Nghiên Cứu Văn Bản Hoa Trình Thi Tập Của Vũ Huy Đĩnh

Chuyên khảo phân tích Khảo cứu văn bản hoa trình thi tập của vũ huy đĩnh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Đại học Sư phạm Hà Nội

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

327
10
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Tình hình nghiên cứu thơ văn đi sứ giai đoạn cuối triều Hậu Lê

1.2. Hệ thống sứ bộ giai đoạn cuối triều Hậu Lê

1.3. Hệ thống tác giả và tác phẩm thơ văn đi sứ giai đoạn cuối triều Hậu Lê

1.4. Các hướng nghiên cứu thơ văn đi sứ giai đoạn cuối triều Hậu Lê

1.5. Lịch sử nghiên cứu văn bản tác phẩm Hoa trình thi tập của Vũ Huy Đĩnh

1.6. Lịch sử nghiên cứu tác giả Vũ Huy Đĩnh

1.7. Vấn đề nghiên cứu văn bản tác phẩm Hoa trình thi tập

1.8. Vấn đề dịch thuật Hoa trình thi tập

1.9. Các lý thuyết liên quan đến đề tài

1.9.1. Lý thuyết nghiên cứu về văn bản

1.9.2. Lý thuyết nghiên cứu tác giả, tác phẩm văn học

1.9.3. Lý thuyết phiên dịch học tác phẩm Hán Nôm

1.10. Hướng nghiên cứu của đề tài

1.11. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: KHẢO LUẬN VỀ TÁC GIẢ VŨ HUY ĐĨNH VÀ GIỚI THIỆU VỀ VĂN BẢN TÁC PHẨM HOA TRÌNH THI TẬP

2.1. Khảo luận về tác giả Vũ Huy Đĩnh (1730-1789)

2.2. Về cuộc đời Vũ Huy Đĩnh

2.3. Sự nghiệp trước tác

2.4. Tác phẩm của Vũ Huy Đĩnh trong các biệt tập

2.5. Tác phẩm của Vũ Huy Đĩnh trong các tổng tập

2.6. Giới thiệu về văn bản tác phẩm Hoa trình thi tập

2.7. Về nhan đề và tính chân xác của tác phẩm

2.7.1. Nhan đề của thi tập

2.7.2. Tính chân xác của thi tập

2.8. Thông tin về chuyến đi sứ và thời gian sáng tác thi tập

2.8.1. Thông tin về chuyến đi sứ

2.8.2. Thời gian sáng tác thi tập

2.8.3. Thời gian biên định của thi tập

2.9. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VĂN BẢN HOA TRÌNH THI TẬP

3.1. Khảo sát chung các văn bản Hoa trình thi tập và nhận định về bản cơ sở

3.1.1. Khảo sát chung các văn bản “Hoa trình thi tập”

3.1.2. Văn bản “Hoa trình thi tập” mang kí hiệu A

3.1.3. Văn bản “Hoa trình thi tập” mang kí hiệu R

3.1.4. Nhận định về bản cơ sở “Hoa trình thi tập”

3.2. Hiệu khám văn bản và nhận định về thiện bản

3.2.1. Hiệu khám bài tựa

3.2.2. Hiệu khám số lượng tác phẩm

3.2.3. Hiệu khám chính văn

3.2.4. Hiện tượng đảo văn tự

3.2.5. Hiện tượng xuất nhập văn tự

3.2.6. Các trường hợp dị văn

3.2.7. Nhận định về thiện bản

3.3. Xác định kết cấu thiện bản Hoa trình thi tập

3.3.1. Người viết tựa, người biên soạn, người viết lời bình

3.3.2. Quan điểm biên soạn

3.3.3. Nhận định của người đương thời về tác phẩm

3.4. Thơ của Vũ Huy Đĩnh

3.4.1. Thơ sứ trình

3.4.2. Thơ xướng họa

3.5. Thơ của tác giả khác

3.6. Phần nguyên chú, nguyên bình, nguyên dẫn

3.6.1. Thông tin về số lượng và vị trí

3.6.2. Nội dung phản ánh

3.7. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ THƠ CA CỦA HOA TRÌNH THI TẬP

