Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu khoa học thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (phân ngành Văn học trung đại / Hán Nôm) của tác giả Nguyễn Xuân Hảo, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Chung và PGS.TS Hà Văn Minh tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (hoàn thành tháng 08 năm 2019). Luận án tập trung khảo cứu toàn diện về mặt văn bản học và giá trị văn học của tác phẩm Hoa trình thi tập do Tiến sĩ, Phó sứ Vũ Huy Đĩnh (1730–1789) sáng tác trong chuyến đi sứ sang Trung Hoa giai đoạn cuối thế kỷ XVIII.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Thơ văn đi sứ (sứ trình thi văn) là bộ phận quan trọng trong di sản văn học trung đại Việt Nam, phản ánh sinh động hoạt động bang giao, tư tưởng chính trị, ý thức dân tộc và diện mạo văn hóa của dân tộc. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây về văn thơ đi sứ thời Cảnh Hưng – Lê Chiêu Thống (1740–1788) chủ yếu tập trung vào một số tác giả quen thuộc như Lê Quý Đôn, Nguyễn Huy Oánh, Đoàn Nguyễn Thục mà chưa khảo sát thấu đáo các tác giả khác cùng thời. Riêng trường hợp Vũ Huy Đĩnh và tập thơ Hoa trình thi tập, các công trình thư mục học trước đó chỉ mới dừng lại ở mức độ ghi nhận thư tịch, liệt kê tác phẩm vắn tắt hoặc in dập văn bản chữ Hán mà chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống về lịch sử truyền bản, giám định văn bản học, hiệu khám dị văn, xác định thiện bản cũng như dịch chú và phân tích chuyên sâu các giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống tư liệu và học thuật này.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Khảo sát, đối chiếu và nghiên cứu văn bản Hoa trình thi tập nhằm làm sáng rõ các vấn đề văn bản học (văn bản hiện tồn, bản cơ sở, hiệu khám dị bản, xác lập thiện bản và cấu trúc văn bản).
  2. Khai thác hệ thống giá trị nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tập thơ, cung cấp cái nhìn toàn diện về mảng thi ca bang giao thời Hậu Lê.
  3. Khôi phục đầy đủ, xác thực và thống nhất về tiểu sử, hành trạng, sự nghiệp chính trị - văn hóa cùng những đóng góp của danh sĩ Vũ Huy Đĩnh đối với triều đại Lê - Trịnh và quê hương đất nước.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Khảo cứu cuộc đời, sự nghiệp của Vũ Huy Đĩnh qua tài liệu sử học, thư tịch văn học Hán Nôm, gia phả và điều tra điền dã tại làng Mộ Trạch (xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).
  2. Khảo sát 02 văn bản hiện tồn của Hoa trình thi tập, xác định bản cơ sở, khảo sát bài tựa, chính văn và các yếu tố ngoại văn bản.
  3. Thực hiện hiệu khám văn tự, phân loại hiện tượng đảo chữ, xuất nhập văn tự, xử lý các trường hợp dị văn giữa các bản chép tay.
  4. Phân tích, làm rõ hệ thống giá trị nội dung (trách nhiệm bang giao, tình yêu quê hương, tấm lòng nhân ái) và giá trị nghệ thuật (ngôn từ, thi pháp, nghệ thuật dùng điển cố, nghệ thuật xướng họa).
  5. Phiên âm, dịch nghĩa, chú thích và bình giải toàn bộ 101 tác phẩm thơ tiêu biểu trong thi tập.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Văn bản và tác phẩm thơ chữ Hán Hoa trình thi tập của Vũ Huy Đĩnh.
  • Phạm vi tư liệu: Tập trung vào 02 văn bản chép tay hiện tồn gồm bản ký hiệu A.446 (lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm) và bản ký hiệu R.38 (Thư viện Quốc gia Việt Nam đã số hóa); 05 bài thơ của Vũ Huy Đĩnh trong tổng tập Việt thi tục biên (ký hiệu A.1036); tài liệu gia phả Vũ tộc thế hệ sự tích, bi ký Văn Miếu và tư liệu điền dã tại Mộ Trạch.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Lộ trình đi sứ từ Thăng Long qua các địa danh của Việt Nam và Trung Quốc trong chuyến sứ bộ năm Tân Mão (1771), khởi hành từ mùa xuân năm Nhâm Thìn (1772) và hoàn thành vào mùa đông năm Quý Tị (1773).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong chương tổng quan, tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan đến bối cảnh đi sứ giai đoạn Cảnh Hưng – Lê Chiêu Thống và các nghiên cứu về Vũ Huy Đĩnh theo hai nhóm chính:

1. Các nghiên cứu về thơ văn đi sứ và sứ bộ giai đoạn 1740–1788:

  • Về lịch sử bang giao và văn tịch: Sách Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú) ghi nhận 8 chuyến đi sứ với 22 lượt Chánh sứ, Phó sứ; công trình Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn); Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075–1919 (Ngô Đức Thọ chủ biên, 1993).
  • Về văn bản học Hán Nôm: Luận văn Nghiên cứu văn bản tác phẩm Sứ hoa tùng vịnh của Nguyễn Tông Quai (Lê Thị Vỹ Phượng, 2009); luận văn Bắc sứ thông lục và giao lưu học thuật Việt – Trung thế kỉ XVIII (Nguyễn Thị Tuyết, 2012); công trình khảo cứu Phụng sứ Yên đài tổng ca (Lại Văn Hùng – Nguyễn Thanh Tùng, 2014); bài viết của Đinh Khắc Thuân (2016) về tác phẩm đi sứ của Nguyễn Huy Oánh.
  • Về nghiên cứu giá trị văn học: Bộ sách Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX (1976); Thơ đi sứ (Đào Phương Bình – Phạm Thiều chủ biên, 1993); Tuyển tập thơ văn Nguyễn Huy Oánh (Lại Văn Hùng chủ biên, 2005); luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Thu Thủy (2015) về Thơ đi sứ Việt Nam từ cuối triều Lê đến đầu triều Nguyễn (1740 - 1820); luận án của Nguyễn Thị Hòa (2015) về Nghiên cứu thơ đi sứ của Đoàn Nguyễn Thục và Đoàn Nguyễn Tuấn.

2. Tình hình nghiên cứu tác giả Vũ Huy Đĩnh và văn bản "Hoa trình thi tập":

  • Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (Trần Nghĩa – François Gros, 1993) giới thiệu văn bản A.446 gồm 140 bài thơ, có tựa của Ninh Tốn và lời bình của Phạm Nguyễn Du.
  • Sứ thần Việt Nam (Phạm Thị Thảo, Phạm Văn Thắm, Phạm Kim Oanh, 1996) liệt kê các đầu sách của Vũ Huy Đĩnh như Hoa trình thi tập, Thanh Hóa hậu tập, Tuyên Quang tập, Bách đài tập...
  • Vũ Tộc thế hệ sự tích (Vũ Thế Khôi, 2004) và Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam (Trịnh Khắc Mạnh, 2007) cung cấp thông tin tiểu sử, chức tước, học vị.
  • Bộ Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành (quyển 5, 2010, hợp tác giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Đại học Phúc Đán) đã in dập toàn bộ bản chụp văn bản A.446 từ trang 239 đến 363.
  • Bài viết của Trịnh Khắc Mạnh (2013) và công trình Thơ văn xướng họa giữa các sứ thần Việt Nam - Triều Tiên (Trịnh Khắc Mạnh – Nguyễn Đức Toàn, 2019) đã dịch, chú 3 bài thơ xướng họa giữa Vũ Huy Đĩnh với Doãn Đông Thăng và Lý Trí Trung.
STT Tác giả đi sứ (1740–1788) Tên tác phẩm sứ trình Thể loại Số lượng bài/câu
01 Nguyễn Kiều (1695–1752) Hạo Hiên thi tập (trong Sứ hoa tùng vịnh) Thơ Sáng tác chung với Nguyễn Tông Quai
02 Nguyễn Tông Quai (1692–1767) Sứ trình tân truyện Truyện thơ Nôm 670 câu lục bát và 8 bài Đường luật
03 Lê Quý Đôn (1726–1784) Quế Đường thi tập, Bắc sứ thông lục Thơ, văn, biểu, thư từ 3 quyển 351 bài thơ; 2 tập chép tay 354 trang
04 Nguyễn Huy Oánh (1713–1789) Phụng sứ Yên đài tổng ca Thơ 470 câu Nôm lục bát xen 136 bài Đường luật
05 Đoàn Nguyễn Thục (1718–1775) Đoàn Hoàng giáp phụng sứ tập (Hải An sứ vịnh) Thơ 1 quyển gồm 21 bài
06 Vũ Huy Đĩnh (1730–1789) Hoa trình thi tập Thơ chữ Hán 151 bài (bản A.446) / 145 bài (bản R.38)
07 Hồ Sĩ Đống (1739–1785) Hoa trình khiển hứng Thơ chữ Hán 97 bài

