phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc triển khai thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Các vấn đề lí luận và thực tiễn Chƣơng 2: Thơ vịnh vật của Hồ Xuân Hƣơng trong cái nhìn so sánh với Hồng Đức quốc âm thi tập Chƣơng 3: Thơ vịnh cảnh của Hồ Xuân Hƣơng trong cái nhìn so sánh với Hồng Đức quốc âm thi tập Chƣơng 4: Thơ vịnh cảnh sinh hoạt, lao động của Hồ Xuân Hƣơng trong sự so sánh với Hồng Đức quốc âm thi tập 10 NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CÁC VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm Theo Từ điển Thuật ngữ văn học “Vịnh” ( văn học) là làm thơ với cảm hứng hƣng phấn, nhằm luận bàn hoặc miêu tả cảnh vật, con ngƣời, vịnh là để cho lời thơ sâu rộng, ý thơ dâng trào cảm xúc, lời hay, ý đẹp, kính cẩn và thƣờng có ngụ ý, tƣ tƣởng sâu xa,…”. “Đề là làm thơ về một cảnh, một vật nào đó” (chùa chiền, hang động, sự vật - cây đánh đu…)[12].
Đề vịnh là lối thơ không đơn thuần miêu tả đối tƣợng mà là sự biểu tƣợng hóa đối tƣợng, tức là trao cho đối tƣợng đề vịnh một ý nghĩa nào đó. Việc biểu tƣợng hóa này phụ thuộc vào quan điểm đạo đức - thẩm mỹ của tác giả; tƣợng trƣng khác nhau thì ý nghĩa biểu tƣợng cũng sẽ khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã ý thức về vấn đề này từ lâu: Lê Trí Viễn trong “ Đặc trƣng của văn học Trung đại Việt Nam”đã dẫn lý luận của B. Suskov về ý nghĩa ngụ ý , ý nghĩa tƣợng trƣng của thế giới hiện thực đƣợc miêu tả trong thơ văn: “Sinh hoạt hàng ngày đƣợc mô tả một cách kỹ lƣỡng và chi tiết, đối với ngƣời cầm bút viết hoặc cầm bút vẽ thời trung đại đó là tồn tại thứ cấp.
Xu hƣớng nhìn thấu sau cái vỏ ngoài của thế giới thực tại sờ sờ trƣớc mắt nghệ sĩ một thực tại khác, thực tại tinh thần, những điều này không những đã sản sinh ra chủ nghĩa tƣợng trƣng mà còn dẫn tới lối diễn đạt ngụ ý của nghệ thuật trung đại”.70] Trần Đình Hƣợu phân tích cơ sở triết học của hình tƣợng sự vật trong thơ văn nhà nho : “Vật hay thế giới khách quan vốn đa dạng, khác biệt nhau có tác động kích thích tình và dục, có tác động phân tán tâm và chí cho nên thánh nhân làm thơ làm nhạc không chỉ là tránh dục mà còn giữ gìn cẩn thận với vật, không chạy theo cái đa dạng khác biệt của nó mà tìm trong đó cái chung, cái có ý nghĩa. Đọc Luận ngữ ta thấy Khổng Tử nói về mấy trƣờng hợp về hiện tƣợng tự nhiên:Trị dân bằng đức giống nhƣ sao Bắc thần đứng ở chỗ của nó mà các sao khác đều hƣớng về (Luận ngữ 2-1); Khổng Tử đứng trên sông nói : Đi mãi là thế này ƣ ? Ngày đêm chảy mãi không ngừng (Luận ngữ 9-17); (Khổng Tử đi trên núi, gặp mấy con gà gô). Sắc mặt (Khổng Tử ) thay đổi, gà gô bay ngay, liệng vòng rồi mới 11 đậu lại. Khổng Tử nói : Đám gà gô trên núi này biết thời cơ làm sao ! Biết thời cơ làm sao ! (Luận ngữ, 10-27).