4.1. Giá trị nội dung

4.1.1. Quan niệm về trọng trách của sứ thần

4.1.2. Tình yêu quê hương

4.1.3. Tự hào về cảnh đẹp quê hương

4.1.4. Nỗi nhớ quê da diết

4.1.5. Tình yêu thương con người

4.1.6. Tình yêu thiên nhiên

4.2. Giá trị nghệ thuật

4.2.1. Ngôn từ nghệ thuật

4.2.2. Nghệ thuật sử dụng điển tích, điển cố

4.2.3. Nghệ thuật thơ xướng họa

4.3. Tiểu kết chương 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Tên tác phẩm thơ giữa bản A

Phụ lục 2. Biện giải dị văn giữa hai bản A

Phụ lục 3. Biện giải hiện tượng đảo chữ giữa hai bản A

Phụ lục 4. Trường hợp xuất nhập văn tự giữa hai bản A

Phụ lục 5. Giới thiệu toàn văn bài tựa

Phụ lục 6. Hiệu khám bài tựa trong Hoa trình thi tập

Phụ lục 7. Giới thiệu 101 tác phẩm thơ trong Hoa trình thi tập

Phụ lục 8. Giới thiệu 5 bài thơ của Vũ Huy Đĩnh trong Việt thi tục biên

Phụ lục 9. Bia số 73 tại Văn Miếu

Phụ lục 10. Một số hình ảnh về làng Mộ Trạch

Phụ lục 11. Nguyên bản chữ Hán “Hoa trình thi tập”, kí hiệu A

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Hoa Trình Thi Tập Vũ Huy Đĩnh

Nghiên cứu về thơ ca đi sứ đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhưng vẫn còn nhiều tác giả và tác phẩm cần được khám phá toàn diện. Hoa Trình thi tập của Vũ Huy Đĩnh là một ví dụ điển hình. Chuyến đi sứ năm 1771, với Đoàn Nguyễn Thục làm Chánh sứ và Vũ Huy Đĩnh làm Phó Chánh sứ, đã khơi nguồn cảm hứng cho nhiều sáng tác của ông. Nghiên cứu này nhằm giới thiệu và đánh giá văn bản Hoa Trình thi tập, làm sáng tỏ giá trị của nó trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam. Phạm Nguyễn Du từng nhận định về thơ Vũ Huy Đĩnh là “hùng hồn thâm sâu, diệu đạt tinh thông”, nhưng công trình nghiên cứu về ông còn hạn chế. Luận án này sẽ khảo cứu tác phẩm của ông về phương diện văn bản học và giá trị.

1.1. Lịch Sử Nghiên Cứu Thơ Văn Đi Sứ Triều Hậu Lê

Thơ văn đi sứ đóng vai trò quan trọng trong văn học trung đại Việt Nam, làm phong phú thêm về hình thức, thể tài và nội dung. Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu nhiều công trình, bài nghiên cứu từ tổng quan đến các văn bản, tác giả cụ thể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tác giả, thi tập, văn tập cần được tìm hiểu một cách toàn diện nhằm đem đến cái nhìn vừa tổng quát vừa chi tiết về dòng thơ văn này.

1.2. Tình Hình Nghiên Cứu Văn Bản Hoa Trình Thi Tập

Tình hình nghiên cứu văn bản Hoa Trình thi tập của Vũ Huy Đĩnh còn nhiều hạn chế, đặc biệt là về dịch thuật và khảo cứu văn bản. Luận án này sẽ tập trung vào việc khảo sát và phân tích văn bản Hán Nôm này, đồng thời đánh giá giá trị nội dung và nghệ thuật của nó. Việc nghiên cứu này sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn về tác giả Vũ Huy Đĩnh và tác phẩm của ông.

II. Vấn Đề Thách Thức Nghiên Cứu Hoa Trình Thi Tập

Việc giảng dạy văn học về chuyến đi sứ của các sứ thần Việt Nam thời phong kiến còn hạn chế trong chương trình phổ thông. Mảng sáng tác này thường chỉ được giới thiệu qua một vài tác phẩm đọc thêm. Luận án này mong muốn giới thiệu thêm giá trị thơ văn của bậc tiền nhân khi đi sứ, bồi đắp niềm tự hào về quê hương đất nước. Mục tiêu là làm rõ vấn đề văn bản học của Hoa Trình thi tập, khai thác giá trị nội dung và nghệ thuật, và cung cấp cái nhìn toàn diện về Vũ Huy Đĩnh.

