận”, một “tiềm năng dé tiép nhận”, một “kết cau vẫy gọi”, một “chương trình nhận thức”, một “sơ dé”. Muốn được như vậy thì chính bản thân tác phâm văn chương ấy phải giàu “tiềm năng”, có khả năng mở ra những miền tiếp nhận nơi mà những người đọc bi ẩn - những độc giả được trông đợi trong hệ thống kết cấu của văn bản.Khrapchenco vi tác phẩm văn chương như một chiếc máy thu có nhiều dai sóng mà người đọc - hay nói một cách khác là bạn đọc - chính là kẻ chỉnh sóng dé tìm bắt cho đúng đối tượng mà mình mong đợi. Người có khả năng quyết định số phận của tác phẩm không ai khác ngoài thé hệ người đọc mà ở đây, hành động trực diện cần phải nhắc đến đó chính là tầm đón. Tầm đón là khái niệm được K.Mannheim nêu ra, sau được Jauss - nhà phê bình văn học người Đức ứng dụng vào văn chương.
Trên quan điểm của ông, tầm đón là tiền đề dé người đọc tiếp nhận một sáng tác văn chương. Tam đón bao gồm kinh nghiệm và kiến thức từ những tác phẩm đã đọc, sự tiếp xúc với các hình thức và phương tiện văn học khác nhau cùng những điều kiện cá nhân nhất định (hoàn cảnh kinh tế), chính trị, trình độ học van, kinh nghiệm và trải nghiệm sống, Sự hứng thú và yêu thích văn chương, sở thích cá nhân, tính cách và phâm chat. Nhà phê bình người Đức nói rằng tầm đón thể hiện ở ba khía cạnh cụ thé: sự quan tâm và đòi hỏi về hình thức, phong cách và thi pháp của tác phẩm, liên kết với các hình thức của giới đã biết; năng lực tri giác, mức độ diễn giải gắn với bối cảnh lịch sử và văn học nhất định; và sự tương phản giữa tưởng tượng và hiện thực, giữa chức năng thực tế và nghệ thuật của ngôn ngữ. 12 Đồng quan điểm với các nhà lý thuyết tiếp nhận hiện đại, nhất là đối với nhận xét của Jauss, rằng tính lịch sử của văn chương xuất phát từ những trải nghiệm của độc giả đối với tác phẩm, Jauss khiêm tốn nhận thấy rằng mỹ học tiếp nhận là một phương pháp với nền tảng vẫn chưa chắc chắn hoàn toàn, cần phải đóng góp thêm dé nghiên cứu nghệ thuật có thể đạt tới sự mới mẻ hiện tại; nó không phải là một bộ môn độc lập, xây dựng nên một hệ tiền đề có khả năng tự mình giải quyết mọi vấn đề gặp phải, mà nó là một sự suy tư phương pháp luận cục bộ có thé kết hợp với các phương pháp khác và được bồ sung bởi chúng dé đạt tới kết quả của mình.
Nhờ những công trình lý luận về tiếp nhận văn học được dịch và giới thiệu đồng thời được ứng dụng thực hành lí thuyết vào những trường hợp cụ thể, mà trong gần năm mươi năm qua, giới văn học nước nhà đã dần ý thức sâu sắc, trong hai loại lịch sử khác nhau của tác phẩm văn học là lịch sử sáng tạo và lịch sử tiếp nhận thì lịch sử tiếp nhận mang một vai trò đặc biệt quan trọng. Nguyên do là bởi, loại lịch sử này vừa khiến cho tác phâm trở nên giàu có, phong phú hon han chính bản thân chúng, vừa mở rộng và thậm chí còn làm thay đôi tầm nhìn, đọc, hiểu và cảm nhận của người đọc, khi mà theo thời gian, mỗi người đều đã có cơ hội cọ xát đối thoại với rất nhiều nghệ thuật khác cả trên hai chiều đồng đại và lịch đại. Đặc biệt, đối với một hiện tượng văn học gây nhiều làn sóng tiếp nhận trái chiều, thì việc phục dựng lại cái diễn trình lịch sử mà nó được đọc, được diễn dịch, được đánh giá sẽ giúp làm sáng tỏ nhiều vẫn đề quan trọng, không chỉ liên quan đến “đời sống” của nó - cái đời sống riêng năm ngoài khả năng can dự kiêm soát của tác giả - mà còn liên quan đến các lĩnh vực khác nhau của nghiên cứu văn học như lịch sử văn học, lí luận văn học, phê bình văn học. Chang hạn, thơ Lê Dat, Đặng Dinh Hưng, Dương Tường, Hoàng Hưng là hiện tượng gây nhiều tranh cãi, nhiều chiều hướng tiếp nhận.