Nhƣ vậy, ta không thấy Khổng Tử chú ý nhiều đến hiện tƣợng trong giới tự nhiên và trong mỗi hiện tƣợng rất bình thƣờng, thánh nhân cũng đều tìm kiếm những ý nghĩa đạo lý. Với cách tìm ý nghĩa đạo lý nhƣ vậy phong cảnh là núi, sông, núi là sự yên lặng, vững chãi, sông là sự lƣu chuyển không ngừng; mặt trăng là sự tròn khuyết, sự thịnh suy; bốn mùa là sự đổi thay…Giới tự nhiên không còn là thế giới khách quan sinh động mà chỉ là sự khác biệt chứng minh cho sự phong phú về hình thức của Đạo” (17, tr. Thơ đề vịnh thời trung đại của Nho gia gắn liền với quan niệm thi ngôn chí, văn dĩ tải đạo. Để biểu lộ lý tƣởng, ý chí của ngƣời quân tử, thi nhân làm thơ vịnh tùng, cúc, trúc, mai, có khi những đối tƣợng độc đáo nhƣ cái chổi, con cóc, thậm chí đôi cặp que của ngƣời hót phân (tận thu lòng dạ thế gian) cũng thành đối tƣợng gửi gắm lý tƣởng thánh nhân, quân tử của ngƣời đề vịnh với khát vọng tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
Phản đề của nhân cách lý tƣởng quân tử là tiểu nhân. Vậy thì có thể có cả đối tƣợng đề vịnh ám chỉ kẻ tiểu nhân ví dụ trƣờng hợp Nguyễn Công Trứ đề vịnh cây vông Tuổi tác càng già càng xốp xáp/Ruột gan không có có gai chông. Ngƣ tiều canh mục (ngƣời kiếm cá, ngƣời đốn củi, ngƣời cày ruộng, ngƣời chăn trâu) những nhân vật quen thuộc với công việc lao động của họ từ lâu đã trở thành ẩn dụ của lý tƣởng ẩn sĩ thanh cao, không màng danh lợi. Không gian sông nƣớc, rừng núi, đồng ruộng gắn với các mẫu ngƣời này do đó cũng đem lại hứng thú thẩm mĩ cho các thi nhân cổ trung đại phƣơng Đông.
Thơ đề vịnh Trung đại có nhiều tiểu loại nhƣ: Vịnh sử ( bàn luận về các nhân vật, sự kiện lịch sử), Vịnh cảnh ( miêu tả cảnh thiên nhiên) và Vịnh vật ( miêu tả đồ vật)… Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi nghiên cứu chung vai trò của các tiểu loại này trong góc nhìn so sánh để thấy đƣợc nét độc đáo cũng nhƣ vai trò của thơ Nôm đề vịnh truyền tụng Hồ Xuân Hƣơng so với các thi sĩ của Hội Tao Đàn. Nói tóm lại, kiểu thơ đề vịnh có 2 nội dung – miêu tả đối tƣợng và khai thác ý nghĩa tƣợng trƣng, ý nghĩa biểu tƣợng của đối tƣợng đó. Thông qua đối tƣợng đề vịnh, tác giả muốn nhằm đến một ý nghĩa nằm đằng sau, bên ngoài đối tƣợng. Vậy là sự khác nhau của các kiểu loại thơ đề vịnh sẽ đƣợc ngƣời đọc nhận xét dựa vào 2 12 yếu tố: sự khác nhau của đối tƣợng (cảnh quan, sự vật) đƣợc đề vịnh ; và sự khác nhau của ý nghĩa đƣợc tác giả thơ đề vịnh khai thác.
Lí luận về phƣơng pháp so sánh 1. Khái niệm “So sánh ( hoặc so sánh đối chiếu) là một thao tác nghiên cứu đƣợc dùng trong nhiều ngành khoa học khác nhau. Vai trò quan trọng ít hay nhiều của thao tác nghiên cứu này là tuỳ thuộc vào đặc điểm bản chất của đối tƣợng nghiên cứu, và do đó vào nhiệm vụ của ngành khoa học nghiên cứu đối tƣợng ấy. Có những ngành khoa học nếu không vận dụng phƣơng pháp nghiên cứu so sánh thì không thể giải quyết nổi những vấn đề cơ bản phát sinh trong quá trình nghiên cứu đối tƣợng.