2.1. Thiếu Hụt Nghiên Cứu Về Tác Giả Vũ Huy Đĩnh

Mặc dù có những đánh giá cao về tài năng của Vũ Huy Đĩnh, nhưng các công trình nghiên cứu về ông còn ít và chưa sâu. Tác giả và văn bản Hoa Trình thi tập chưa được nghiên cứu cụ thể, hệ thống và tường tận. Luận án này sẽ khảo cứu về tác phẩm của ông về phương diện văn bản và giá trị tác phẩm.

2.2. Hạn Chế Trong Giảng Dạy Thơ Văn Đi Sứ

Trong các nhà trường phổ thông hiện nay, việc giảng dạy văn học sáng tác về chuyến đi sứ của các sứ thần Việt Nam thời phong kiến còn bỏ ngỏ. Thậm chí, mảng sáng tác này chỉ được chọn giảng dạy cho học sinh một tác phẩm nhưng lại nằm ở tiết đọc thêm cùng với hai tác phẩm của hai tác giả khác.

2.3. Mục Tiêu Nghiên Cứu Giá Trị Hoa Trình Thi Tập

Luận án cung cấp một cách đầy đủ nhất (trong phạm vi có thể) và thống nhất về tiểu sử, con người, cùng với những đóng góp của Vũ Huy Đĩnh với triều đại nhà Lê, với đất nước quê hương. Nhiệm vụ nghiên cứu là tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp của Vũ Huy Đĩnh, khảo sát văn bản Hoa Trình thi tập, khảo sát bài tựa và toàn bộ sáng tác thơ, và khảo luận về giá trị nội dung và nghệ thuật.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Văn Bản Học Hoa Trình Thi Tập

Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, bao gồm văn bản học, nghiên cứu tác giả tác phẩm, phiên dịch học, điều tra điền dã và các phương pháp liên ngành. Phương pháp văn bản học giúp xác định tính chân thật của văn bản, hiệu chính sai sót. Phương pháp nghiên cứu tác giả tác phẩm làm rõ mối quan hệ giữa Vũ Huy Đĩnh và lịch sử. Phương pháp phiên dịch học được dùng để dịch chú các tác phẩm trong Hoa Trình thi tập.

3.1. Hiệu Khám Học Đối Chiếu So Sánh Văn Bản Cổ

Sử dụng các phương pháp khoa học để hiệu chính sai lầm về chữ viết, cụ thể gồm: Đối hiệu pháp (đối chiếu, so sánh): dùng văn bản của tác phẩm đang nghiên cứu để so sánh đối chiếu với dị bản của nó. Với phương pháp này, luận án tìm ra những dị văn, dị tự và biện giải hợp lí để xác lập chuẩn nhất về thơ ca trong Hoa trình thi tập ở bản A.

3.2. Biện Ngụy Học Xác Định Tính Chân Thật Văn Bản Hán Nôm

Dùng để xác định tính chân thật của văn bản, giám định văn bản là sách thật hay giả. Phương pháp này dùng để xác định được tính chân ngụy của văn bản Hoa trình thi tập qua con đường lưu truyền, nội dung trong văn bản.

3.3. Phương Pháp Liên Ngành Văn Hóa Lịch Sử Ngôn Ngữ

Một số phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hán Nôm được chúng tôi áp dụng như Văn tự học, Văn hóa học, Địa danh học, nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu ngôn ngữ, nghiên cứu so sánh. Ngoài ra, chúng tôi cũng vận dụng thêm phương tiểu sử học trong luận án.

IV. Giá Trị Nội Dung Hoa Trình Thi Tập Vũ Huy Đĩnh

Hoa Trình thi tập phản ánh quan niệm về trọng trách của sứ thần, tình yêu quê hương, niềm tự hào về cảnh đẹp đất nước, nỗi nhớ nhà da diết, tình yêu thương con người và thiên nhiên. Các sáng tác của Vũ Huy Đĩnh thể hiện tấm lòng của ông đối với thời đại và đất nước. Luận án sẽ phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm thơ trong văn bản.

4.1. Quan Niệm Về Trọng Trách Của Sứ Thần Việt Nam

Hoa Trình thi tập thể hiện rõ quan niệm về trách nhiệm của sứ thần trong việc bang giao và bảo vệ lợi ích quốc gia. Các bài thơ thường đề cập đến những khó khăn, thử thách trên hành trình đi sứ, cũng như những suy tư về vận mệnh đất nước.

