Chương 1: Đề tài thế sự trong tiểu thuyết Việt Nam và sự xuất hiện của tiểu thuyết Biển và chim bói cá (Bùi Ngọc Tấn) và Gã tép riu (Nguyễn Bắc Sơn) trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại Chương 2: Bức tranh thế sự trong tiểu thuyết Biển và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn và Gã tép riu của Nguyễn Bắc Sơn Chương 3: Phương thức thể hiện đề tài thế sự trong tiểu thuyết Biển và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn và Gã tép riu của Nguyễn Bắc Sơn Và cuối cùng là danh mục Tài liệu tham khảo 11 z CHƢƠNG 1: ĐỀ TÀI THẾ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA TIỂU THUYẾT BIỂN VÀ CHIM BÓI CÁ (BÙI NGỌC TẤN) VÀ GÃ TÉP RIU (NGUYỄN BẮC SƠN) TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI 1.1 Đề tài thế sự trong tiểu thuyết Việt Nam 1.1 Khái niệm đề tài văn học Trong lý luận văn học, đề tài là một khái niệm hết sức quan trọng. Cùng với khái niệm chủ đề, nó góp phần chủ yếu thể hiện phương diện khách quan của nội dung tác phẩm văn học. Văn học nhận thức và thể hiện cuộc sống. Đời sống là nơi xuất phát của văn học, là nguồn tư liệu phong phú, vô cùng vô tận cho các nhà văn khai thác.
Trong cái bao la đó, tùy theo vốn sống, sở trường và niềm quan tâm của riêng mình, tùy theo những đòi hỏi của thời đại mình, nhà văn thường hướng về một phạm vi nhất định của hiện thực khách quan, lấy phạm vi ấy làm cơ sở cho lao động sáng tạo. Phạm vi ấy chính là đề tài. Như vậy, phạm vi cuộc sống mà nhà văn miêu tả trong tác phẩm văn học gọi là đề tài. Cụ thể hơn, đề tài của tác phẩm là lĩnh vực đời sống mà tác phẩm phản ánh, là bộ phận của hiện thực khách quan được nhà văn chọn lựa để khai thác, khái quát tài liệu, từ đó xây dựng nên tác phẩm.
Nói một cách vắn tắt, chỉ ra đề tài của tác phẩm tức là chỉ ra tác phẩm ấy miêu tả cái gì, viết về cái gì? Mỗi nhà văn tuy viết nhiều, nhưng thường quen thuộc một số đề tài nhất định, nghĩa là cuộc sống thì trăm hình muôn vẻ nhưng nhà văn chỉ khai thác một mặt nào đó mà họ thành thuộc, am hiểu và thiết tha thể hiện. Sáng tác của Nam Cao xoay quanh hai đề tài: đời sống nông dân và những người tiểu tư sản trí thức (Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn, Trăng sáng…); Tô Hoài, Nguyên Ngọc hiểu sâu kỹ những cảnh, những người miền núi (Truyện Tây Bắc, Đất nước đứng lên, Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng…); còn Võ Huy Tâm sống nhiều ở vùng mỏ nên thường hướng đến thể hiện những việc, những người ở những vùng than, vỉa than (Vùng mỏ, Những người thợ mỏ…). 12 z Tầm quan trọng của khái niệm đề tài là ở chỗ, nếu chưa nhận ra đề tài, thì chưa bước vào tiếp nhận hình tượng. Tuy nhiên từ hiện tượng nghệ thuật sinh động nhận ra đối tượng được phản ánh trong tác phẩm không phải là một việc dễ dàng.
Chúng ta lấy một ví dụ hội họa: đề tài bức tranh Đức mẹ của Raphaen chẳng hạn. Về đề tài bức tranh này, có nhiều cách hiểu khác nhau. Có ý kiến cho rằng nhân vật trong bức tranh là người đàn bà quý tộc, dựa trên thái độ nghiêm trang, kiêu hãnh của người mẹ và đứa bé. Ý kiến thứ hai dựa vào trang phục giản dị cho rằng đó là người đàn bà thôn quê.