Những tập thơ "lạ" được cho răng phản ánh chủ nghĩa hiện đại, như Ba sáu bài tình (Lê Đạt - Dương Tường), Ngựa biển, Người di tim mặt (Hoàng Hưng), Bóng chữ (Lê Đạt), Bến lạ, 13 Ô mai (Đặng Đình Hưng) đã được giới thiệu vào cuối những năm 80 của thé ki XX. “Cách tân” hay là “giết thơ”? “Thơ đến tận cùng” hay là “phản thơ” là những luồng ý kiến trái chiều xoay quanh những tác phẩm này. Nghiên cứu thực tiễn tiếp nhận thơ đa chiều, phức tạp của nhóm tác gia này, kế từ khi các tập thơ của họ hoặc lần lượt hoặc đồng thời xuất hiện trên thi đàn, sẽ mang lại những kết quả thú vị về tiếp nhận văn hoc. Gan với những khung lí thuyết như ngôn ngữ học, phân tâm học, cấu trúc luận, hình thức luận, hiện tượng luận, “phê bình mới”., một bộ phận người đọc thơ Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Hoàng Hưng không nhất nhất đi tìm “nghĩa” của những từ/ câu/ đoạn/ bai, không lấy việc “hiểu” làm mục đích, chỉ cần bài thơ mang lại cho họ một cảm giác một ấn tượng là đủ; ngược lại, một bộ phận người đọc không lay những lí thuyết này làm khung nhận thức, bat lực trong việc cắt nghĩa thơ nên cho thơ của các nhà thơ kê trên là “hũ nút”, là “phản thơ”.
Không thé lay sự đánh giá của đại chúng làm tiêu chuẩn của sự sáng tạo. Với những thi phẩm “lạ” gây tranh cãi, gây những làn sóng tiếp nhận trái chiều thì không thê lấy “đa số thắng thiểu số”, lấy “chúng khẩu đồng từ” làm chân lí. Sự tiếp nhận đáng tin cậy là sự tiếp nhận của những “người đọc lí tưởng”, những “siêu người đọc”. Nhưng, nhận diện người đọc đáng tin cậy cũng chỉ là sự nhận diện chủ quan, và bản thân người đọc tưởng là đáng tin cậy đó thực ra cũng là một khối chủ quan, đầy thiên kiến và giới hạn.
Lý thuyết tiếp nhận văn học nhắn mạnh vào sự tương tác giữa tác phẩm văn học và người đọc dé tạo ra ý nghĩa. Việc tiếp nhận văn học là một hoạt động của người đọc dé tiếp thu và kiến giải những giá trị tư tưởng và thâm mỹ mà tác pham văn học đem lại. Người đọc cảm nhận sự đặc sắc của ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật và tài nghệ tác giả dé hiểu va tao ra sản pham mới trong hoạt động sáng tạo của minh. Trong quá trình tiếp nhận văn học, người đọc học hỏi được những kiến thức, kinh nghiệm về đời sống, tư tưởng và tình cảm cũng như nâng cao năng lực cảm thụ và tư duy.
Điều đó giúp 14 tác phâm trở nên sống động và tinh tế hơn. Tiếp nhận văn học là cuộc giao tiếp đối thoại tự do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm. Nó đòi hỏi người đọc cần tham gia với trai tim, khối óc, hứng thú, vốn tri thức và sức sáng tạo của mình. Trong quá trình tiếp nhận, người đọc đặt mình trong một tâm trạng đặc biệt, vừa quên minh, vừa sống và trải nghiệm nội dung của tác phẩm, vừa giữ khoảng cách thâm mỹ dé đánh giá tác phẩm từ bên ngoài.
Ở một phương diện khác, người đọc nhờ tác phẩm mà tìm thấy nhiều chiều sâu, ý nghĩa khác nhau, hoặc thậm chí phát hiện các giá trị thẩm mỹ mà tác giả không có ý định truyền tải. Tiếp nhận văn học là một hoạt động sáng tạo có quy luật riêng. Nó tác động tích cực đến sự ảnh hưởng của văn học, giúp tác pham không ngừng phát triển và phong phú thêm trong lịch sử văn học.