CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Văn thơ đi sứ có một vai trò to lớn trong nền văn học Việt Nam. Mảng sáng tác này đã góp phần làm phong phú cho văn học giai đoạn trung đại cả về hình thức, thể tài lẫn nội dung. Trong chương tổng quan về tình hình nghiên cứu, luận án tập trung đề cập đến những chuyến đi sứ, các sáng tác của các sứ thần ở thời Cảnh Hưng – Lê Chiêu Thống. Đồng thời, luận án cũng khảo sát tình hình nghiên cứu thơ văn đi sứ giai đoạn này trên cơ sở thống kê, nhận định về các công trình, luận án, bài nghiên cứu… Bên cạnh đó, luận án cũng đánh giá tình hình nghiên cứu văn bản tác phẩm Hoa trình thi tập của Vũ Huy Đĩnh ở các bình diện như dịch thuật, khảo cứu văn bản và nghiên cứu tác phẩm.
Từ đó, luận án đề cập đến những hệ thống lý thuyết liên quan đến việc triển khai nghiên cứu và hướng nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu thơ văn đi sứ giai đoạn cuối triều Hậu Lê 1. Hệ thống sứ bộ giai đoạn cuối triều Hậu Lê Lịch sử bang giao của Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX trở về trước chủ yếu là lịch sử bang giao giữa Việt Nam và Trung Hoa. Theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, từ đời nhà Trần cứ ba năm một lần đến đời Hậu Lê sáu năm một lần, nước ta lại đi sứ Trung Hoa [15, tr.
Các đoàn sứ bộ Việt Nam được cử đi với các mục đích khác nhau như cầu phong, chúc mừng, báo tang, viếng tang, đáp lễ, hoặc bàn luận những vấn đề can hệ đến cả hai quốc gia. Quy mô của những chuyến đi sứ cũng thật khác nhau. Ngược lại, Trung Hoa cũng cử các đoàn sứ bộ sang ta để thực hiện các việc giao bang, thông thương. Đoàn đi sứ bao gồm các vị đại quan trong triều đảm nhận vai trò Chánh sứ và Phó Chánh sứ.
Họ đều có kiến thức uyên thâm, có tài văn chương, nhất là tài “chuyên đối”4. Nhân chuyến đi sứ Trung Quốc, các sứ thần thường ghi chép lại những cảm nhận của mình bằng văn chương. Vì vậy, thơ sứ trình (thơ đi sứ) chính 4 Chuyên đối: chuyên đối đáp bằng lí lẽ, lập luận, dẫn chứng. 9 là những tác phẩm thơ ca được các sứ thần sáng tác nhân hành trình đi sứ của mình.
Các thi phẩm sứ trình ấy không chỉ có ý nghĩa lịch sử, bang giao giữa các triều đại Việt Nam và Trung Hoa thời trung đại mà còn mang giá trị văn chương đặc sắc, làm phong phú cho nền thơ ca dân tộc. Trong phạm vi khảo cứu một tập thơ đi sứ của một tác giả vào giai đoạn cuối thế kỉ XVIII, chúng tôi đề cập đến những thông tin về giai đoạn lịch sử Việt Nam thời Cảnh Hưng – Lê Chiêu Thống (1740 – 1788). Đây là giai đoạn có nhiều biến động trong lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam. Giai đoạn này trải dài trên 40 năm đã ghi nhận tám chuyến [15, tr.609] đi sứ của các sứ thần Việt Nam sang Trung Hoa với nhiều mục đích bang giao giữa hai quốc gia độc lập.
Cụ thể như sau: NGƯỜI CHỊU NĂM ĐI NGƯỜI STT TRÁCH NHIỆM CHUYẾN ĐI SỨ TRỊ VÌ (3,tr.608,609)5 - Chánh sứ Nguyễn Kiều 阮 翹 (1695 – 1752) Cảnh Hưng - Vua: Lê Hiển Tông. 01 - Phó sứ Nguyễn Tông Quai 阮宗乖 (1692 – thứ 2 (1741) - Chúa: Trịnh Doanh 1767) - Chánh sứ Nguyễn Tông Quai 阮宗乖 (1692 Cảnh Hưng – 1767) - Vua: Lê Hiển Tông. Cảnh Hưng - Chánh sứ Vũ Khâm Thận 武欽慎 [1702-?]6 - Vua: Lê Hiển Tông. 03 thứ 14 - Phó sứ Đào Xuân Hương 陶春香.