Ý kiến thứ ba lại cho rằng đó là người mẹ bình thường mang niềm tự hào kiêu hãnh trần tục. Như vậy, với ba đề tài khác nhau, ta có ba hình tượng khác nhau. Bản thân việc nhận ra đề tài quyết định đến hình tượng của bức tranh như thế nào. Tầm quan trọng của việc xác định đề tài còn ở chỗ góp phần giúp chúng ta khái quát phong cách nghệ thuật của nhà văn.
Bởi vì trong sáng tác, nhà văn bao giờ cũng hướng về những lĩnh vực đời sống mà mình thích thú và quen thuộc nhất, hướng về những hiện tượng đời sống mà mình thực sự xúc động để sáng tạo nên tác phẩm, do đó sự quan tâm đến những đặc điểm của đề tài trong hàng loạt tác phẩm giúp chúng ta tìm hiểu một số phương diện thuộc thế giới nghệ thuật của nhà văn cũng như phần nào khái quát được phong cách nghệ thuật của nhà văn đó. Sự khảo sát tác phẩm ở phương diện đề tài còn là cơ sở quan trọng để chúng ta hình dung nhìn nhận và đánh giá các trào lưu văn học cũng như nền văn học của cả một thời kỳ lịch sử. Nhìn vào các trào lưu văn học, các phương pháp sáng tác đã tồn tại trong lịch sử chúng ta dễ dàng nhận ra mỗi trào lưu và phương pháp sáng tác thường có những đề tài cơ bản của mình. Hiện tượng đó càng thêm nổi bật khi chúng ta so sánh hệ thống đề tài khác nhau của các trào lưu văn học và phương pháp sáng tác cùng tồn tại ở một giai đoạn văn học.
Sự khác biệt rõ rệt về đề tài giữa các tác phẩm của ba dòng văn học lãng mạn, hiện thực và cách mạng ở giai đoạn 1930 – 1945 trong văn học Việt Nam là một ví dụ. 13 z Đề tài văn học cũng có những giới hạn phạm vi rộng hẹp khác nhau. Đó có thể là một giới hạn bề ngoài như đề tài loài vật, đề tài sản xuất, đề tài kháng chiến chống Mỹ, đề tài bộ đội Trường Sơn, đề tài tiểu tư sản, đề tài nông dân… Tuy nhiên đối tượng nhận thức của văn học là cuộc sống, con người với tính cách, số phận và quan hệ nhân sinh phức tạp của nó. Do đó cần đi sâu vào phương diện bên trong của đề tài.
Đó là cuộc sống nào, con người nào được miêu tả trong tác phẩm. Tác phẩm Tắt đèn thể hiện cuộc sống bế tắc tan vỡ của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Sống mòn của Nam Cao thể hiện cuộc sống quẫn bách mỏi mòn của tầng lớp trí thức nghèo. Đề tài Ơgiêni Grăngđê là tấn bi kịch gia đình tư sản trong thời kỳ tích lũy tư bản chủ nghĩa.
Đề tài Thép đã tôi thế đấy là cuộc sống anh hùng của thế hệ thanh niên Xô Viết những năm sau Cách mạng tháng Mười. Mỗi nhân vật trong tác phẩm cũng đều có thể tiêu biểu cho một đề tài. Chị Dậu là một nông dân, vì suất sưu của chồng và em chồng mà chồng chị bị đánh, bị trói, con chị bị bán, bản thân đi ở vú còn chịu bao nỗi tủi nhục, tiền đồ của chị “tối đen như mực” ở cuối tác phẩm… thì đề tài tác phẩm là số phận bi thảm của người nông dân ta trước Cách mạng. Nàng Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng vì tình thế bắt buộc phải bán mình chuộc cha, thân phận lưu lạc suốt mười lăm năm trời chịu đựng biết bao khổ đau bầm dập, lúc làm kỹ nữ, lúc là con ở, khi lại làm lẽ, khi thành ni cô…cuối cùng phải tự tử ở sông Tiền Đường thì đề tài chủ yếu của tác phẩm là số phận bất hạnh của người tài hoa, người phụ nữ trong xã hội cũ.