4.2. Tình Yêu Quê Hương Nỗi Nhớ Da Diết

Tình yêu quê hương là một chủ đề xuyên suốt trong Hoa Trình thi tập. Các bài thơ thường miêu tả cảnh đẹp của quê nhà, đồng thời thể hiện nỗi nhớ da diết của tác giả khi xa quê hương. Những cảm xúc này góp phần làm nên giá trị nhân văn của tác phẩm.

4.3. Tình Yêu Thiên Nhiên Con Người Trong Thơ

Vũ Huy Đĩnh cũng thể hiện tình yêu thiên nhiên và con người trong các sáng tác của mình. Các bài thơ thường miêu tả cảnh vật thiên nhiên tươi đẹp, đồng thời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người. Điều này cho thấy tấm lòng nhân ái và sự quan tâm sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống.

V. Giá Trị Nghệ Thuật Thi Pháp Thơ Nôm Vũ Huy Đĩnh

Nghệ thuật sử dụng ngôn từ, điển tích, điển cố và thơ xướng họa là những yếu tố làm nên giá trị nghệ thuật của Hoa Trình thi tập. Phong cách thơ của Vũ Huy Đĩnh mang đậm dấu ấn cá nhân, vừa kế thừa truyền thống, vừa có sự sáng tạo riêng. Luận án sẽ phân tích các yếu tố này để làm nổi bật giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

5.1. Ngôn Từ Nghệ Thuật Sử Dụng Điển Tích

Vũ Huy Đĩnh sử dụng ngôn từ nghệ thuật một cách tinh tế và sáng tạo. Ông thường sử dụng các điển tích, điển cố để tăng thêm tính hàm súc và sâu sắc cho các bài thơ. Điều này cho thấy sự am hiểu sâu rộng về văn hóa và lịch sử của tác giả.

5.2. Nghệ Thuật Thơ Xướng Họa Trong Hoa Trình Thi Tập

Thơ xướng họa là một hình thức nghệ thuật phổ biến trong văn học trung đại Việt Nam. Vũ Huy Đĩnh đã sử dụng hình thức này một cách thành công trong Hoa Trình thi tập, tạo nên sự đa dạng và phong phú cho tác phẩm.

5.3. Phong Cách Thơ Độc Đáo Của Vũ Huy Đĩnh

Phong cách thơ của Vũ Huy Đĩnh mang đậm dấu ấn cá nhân, vừa kế thừa truyền thống, vừa có sự sáng tạo riêng. Ông đã tạo ra một phong cách thơ độc đáo, góp phần làm phong phú thêm cho văn học trung đại Việt Nam.

VI. Đóng Góp Ý Nghĩa Của Nghiên Cứu Hoa Trình Thi Tập

Luận án xác định bản cơ sở cho văn bản Hoa Trình thi tập, khảo cứu các vấn đề văn bản học, tìm hiểu chi tiết về chuyến đi sứ năm 1771, nghiên cứu về cuộc đời và nhận định về Vũ Huy Đĩnh, khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của các sáng tác thơ, và dịch thuật 101 tác phẩm thơ. Luận án góp phần nâng cao nhận thức về giá trị của những sáng tác thơ văn khi đi sứ, bồi đắp tâm hồn yêu nước và tinh thần tự tôn dân tộc.

6.1. Xác Định Bản Cơ Sở Khảo Cứu Văn Bản Học

Luận án xác định bản cơ sở cho văn bản Hoa Trình thi tập của Vũ Huy Đĩnh trên cơ sở hai bản A.446 tại VNCHN và bản R.38 đã được TVQGVN số hóa. Khảo cứu các vấn đề văn bản học của văn bản Hoa Trình thi tập góp thêm vào việc hoàn thiện khảo sát sáng tác thơ của Vũ Huy Đĩnh.

6.2. Nghiên Cứu Chi Tiết Về Chuyến Đi Sứ Năm 1771

Tìm hiểu chi tiết về chuyến đi sứ năm 1771 của Vũ Huy Đĩnh về mặt thời gian, địa điểm, mục đích ý nghĩa, lễ vật… khi đi sứ Trung Hoa. Luận án góp phần làm rõ hơn lịch sử bang giao của nước ta trong thời kỳ xã hội phong kiến, nhất là giai đoạn cuối triều Lê.