- Chúa: Trịnh Doanh (1753) Cảnh Hưng - Chánh sứ Trần Huy Bật 陳輝弼. - Vua: Lê Hiển Tông. 04 thứ 21 - Hai phó sứ: Lê Quý Đôn 黎貴惇(1726 – - Chúa: Trịnh Doanh (1760) 1784), Trần Xuân Thụ 陳春樹 (1704 - ?) - Chánh sứ Nguyễn Huy Oánh 阮輝𠐓 (1713 Cảnh Hưng – 1789). - Vua: Lê Hiển Tông.
05 thứ 26 - Hai phó sứ: Lê Doãn Thân 黎允伸 (1720 - - Chúa: Trịnh Doanh (1765) ?), Nguyễn Thưởng 阮賞 (1727-?). 5 Năm sinh, năm mất của một số Chánh sứ, phó sứ chúng tôi không tra thấy khi căn cứ vào Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919), Ngô Đức Thọ-Nguyễn Thúy Nga-Nguyễn Hữu Mùi,NXB. 6 Sau đổi thành Vũ Khâm Lân 10 - Chánh sứ Đoàn Nguyễn Thục 段阮俶 (1718 Cảnh Hưng – 175). - Vua: Lê Hiển Tông.
06 thứ 32 - Hai phó sứ: Giáp phó sứ Vũ Huy Đĩnh 武輝 - Chúa: Trịnh Sâm (1771) 珽 (1730-1789), Ất phó sứ Nguyễn Lý 阮李. Cảnh Hưng - Chánh sứ Phan Tiến 潘先. - Vua: Lê Hiển Tông. 07 thứ 38 - Hai phó sứ7 (3,608): Ngô Hy Chử 梧希渚 , - Chúa: Trịnh Sâm (1777) Nguyễn Hương 阮香.
- Chánh sứ Hoàng Bình Chính 黃平政 (1736- Cảnh Hưng 1785). - Vua: Lê Hiển Tông. 08 thứ 44 - Hai phó sứ Lê Hữu Dung 黎有容 [1745-?], - Chúa: Trịnh Khải.1 Bảng thống kê các chuyến Trung Hoa giai đoạn cuối triều Hậu Lê (1740 – 1788) Như vậy, lịch sử bang giao với Trung Hoa giai đoạn này ghi nhận tám chuyến đi sứ của các sứ thần Việt Nam. Thời gian đi sứ giữa các chuyến đi đều diễn ra cách nhau 6 năm.
Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi: “Nhà Lê từ sau trung hưng, sứ bộ đi cống đều 6 năm một kỳ, cứ đến kỳ cống thì làm văn thơ và sai sứ, tờ biểu đại để theo lề lối lời giản lược, không có văn chương phiền phức như ngày trước, cho nên không cần chép rõ ra đây, chỉ chép niên hạn, sứ thần và số người đi cống mà thôi” [15, tr. Riêng chuyến đi sứ của Chánh sứ Trần Huy Bật diễn ra năm 1760 cách chuyến đi trước 7 năm. Khoảng cách thời gian này không được Lịch triều hiến chương loại chí ghi rõ. Tuy nhiên, theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì năm 1759, Đại Việt có tang khi Thượng hoàng Lê Ý Tông mất: “Tháng 6 nhuận.
Thượng hoàng mất, táng ở lăng Phù Lê. Sau khi đã truyền ngôi, thượng hoàng ở điện Kiền Thọ, đến nay mất, dâng tôn thụy là Huy hoàng đế, miếu hiệu Ý Tông. Thượng hoàng ở ngôi 6 năm, nhường ngôi 20 năm, hưởng thọ 41 tuổi” [106, tr. Hay trong bài nghiên cứu “Hoạt động giao lưu học thuật giữa Việt Nam với các nước Đông Á trong thế kỉ XVIII thông qua chuyến đi sứ Trung Quốc của sứ thần Việt Nam giai đoạn 1760 – 7 Năm thứ 38 (1777, ngang với năm Càn Long thứ 42 nhà Thanh), sai Chánh sứ Hoàng Bình Chính, Phó sứ Lê Hữu Dụng và Nguyễn Đương sang cống nhà Thanh.
Điều này giống sách Lê quý ký sự đều không có thông tin gì về lần đi sứ của Hồ Sĩ Đống như một số thông tin về Hồ Sĩ Đống. 11 1762”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ tư “Việt Nam trên đường hội nhập và phát triển bền vững” đã viết: “Năm Kỷ Mão (1759) triều đình nước ta đến lịch cử bồi thần đi sứ dâng lễ vật tuế cống của hai năm 1756 và 1759, dự định mùa thu tháng 9 năm Kỷ Mão các sứ thần sẽ khởi trình. Nhưng do ngày mồng 8 tháng 6 nhuận năm ấy, vua Lê Ý Tông mất, nên ngày 27 tháng 6, triều đình đã gửi công văn xin báo tang kèm với tuế cống. Ngày 19 tháng 11, nhận được chiếu chỉ của Trung Quốc thông báo đồng ý cho báo tang cùng với kì tuế cống.