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Văn bản Hoa trình thi tập của Vũ Huy Đĩnh chưa từng được xử lý văn bản học một cách bài bản: chưa có công trình so sánh đối chiếu giữa 2 dị bản A.446 và R.38, chưa xác lập văn bản chuẩn (thiện bản), chưa dịch chú đầy đủ tác phẩm và chưa phân tích vị trí nghệ thuật của tập thơ trong tiến trình thơ ca đi sứ thời trung đại.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Lý thuyết văn bản học Hán Nôm: Kế thừa các quan điểm học thuật từ Văn bản học Hán Nôm của Trịnh Khắc Mạnh, Cơ sở văn bản học Hán Nôm của Ngô Đức Thọ, cùng lý thuyết văn bản học kinh điển (Bản bản học Trung Quốc, Phê phán văn bản của phương Tây, lý thuyết cấu trúc văn bản của B. Tomashevsky, D. Likhachev, I. Galperin) nhằm nhận diện bản cơ sở, khảo sát quá trình truyền bản, biến thể văn bản và xác định thiện bản.
  2. Lý thuyết thi pháp học và nghiên cứu tác giả, tác phẩm: Dựa trên khung lý thuyết của Trần Đình Sử về văn học trung đại (quan niệm văn hóa thẩm mỹ, thể loại văn học, hệ thống thi pháp và từ chương học) để phân tích thế giới nghệ thuật, ngôn từ và tư tưởng tác giả.
  3. Lý thuyết phiên dịch học Hán Nôm: Vận dụng nguyên tắc dịch thuật Hán Nôm (Trần Nghĩa) bảo đảm tiêu chí "tín - đạt - nhã" trong việc phiên âm, dịch nghĩa, biên chú lịch sử - địa lý và phân tích ngữ liệu.