Khái niệm đề tài cũng được chia ra làm nhiều loại, gọi là loại đề tài. Khái niệm loại của đề tài gắn liền với loại hiện tượng lịch sử xuất hiện trong đời sống. Chẳng hạn, có thể bắt gặp loại đề tài về số phận người chinh phụ, cung nữ, người tài hoa trong sáng tác của Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu nổi lên loại đề tài những người trung nghĩa.
Văn học Nga thế kỷ XIX hình thành loại đề tài về những “con người thừa”, đề tài những người tháng 14 z Chạp, đề tài những người hư vô chủ nghĩa, đề tài con người nhỏ bé, đề tài phàm tục tiểu tư sản… Tóm lại, đề tài là cơ sở để nhà văn khái quát những chủ đề, xây dựng những hình tượng, những tính cách điển hình. Việc xác định đề tài cho phép liên hệ nội dung tác phẩm với một mảnh đời sống nhất định của thực tại. Đề tài có thể nói là cửa ngõ quan trọng để người đọc đến với thế giới nghệ thuật mà nhà văn vẽ nên trong trang sách.2 Những loại đề tài chủ yếu trong tiểu thuyết Việt Nam Trong chiến tranh, nền văn học luôn cùng chung vận mệnh và đồng hành cùng dân tộc qua những thăng trầm của lịch sử. Khi hòa bình lập lại, nhất là từ đầu những năm 80 trở đi, văn học có nhiều biến đổi sâu rộng.
Trong quá trình vận động và cách tân văn học, tiểu thuyết là thể loại được quan tâm nhiều nhất. Từ sự cách tân về hình thức nghệ thuật đến sự đổi mới về nội dung đề tài, tiểu thuyết Việt Nam đang dần hòa nhập vào quỹ đạo văn chương thế giới. Một khuynh hướng nổi bật trong tiểu thuyết Việt Nam những năm sau giải phóng là xông thẳng vào thực tại, trực tiếp viết về các vấn đề sản xuất, quản lý kinh tế - xã hội, vấn đề đội ngũ tri thức trẻ trước vận hội mới chiếm một số lượng lớn các tác phẩm được in trong vòng một phần tư thế kỷ sau khi đất nước hòa bình và thống nhất. Người ta gọi là tiểu thuyết về đề tài sản xuất hay tiểu thuyết viết về đề tài nóng… Cách gọi khác nhau nhưng đều chỉ ra tính thời sự của tác phẩm tiểu thuyết bám sát các diễn biến đời sống trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Đầu những năm tám mươi của thế kỷ XX xuất hiện một số tác phẩm viết trực diện về “khoán 10 trong nông nghiệp” của Đào Vũ (Bí thư cấp huyện), của Nguyễn Kiên (Nhìn dưới mặt trời), của Nguyễn Phan Hách (Tan mây), của Nguyễn Hữu Nhàn (Dốc nắng)… Dòng tiểu thuyết thời sự này là sự nối tiếp tiểu thuyết Cù lao chàm, Đứng trước biển của Nguyễn Mạnh Tuấn, Chân dung một quản đốc của Nguyễn Hiểu Trường, Giấy trắng của Triệu Xuân, Mưa mùa hạ của Ma Văn Kháng, Đồng chiêm của Hoàng Minh Tường, 15 z Đối thoại sông Đà của Trần Chinh Vũ, Đất mặn của Chu Văn, Hạt mùa sau của Nguyễn Thị Ngọc Tú… Xu hướng tiểu thuyết này thể hiện sự dấn thân, nhập cuộc của nhà văn vào khả năng đáp trả nhạy bén các vấn đề bức xúc của đời sống xã hội.