6.3. Dịch Thuật Phân Tích 101 Tác Phẩm Thơ

Dịch thuật (cung cấp nguyên văn, phiên âm, dịch nghĩa, chú bình) 101 tác phẩm thơ trong văn bản Hoa Trình thi tập của Vũ Huy Đĩnh. Luận án góp phần làm nâng cao nhận thức về giá trị của những sáng tác thơ văn khi đi sứ của các sứ thần trong các triều đại Phong kiến Việt Nam; có những đánh giá về mảng thơ này trong giá trị chung của nền văn học.

08/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Văn thơ đi sứ có một vai trò to lớn trong nền văn học Việt Nam. Mảng sáng tác này đã góp phần làm phong phú cho văn học giai đoạn trung đại cả về hình thức, thể tài lẫn nội dung. Trong chương tổng quan về tình hình nghiên cứu, luận án tập trung đề cập đến những chuyến đi sứ, các sáng tác của các sứ thần ở thời Cảnh Hưng – Lê Chiêu Thống. Đồng thời, luận án cũng khảo sát tình hình nghiên cứu thơ văn đi sứ giai đoạn này trên cơ sở thống kê, nhận định về các công trình, luận án, bài nghiên cứu… Bên cạnh đó, luận án cũng đánh giá tình hình nghiên cứu văn bản tác phẩm Hoa trình thi tập của Vũ Huy Đĩnh ở các bình diện như dịch thuật, khảo cứu văn bản và nghiên cứu tác phẩm.

Từ đó, luận án đề cập đến những hệ thống lý thuyết liên quan đến việc triển khai nghiên cứu và hướng nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu thơ văn đi sứ giai đoạn cuối triều Hậu Lê 1. Hệ thống sứ bộ giai đoạn cuối triều Hậu Lê Lịch sử bang giao của Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX trở về trước chủ yếu là lịch sử bang giao giữa Việt Nam và Trung Hoa. Theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, từ đời nhà Trần cứ ba năm một lần đến đời Hậu Lê sáu năm một lần, nước ta lại đi sứ Trung Hoa [15, tr.

Các đoàn sứ bộ Việt Nam được cử đi với các mục đích khác nhau như cầu phong, chúc mừng, báo tang, viếng tang, đáp lễ, hoặc bàn luận những vấn đề can hệ đến cả hai quốc gia. Quy mô của những chuyến đi sứ cũng thật khác nhau. Ngược lại, Trung Hoa cũng cử các đoàn sứ bộ sang ta để thực hiện các việc giao bang, thông thương. Đoàn đi sứ bao gồm các vị đại quan trong triều đảm nhận vai trò Chánh sứ và Phó Chánh sứ.

Họ đều có kiến thức uyên thâm, có tài văn chương, nhất là tài “chuyên đối”4. Nhân chuyến đi sứ Trung Quốc, các sứ thần thường ghi chép lại những cảm nhận của mình bằng văn chương. Vì vậy, thơ sứ trình (thơ đi sứ) chính 4 Chuyên đối: chuyên đối đáp bằng lí lẽ, lập luận, dẫn chứng. 9 là những tác phẩm thơ ca được các sứ thần sáng tác nhân hành trình đi sứ của mình.

Các thi phẩm sứ trình ấy không chỉ có ý nghĩa lịch sử, bang giao giữa các triều đại Việt Nam và Trung Hoa thời trung đại mà còn mang giá trị văn chương đặc sắc, làm phong phú cho nền thơ ca dân tộc. Trong phạm vi khảo cứu một tập thơ đi sứ của một tác giả vào giai đoạn cuối thế kỉ XVIII, chúng tôi đề cập đến những thông tin về giai đoạn lịch sử Việt Nam thời Cảnh Hưng – Lê Chiêu Thống (1740 – 1788). Đây là giai đoạn có nhiều biến động trong lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam. Giai đoạn này trải dài trên 40 năm đã ghi nhận tám chuyến [15, tr.609] đi sứ của các sứ thần Việt Nam sang Trung Hoa với nhiều mục đích bang giao giữa hai quốc gia độc lập.