Phương pháp nghiên cứu

  • Nhóm phương pháp văn bản học:
    • Phương pháp hiệu khám học: Gồm 4 thao tác chính: Đối hiệu pháp (so sánh văn bản A.446 với bản R.38), Bản hiệu pháp (dùng cấu trúc nội tại văn bản để tự kiểm chứng lỗi logic, ngữ nghĩa), Tha hiệu pháp (đối chiếu cứ liệu với thơ văn các sứ thần cùng thời và sử liệu), Lý hiệu pháp (phân tích nghĩa lý câu chữ để chỉnh lý sai sót).
    • Phương pháp biện ngụy học: Giám định tính chân xác của văn bản thông qua xuất xứ bài tựa, lạc khoản, con dấu và ghi chép nhân vật thời đại.
    • Phương pháp tỵ húy: Phân tích quy tắc kiêng tên húy các vua chúa thời Lê - Trịnh và thời Nguyễn để xác định niên đại sao chép của các dị bản.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu văn học: Phương pháp nghiên cứu văn học sử, phương pháp thi pháp học, phương pháp so sánh văn học và phương pháp phân tích tác phẩm văn học.
  • Phương pháp điều tra điền dã: Khảo sát thực địa tại làng Mộ Trạch (xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) để thu thập bi ký, đối chiếu gia phả dòng họ Vũ và phỏng vấn nhân chứng bảo tồn di tích.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp văn tự học Hán Nôm, văn hóa học, địa danh học lịch sử và tiểu sử học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản chép tay Hoa trình thi tập ký hiệu A.446 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
  • Văn bản chép tay Hoa trình thi tập ký hiệu R.38 (Thư viện Quốc gia Việt Nam).
  • Văn bản Việt thi tục biên ký hiệu A.1036 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
  • Gia phả họ Vũ làng Mộ Trạch (Vũ tộc thế hệ sự tích), tài liệu Đăng khoa lục sưu giảng, Xuân diên tự điển, Tự điển cổ lệ tại Ban Quản lý di tích làng Mộ Trạch.
  • Bia tiến sĩ số 73 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chương 1 phác thảo bức tranh toàn cảnh về hoạt động ngoại giao và sáng tác thơ văn đi sứ giai đoạn Cảnh Hưng – Lê Chiêu Thống (1740–1788). Tác giả làm rõ quy chế triều Hậu Lê quy định định kỳ 6 năm cử sứ bộ sang Trung Hoa một lần (riêng năm 1760 cách kỳ trước 7 năm do quốc tang Thượng hoàng Lê Ý Tông năm 1759). Thống kê chi tiết 8 chuyến đi sứ với 22 sứ thần, trong đó có 09 văn bản chép thơ văn sứ trình tiêu biểu của Nguyễn Kiều, Nguyễn Tông Quai, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huy Oánh, Đoàn Nguyễn Thục, Vũ Huy Đĩnh, Hồ Sĩ Đống. Chương này cũng điểm lại các công trình nghiên cứu văn bản học, nghiên cứu văn học sử liên quan, xác lập cơ sở lý thuyết văn bản học Hán Nôm, thi pháp học và dịch thuật làm tiền đề khoa học cho luận án.

Chương 2: Khảo luận về tác giả Vũ Huy Đĩnh và giới thiệu về văn bản tác phẩm Hoa trình thi tập

Chương 2 phục dựng tiểu sử, con người và sự nghiệp trước tác của Vũ Huy Đĩnh (1730–1789), tự Ôn Kì, hiệu Di Hiên, thụy Văn Trung, quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).