Ngày nay, so sánh đã trở thành một khuynh hƣớng, thành bộ môn văn học so sánh của khoa nghiên cứu văn học đáp ứng yêu cầu thực tiễn đó là sự giao lƣu văn hoá diễn ra trên toàn thế giới trong đó có cả văn học. Vì thế, văn học so sánh là một bộ môn khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu tiến trình văn học trên toàn thế giới và sự giao thoa, ảnh hƣởng qua lại giữa các nền văn học của các dân tộc. So sánh trong nghiên cứu văn học Phƣơng pháp so sánh trong nghiên cứu văn học “là phƣơng tiện, con đƣờng, thao tác đi vào tác phẩm để xác định đánh giá các hiện tƣợng văn học trong mối quan hệ giữa chúng với nhau” [23,152] Đối tƣợng của phƣơng pháp so sánh trong nghiên cứu văn học là các hiện tƣợng văn học của cùng một nền văn học dân tộc. Mục đích của việc so sánh nhằm xác định các mối liên hệ, các điểm tƣơng đồng, khác biệt để phát hiện vẻ độc đáo của từng hiện tƣợng, cái riêng làm phong phú cái chung.
Khảo sát các công trình phê bình, nghiên cứu văn học có giá trị của một số nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình nổi tiếng, ta dễ nhận thấy phƣơng pháp so sánh đã dƣợc sử dụng rộng rãi và có hiệu quả nhất định. Nhà phê bình văn học nổi tiếng Hoài Thanh và những nhà văn, nhà thơ nhƣ Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu, Chế Lan Viên trong những bài phê bình, phân tích văn học cũng thƣờng sử 13 dụng phƣơng pháp so sánh để phát hiện vẻ đẹp độc đáo của từng bài văn, bài thơ, phong cách riêng của từng tác giả; nhƣ khi Xuân Diệu so sánh thiên tài Nguyễn Du với Hồ Xuân Hƣơng, ông viết “Nguyễn Du là những ý tình phổ biến, những cảm nghĩ sâu sắc đến tuyệt độ, diễn tả hay đẹp đếntuyệt diệu, đến nỗi thành ra đột xuất, duy nhất. Nhƣng Xuân Hƣơng thì khác. Trong Xuân Hƣơng, phần lớn là những ý tình phổ biến của mọi ngƣời (chống bọn áp bức, căm ghét cái xấu xa, bênh vực phụ nữ, khao khát yêu đƣơng, yêu thiên nhiên, đất nƣớc…) nhƣng cũng có một phần nhƣ là riêng biệt của cá tính Xuân Hƣơng.
Cái phần kỳ dị đó, ta không thể chối cãi rằng nó cũng là thiên tài của Xuân Hƣơng nhƣ là cái phần phổ biến” [7,308]. Khi tìm hiểu thơ Nôm Hồ Xuân Hƣơng, nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu cũng có những trang viết rất hay làm nổi bật nét độc đáo của thơ Nôm Hồ Xuân Hƣơng, phong cách đặc biệt của nữ sĩ khi so sánh với phong cách của nhà thơ nữ cùng thời Bà Huyện Thanh Quan, chúng tôi chỉ xin lƣợc trích: thơ Hồ Xuân Hƣơng là thơ hành động, thơ Bà Huyện Thanh uan là thơ tâm tình, trạng thái.…Thơ Hồ Xuân hƣơng là thơ nổi loạn, thể hiện trƣớc hết ở những vi phạm quy tắc từ, vần, nhịp, những đổ vỡ của âm điệu…Thơ Bà Huyện Thanh Quan là thơ tĩnh, với những hồi âm, những vang vọng buồn bã kéo dài…những câu thơ ít động từ, một giọng và một nhịp đều đều…. Thơ Bà Huyện Thanh Quan là hồi ức, thơ Hồ Xuân Hƣơng là hiện tại. Thơ Bà Huyện Thanh Quan thể hiện cái không tính cách, không xác định, cái trung tính, thơ Hồ Xuân Hƣơng biểu hiện cái cụ thể, cái hằng ngày, cái xác định….