Cụ thể như sau: NGƯỜI CHỊU NĂM ĐI NGƯỜI STT TRÁCH NHIỆM CHUYẾN ĐI SỨ TRỊ VÌ (3,tr.608,609)5 - Chánh sứ Nguyễn Kiều 阮 翹 (1695 – 1752) Cảnh Hưng - Vua: Lê Hiển Tông. 01 - Phó sứ Nguyễn Tông Quai 阮宗乖 (1692 – thứ 2 (1741) - Chúa: Trịnh Doanh 1767) - Chánh sứ Nguyễn Tông Quai 阮宗乖 (1692 Cảnh Hưng – 1767) - Vua: Lê Hiển Tông. Cảnh Hưng - Chánh sứ Vũ Khâm Thận 武欽慎 [1702-?]6 - Vua: Lê Hiển Tông. 03 thứ 14 - Phó sứ Đào Xuân Hương 陶春香.

- Chúa: Trịnh Doanh (1753) Cảnh Hưng - Chánh sứ Trần Huy Bật 陳輝弼. - Vua: Lê Hiển Tông. 04 thứ 21 - Hai phó sứ: Lê Quý Đôn 黎貴惇(1726 – - Chúa: Trịnh Doanh (1760) 1784), Trần Xuân Thụ 陳春樹 (1704 - ?) - Chánh sứ Nguyễn Huy Oánh 阮輝𠐓 (1713 Cảnh Hưng – 1789). - Vua: Lê Hiển Tông.

05 thứ 26 - Hai phó sứ: Lê Doãn Thân 黎允伸 (1720 - - Chúa: Trịnh Doanh (1765) ?), Nguyễn Thưởng 阮賞 (1727-?). 5 Năm sinh, năm mất của một số Chánh sứ, phó sứ chúng tôi không tra thấy khi căn cứ vào Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919), Ngô Đức Thọ-Nguyễn Thúy Nga-Nguyễn Hữu Mùi,NXB. 6 Sau đổi thành Vũ Khâm Lân 10 - Chánh sứ Đoàn Nguyễn Thục 段阮俶 (1718 Cảnh Hưng – 175). - Vua: Lê Hiển Tông.

06 thứ 32 - Hai phó sứ: Giáp phó sứ Vũ Huy Đĩnh 武輝 - Chúa: Trịnh Sâm (1771) 珽 (1730-1789), Ất phó sứ Nguyễn Lý 阮李. Cảnh Hưng - Chánh sứ Phan Tiến 潘先. - Vua: Lê Hiển Tông. 07 thứ 38 - Hai phó sứ7 (3,608): Ngô Hy Chử 梧希渚 , - Chúa: Trịnh Sâm (1777) Nguyễn Hương 阮香.

- Chánh sứ Hoàng Bình Chính 黃平政 (1736- Cảnh Hưng 1785). - Vua: Lê Hiển Tông. 08 thứ 44 - Hai phó sứ Lê Hữu Dung 黎有容 [1745-?], - Chúa: Trịnh Khải.1 Bảng thống kê các chuyến Trung Hoa giai đoạn cuối triều Hậu Lê (1740 – 1788) Như vậy, lịch sử bang giao với Trung Hoa giai đoạn này ghi nhận tám chuyến đi sứ của các sứ thần Việt Nam. Thời gian đi sứ giữa các chuyến đi đều diễn ra cách nhau 6 năm.

Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi: “Nhà Lê từ sau trung hưng, sứ bộ đi cống đều 6 năm một kỳ, cứ đến kỳ cống thì làm văn thơ và sai sứ, tờ biểu đại để theo lề lối lời giản lược, không có văn chương phiền phức như ngày trước, cho nên không cần chép rõ ra đây, chỉ chép niên hạn, sứ thần và số người đi cống mà thôi” [15, tr. Riêng chuyến đi sứ của Chánh sứ Trần Huy Bật diễn ra năm 1760 cách chuyến đi trước 7 năm. Khoảng cách thời gian này không được Lịch triều hiến chương loại chí ghi rõ. Tuy nhiên, theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì năm 1759, Đại Việt có tang khi Thượng hoàng Lê Ý Tông mất: “Tháng 6 nhuận.