  • Tác động của thời đại và môi trường sống: Biến cố đói kém năm 1741–1742 tại Hải Dương khiến gia đình chuyển lên ngụ cư tại phố Hàng Giày (kinh thành Thăng Long). Vũ Huy Đĩnh vừa làm thuê canh gác ban đêm để đọc sách, vừa nghe lỏm trường học. Sau khi đỗ Hương cống (1750), ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (1754) lúc mới 25 tuổi.
  • Hành trạng quan trường: Ông giữ các chức Hàn lâm viện Hiệu thảo, Đốc đồng Tuyên Quang, Thiêm sai tri Hình phiên, Thị lang bộ Binh, kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, tước Hồng Trạch bá, Đông các học sĩ. Tháng 6 năm Bính Ngọ (1786), trước sự kiện phong trào Tây Sơn lật đổ chúa Trịnh, ông chọn lối xuất xử lui về ẩn cư giữ trọn khí tiết trung thần nhà Lê, nhưng sau đó tạo điều kiện cho con cả là Vũ Huy Tấn ra làm quan với triều Tây Sơn.
  • Truyền thống dòng họ và gia đình: Làng Mộ Trạch có 36 vị đỗ đại khoa, riêng họ Vũ có 28 vị Tiến sĩ (từ Vũ Tá Nghiêu năm 1304 đến Vũ Huy Đĩnh năm 1754). Cha ông là cụ Vũ Trọng Nhuận (được phong tặng Công bộ hữu thị lang), các con ông như Vũ Huy Tấn (Thượng thư Bộ Công thời Tây Sơn), Vũ Huy Toại (Hương cống, Hàn lâm biên tu), Vũ Huy Lịch (Hình khoa đô cấp sự trung) đều thành đạt.
  • Sự nghiệp trước tác: Tác phẩm hiện tồn được chứng thực gồm Hoa trình thi tập và 05 bài thơ trong Việt thi tục biên (A.1036) gồm: Hỗ tụng đăng Lưu Mĩ Sơn động thứ tòng thần vận, Tiễn Diên Hà Lê Quý Đôn Bắc sứ, Họa tiễn Lan Khê tham tụng Nguyễn Hoãn trí sĩ, cùng 02 bài Hỗ tụng Cẩm Long sơn thứ tòng thần vận.
  • Bối cảnh chuyến đi sứ: Năm Tân Mão (1771), triều đình cử đoàn sứ bộ gồm Chánh sứ Đoàn Nguyễn Thục, Giáp phó sứ Vũ Huy Đĩnh, Ất phó sứ Nguyễn Lý; đoàn khởi hành mùa xuân năm 1772 và trở về mùa đông năm 1773. Thi tập được biên định sau chuyến đi bởi con thứ Vũ Huy Toại và môn sinh Phạm Kiêm Hữu; bài tựa do Tiến sĩ Ninh Tốn viết năm Canh Tuất (1790), lời phẩm bình của Hoàng giáp Phạm Nguyễn Du và Ninh Tốn.
Mốc thời gian Sự kiện cuộc đời Vũ Huy Đĩnh Bối cảnh lịch sử - xã hội liên quan
1730 Sinh tại làng Mộ Trạch, huyện Đường An, Hải Dương Niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 2 triều Lê Duy Phường
1742 Mẹ mất; theo cha chuyển lên Thăng Long ở phố Hàng Giày Nạn đói lớn hoành hành dữ dội tại xứ Hải Dương
1750 Đỗ đầu phủ, đỗ Hương cống (khoa Canh Ngọ) Cảnh Hưng năm thứ 11, thực hiện phép thi cử
1754 Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ (khoa Giáp Tuất) lúc 25 tuổi Cảnh Hưng năm thứ 15, khoa thi chọn 8 Tiến sĩ
1760 Đỗ kỳ thi ngự đề; chuẩn bổ làm Thiêm sai tri Hình phiên Cảnh Hưng năm thứ 21; tiễn Lê Quý Đôn đi sứ
1771–1773 Thăng Đông các học sĩ, thụ mệnh làm Giáp phó sứ sang nhà Thanh Sứ bộ Đoàn Nguyễn Thục, Vũ Huy Đĩnh, Nguyễn Lý
1786 Cởi bỏ mũ áo, lui về ở ẩn tại quê nhà Mộ Trạch Phong trào Tây Sơn ra Bắc, triều Lê - Trịnh sụp đổ
1789 Mất tại quê nhà, hưởng thọ 59 tuổi Quang Trung đại phá quân Thanh; kết thúc nhà Hậu Lê

Chương 3: Nghiên cứu đặc điểm văn bản Hoa trình thi tập

Chương 3 đi sâu giải quyết các vấn đề kỹ thuật văn bản học Hán Nôm đối với 02 dị bản của Hoa trình thi tập:

  • Khảo sát hiện trạng văn bản:
    • Bản ký hiệu A.446 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, gọi là bản A) có 151 bài thơ (147 bài thất ngôn bát cú, 04 bài thất ngôn tứ tuyệt).
    • Bản ký hiệu R.38 (Thư viện Quốc gia Việt Nam, gọi là bản B) có 145 bài thơ (143 bài thất ngôn bát cú, 02 bài thất ngôn tứ tuyệt).
    • Luận án nhận định và chứng minh bản A.446 là bản cơ sở có độ tin cậy cao hơn, ghi chép đầy đủ các bài thơ, lời chú dẫn và bình điểm.
  • Hiệu khám văn bản:
    • Hiệu khám bài tựa: Bài tựa của Ninh Tốn viết năm Canh Tuất (1790) được so sánh đối chiếu giữa hai bản, làm rõ các chữ chép sai hoặc thiếu nét.
    • Hiệu khám chính văn: Lập các bảng thống kê phân loại chi tiết hiện tượng đảo trật tự văn tự, xuất nhập văn tự (chữ thừa hoặc thiếu), phân tích nguyên nhân dị văn (dị văn do đồng âm, do đồng nghĩa, do lỗi tự dạng hoặc không rõ nguyên nhân).
    • Xác định thiện bản: Xác lập văn bản hoàn chỉnh chuẩn mực nhất trên cơ sở hiệu đính từ bản A.446, kết hợp bổ chính các chỗ hợp lý từ bản R.38.
  • Kết cấu thiện bản Hoa trình thi tập:
    • Người viết tựa (Tiến sĩ Ninh Tốn), người biên soạn (Vũ Huy Toại, Phạm Kiêm Hữu), người bình điểm (Hoàng giáp Phạm Nguyễn Du, Tiến sĩ Ninh Tốn).
    • Hệ thống tác phẩm gồm: thơ sứ trình của Vũ Huy Đĩnh, thơ xướng họa (đặc biệt là các bài xướng họa với sứ thần Triều Tiên Doãn Đông Thăng, Lý Trí Trung), thơ của các tác giả khác trong sứ bộ.
    • Hệ thống nguyên chú, nguyên bình, nguyên dẫn: Ghi chép tường tận về các địa danh đi qua trên lãnh thổ Việt Nam và Trung Quốc, danh nhân lịch sử, phong tục tập quán và các sự kiện diễn ra trên đường sứ trình.

Chương 4: Nghiên cứu giá trị thơ ca của Hoa trình thi tập

Chương 4 khảo sát toàn diện giá trị nội dung và thi pháp nghệ thuật của tác phẩm:

  • Giá trị nội dung:
    • Quan niệm về trọng trách của sứ thần: Thể hiện ý thức trách nhiệm bang giao, lòng kiêu hãnh dân tộc, tư thế đàng hoàng, đĩnh đạc của sứ giả Đại Việt khi đối diện với các quan lại nhà Thanh và sứ thần ngoại quốc.
    • Tình yêu quê hương, đất nước: Bộc lộ qua niềm tự hào sâu sắc trước danh lam thắng cảnh dọc đường đi sứ; nỗi nhớ gia đình, quê hương bản quán da diết khi phải vượt vạn dặm đường trường nơi đất khách.
    • Tình yêu thương con người và nhân văn: Đồng cảm trước cảnh lầm than, lao khổ của người dân lao động hai bên biên giới; tình cảm bạn bè đồng liêu và tấm lòng kính phục các bậc trung thần, nghĩa sĩ trong lịch sử.
    • Tình yêu thiên nhiên: Miêu tả cảnh sắc sông núi, danh thắng Trung Hoa bằng cái nhìn khoáng đạt, rung cảm thẩm mỹ tinh tế.
  • Giá trị nghệ thuật:
    • Ngôn từ nghệ thuật: Giàu tính hàm súc, chuẩn mực theo quy phạm Đường luật; sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ, đặc biệt là nghệ thuật điệp âm, phép đối ngẫu công chỉnh, tạo âm hưởng trầm hùng, trang nhã.
    • Nghệ thuật sử dụng điển tích, điển cố: Vận dụng uyển chuyển các điển tích lịch sử, điển cố văn học Trung Hoa nhằm gửi gắm hoài bão, kín đáo thể hiện quan điểm thế sự và vị thế chính trị của đất nước.
    • Nghệ thuật thơ xướng họa bang giao: Thể hiện tài năng ứng đối sắc sảo, tài hoa, chuẩn mực trong giao lưu văn hóa với sứ thần Triều Tiên và giới trí thức Nho học nhà Thanh.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về phương diện văn bản học: Luận án là công trình đầu tiên khảo sát, đối chiếu có hệ thống 02 bản chép tay Hoa trình thi tập (A.446 và R.38); xác định A.446 là bản cơ sở; xử lý toàn bộ các trường hợp dị văn, xuất nhập văn tự, đảo chữ; từ đó phục dựng và xác lập kết cấu thiện bản khoa học cho tác phẩm.
  2. Về phương diện lịch sử - tiểu sử: Luận án khôi phục chi tiết, chính xác hành trạng cuộc đời, dòng họ và sự nghiệp của danh sĩ Vũ Huy Đĩnh; xác minh tư liệu về chuyến đi sứ năm 1771–1773 (thời gian, nhân sự Chánh/Phó sứ, hành trình), góp phần làm sáng tỏ lịch sử ngoại giao triều Lê - Trịnh cuối thế kỷ XVIII.
  3. Về phương diện nghiên cứu văn học và dịch thuật: Luận án khẳng định vị trí nghệ thuật của Hoa trình thi tập trong dòng chảy văn học trung đại; hoàn thành việc dịch thuật học thuật (gồm nguyên bản chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, chú giải và bình chú) 101 bài thơ tiêu biểu của Vũ Huy Đĩnh.
  4. Kiến nghị và giải pháp ứng dụng: Luận án đề xuất bổ sung các sáng tác thơ văn đi sứ của Vũ Huy Đĩnh và các sứ thần trung đại vào hệ thống ngữ liệu giảng dạy phần Văn học trung đại trong chương trình Ngữ văn bậc THCS và THPT; cung cấp tư liệu chuẩn xác cho các viện nghiên cứu chuyên ngành Hán Nôm và Văn học sử.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chủ yếu tập trung xử lý trên 02 văn bản hiện tồn của Hoa trình thi tập (A.446 và R.38) và 05 bài thơ trong Việt thi tục biên. Một số tập tác phẩm khác của Vũ Huy Đĩnh được các thư tịch cổ liệt kê danh mục (như Thanh Hóa hậu tập, Tuyên Quang tập, Bách đài tập, Sơn Tây tập, Tình tuyết tập...) hiện chưa tìm thấy văn bản thực tế trong các kho lưu trữ nên chưa thể khảo sát toàn diện sự nghiệp trước tác đầy đủ của ông.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục tìm kiếm, sưu tầm các văn bản thất lạc của Vũ Huy Đĩnh tại các dòng họ, địa phương; mở rộng so sánh thi pháp thơ đi sứ của Vũ Huy Đĩnh với các tác giả cùng thời kỳ Cảnh Hưng – Lê Chiêu Thống và giai đoạn đầu triều Nguyễn.

Giá trị tham khảo

  • Đối với giới nghiên cứu Hán Nôm và Văn học trung đại: Cung cấp bộ công cụ khảo cứu mẫu mực về văn bản học (bảng hiệu khám dị văn, dị tự, xác định thiện bản) và bản dịch nghĩa, chú giải 101 bài thơ sứ trình có độ tin cậy học thuật cao.
  • Đối với giảng viên và giáo viên Ngữ văn: Cung cấp nguồn ngữ liệu thực chứng, các phân tích thi pháp sâu sắc để làm phong phú bài giảng văn học bang giao, văn học trung đại ở bậc đại học và trường phổ thông (THCS, THPT).
  • Đối với các nhà nghiên cứu lịch sử và văn hóa: Cung cấp dữ liệu lịch sử xác thực về quan hệ bang giao Việt - Trung, lộ trình sứ trình thế kỷ XVIII, cũng như tư liệu điền dã về truyền thống khoa bảng làng Mộ Trạch và dòng họ Vũ.