Kế hoạch khởi trình từ mùa thu tháng 9 năm Kỷ Mão lùi lại đến mùa xuân tháng giêng năm Canh Thìn” [126, tr. Dẫn đầu sứ đoàn đều là một Chánh sứ và từ một đến hai Phó sứ, cụ thể hai chuyến đi sứ năm 1741, 1753 có một Chánh sứ và một Phó sứ. Sáu chuyến đi sứ còn lại đều có một Chánh sứ và hai Phó sứ. Vì vậy, tám chuyến đi sứ dưới thời Cảnh Hưng – Lê Chiêu Thống có tổng cộng 8 Chánh sứ và 14 Phó sứ.
Hệ thống tác giả và tác phẩm thơ văn đi sứ giai đoạn cuối triều Hậu Lê Tám chuyến đi sứ thời Cảnh Hưng – Lê Chiêu Thống có tổng cộng 22 vị đại quan làm Chánh sứ và phó Chánh sứ sang Trung Hoa. Một số sứ thần có các sáng tác về chuyến đi sứ. Dựa vào phần Văn tịch chí trong cuốn Lịch triều hiến chương loại chí (Tập 2), cuốn Các nhà khoa bảng Việt Nam (Ngô Đức Thọ - Chủ biên), Di sản Hán Nôm (Trần Nghĩa – Francois Gros), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Tập 1, Tập 2 (Trần Văn Giáp), Khảo luận hồ sơ tác giả Văn học Hán Nôm Việt Nam (Nguyễn Thị Thanh Chung), luận án thống kê các tác phẩm thơ văn của các tác giả, bảng thống kê cụ thể như sau: THỂ STT TÁC GIẢ TÊN TÁC PHẨM SỐ LƯỢNG LOẠI Sáng tác chung với Nguyễn Kiều phó sứ Nguyễn Tông Hạo Hiên thi tập 01 阮翹 Thơ Quai trong Sứ hoa (浩軒詩集) (1695 – 1752) tùng vịnh [119, tr. 670 câu thơ Nôm lục Nguyễn Tông Quai Sứ trình tân truyện 02 Truyện thơ bát và 8 bài thơ Đường 阮宗乖 (使程新傳) luật chữ Nôm [174].
(使華叢詠) Sáng tác chung với Nguyễn Kiều. Quế Đường thi tập 3 quyển 351 bài [15, Thơ Lê Quý Đôn (黎貴詩集) tr.471] 04 黎貴惇 2 bản viết (Thượng, Hạ) Bắc sứ thông lục Thơ văn, câu (1726 – 1784) gồm 354 trang (kí hiệu (北使通録) đối, thư từ A. Nguyễn Huy Oánh 470 câu thơ Nôm lục Phụng sứ Yên đài tổng ca 05 阮輝瑩 Thơ bát xen kẽ 136 bài thơ (奉使燕臺總歌) (1713 – 1789) Đường luật [73, tr. - Đoàn Hoàng giáp Đoàn Nguyễn phụng sứ tập 06 Thục 段阮俶 (段黃甲奉使集) Thơ 1 quyển 21 bài [15, (1718 – 1775) - Hải An sứ vịnh tr.480] (海安使詠) Vũ Huy Đĩnh Hoa trình thi tập 07 武輝珽 Thơ 151 bài (華程詩集) (1730 – 1789) Hồ Sĩ Đống Hoa trình khiển hứng 08 胡士棟 Thơ 97 bài [5, tr.2: Bảng thống kê tác giả, tác phẩm thơ văn đi sứ thời Cảnh Hưng – Lê Chiêu Thống Như vậy, sáng tác của sứ thần về chuyến đi sứ rất đa dạng với nhiều thể loại.
Các sáng tác được thống kê trên có thể không phải là tất cả các sáng tác của sứ thần khi đi sứ ở giai đoạn này. Tuy nhiên, những tác phẩm được thống kê ở những cuốn sách trên và các văn bản hiện lưu giữ trong VNCHN, TVQGVN cho thấy hiện có 3 Chánh sứ và 5 phó Chánh sứ đã có những sáng tác thơ văn ghi lại sứ trình của mình. Theo thống kê của chúng tôi, giai đoạn cuối triều Hậu Lê có 09 văn bản chép thơ văn đi sứ Trung Hoa (1 văn bản tập hợp chung giữa Nguyễn Kiều và Nguyễn Tông Quai).