Câu hỏi thường gặp

1. Bản cơ sở của tác phẩm "Hoa trình thi tập" được luận án xác định dựa trên những căn cứ nào?
Luận án xác định bản ký hiệu A.446 (lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm) là bản cơ sở dựa trên việc đối chiếu với bản R.38 (Thư viện Quốc gia Việt Nam). Bản A.446 có số lượng tác phẩm đầy đủ nhất (151 bài so với 145 bài của bản R.38), lưu giữ trọn vẹn bài tựa của Ninh Tốn, hệ thống nguyên chú, nguyên dẫn và lời bình điểm của danh sĩ đương thời là Phạm Nguyễn Du và Ninh Tốn.

2. Đoàn sứ bộ năm Tân Mão (1771) do ai dẫn đầu và thành phần gồm những ai?
Đoàn sứ bộ nhận sắc chỉ năm Tân Mão (1771), xuất hành đầu năm 1772 và trở về cuối năm 1773, gồm 3 vị đại thần: Chánh sứ Đoàn Nguyễn Thục (Hoàng giáp), Giáp phó sứ Vũ Huy Đĩnh (Tiến sĩ, Đông các học sĩ) và Ất phó sứ Nguyễn Lý.

3. Số lượng tác phẩm thơ trong hai dị bản A.446 và R.38 chênh lệch nhau như thế nào?
Bản A.446 ghi chép 151 bài thơ (gồm 147 bài thể thất ngôn bát cú và 04 bài thể thất ngôn tứ tuyệt). Bản R.38 ghi chép 145 bài thơ (gồm 143 bài thể thất ngôn bát cú và 02 bài thể thất ngôn tứ tuyệt).

4. Ngoài "Hoa trình thi tập", Vũ Huy Đĩnh còn những tác phẩm thơ nào khác đã được chứng thực văn bản?
Ngoài Hoa trình thi tập, hiện chỉ có 05 bài thơ của Vũ Huy Đĩnh được chứng thực văn bản trong tổng tập Việt thi tục biên (ký hiệu A.1036 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tờ 55a–56a), bao gồm 03 bài thể thất ngôn bát cú và 02 bài thể ngũ ngôn bát cú sáng tác trong nước khi hộ giá nhà vua hoặc tiễn đồng liêu.

5. Điểm gặp gỡ giữa Vũ Huy Đĩnh và sứ thần Triều Tiên trong "Hoa trình thi tập" là gì?
Trong hành trình sứ trình, Vũ Huy Đĩnh đã gặp gỡ và xướng họa thơ ca với các sứ thần Triều Tiên là Doãn Đông Thăng và Lý Trí Trung. Tác phẩm tiêu biểu gồm bài thơ xướng Tặng Triều Tiên quốc sứ của Vũ Huy Đĩnh và các bài thơ họa đáp tặng của các sứ thần Triều Tiên, thể hiện tinh thần giao lưu văn hóa bang giao giữa các nước đồng văn.


Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Xuân Hảo là công trình chuyên khảo công phu, giải quyết triệt để các vấn đề văn bản học và xác lập thiện bản cho tập thơ chữ Hán Hoa trình thi tập của danh sĩ Vũ Huy Đĩnh. Bằng việc kết hợp chặt chẽ các phương pháp hiệu khám Hán Nôm, nghiên cứu văn học sử và khảo sát thực địa, luận án đã phục dựng chân thực chân dung tác giả cùng diện mạo một chuyến đi sứ quan trọng thời Hậu Lê. Công trình không chỉ khẳng định giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tập thơ mà còn cung cấp nguồn tư liệu dịch thuật chuẩn xác, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu và giảng dạy di sản Hán Nôm trong nhà trường hiện nay.