Thượng hoàng mất, táng ở lăng Phù Lê. Sau khi đã truyền ngôi, thượng hoàng ở điện Kiền Thọ, đến nay mất, dâng tôn thụy là Huy hoàng đế, miếu hiệu Ý Tông. Thượng hoàng ở ngôi 6 năm, nhường ngôi 20 năm, hưởng thọ 41 tuổi” [106, tr. Hay trong bài nghiên cứu “Hoạt động giao lưu học thuật giữa Việt Nam với các nước Đông Á trong thế kỉ XVIII thông qua chuyến đi sứ Trung Quốc của sứ thần Việt Nam giai đoạn 1760 – 7 Năm thứ 38 (1777, ngang với năm Càn Long thứ 42 nhà Thanh), sai Chánh sứ Hoàng Bình Chính, Phó sứ Lê Hữu Dụng và Nguyễn Đương sang cống nhà Thanh.

Điều này giống sách Lê quý ký sự đều không có thông tin gì về lần đi sứ của Hồ Sĩ Đống như một số thông tin về Hồ Sĩ Đống. 11 1762”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ tư “Việt Nam trên đường hội nhập và phát triển bền vững” đã viết: “Năm Kỷ Mão (1759) triều đình nước ta đến lịch cử bồi thần đi sứ dâng lễ vật tuế cống của hai năm 1756 và 1759, dự định mùa thu tháng 9 năm Kỷ Mão các sứ thần sẽ khởi trình. Nhưng do ngày mồng 8 tháng 6 nhuận năm ấy, vua Lê Ý Tông mất, nên ngày 27 tháng 6, triều đình đã gửi công văn xin báo tang kèm với tuế cống. Ngày 19 tháng 11, nhận được chiếu chỉ của Trung Quốc thông báo đồng ý cho báo tang cùng với kì tuế cống.

Kế hoạch khởi trình từ mùa thu tháng 9 năm Kỷ Mão lùi lại đến mùa xuân tháng giêng năm Canh Thìn” [126, tr. Dẫn đầu sứ đoàn đều là một Chánh sứ và từ một đến hai Phó sứ, cụ thể hai chuyến đi sứ năm 1741, 1753 có một Chánh sứ và một Phó sứ. Sáu chuyến đi sứ còn lại đều có một Chánh sứ và hai Phó sứ. Vì vậy, tám chuyến đi sứ dưới thời Cảnh Hưng – Lê Chiêu Thống có tổng cộng 8 Chánh sứ và 14 Phó sứ.

Hệ thống tác giả và tác phẩm thơ văn đi sứ giai đoạn cuối triều Hậu Lê Tám chuyến đi sứ thời Cảnh Hưng – Lê Chiêu Thống có tổng cộng 22 vị đại quan làm Chánh sứ và phó Chánh sứ sang Trung Hoa. Một số sứ thần có các sáng tác về chuyến đi sứ. Dựa vào phần Văn tịch chí trong cuốn Lịch triều hiến chương loại chí (Tập 2), cuốn Các nhà khoa bảng Việt Nam (Ngô Đức Thọ - Chủ biên), Di sản Hán Nôm (Trần Nghĩa – Francois Gros), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Tập 1, Tập 2 (Trần Văn Giáp), Khảo luận hồ sơ tác giả Văn học Hán Nôm Việt Nam (Nguyễn Thị Thanh Chung), luận án thống kê các tác phẩm thơ văn của các tác giả, bảng thống kê cụ thể như sau: THỂ STT TÁC GIẢ TÊN TÁC PHẨM SỐ LƯỢNG LOẠI Sáng tác chung với Nguyễn Kiều phó sứ Nguyễn Tông Hạo Hiên thi tập 01 阮翹 Thơ Quai trong Sứ hoa (浩軒詩集) (1695 – 1752) tùng vịnh [119, tr. 670 câu thơ Nôm lục Nguyễn Tông Quai Sứ trình tân truyện 02 Truyện thơ bát và 8 bài thơ Đường 阮宗乖 (使程新傳) luật chữ Nôm [174].

(使華叢詠) Sáng tác chung với Nguyễn Kiều. Quế Đường thi tập 3 quyển 351 bài [15, Thơ Lê Quý Đôn (黎貴詩集) tr.471] 04 黎貴惇 2 bản viết (Thượng, Hạ) Bắc sứ thông lục Thơ văn, câu (1726 – 1784) gồm 354 trang (kí hiệu (北使通録) đối, thư từ A. Nguyễn Huy Oánh 470 câu thơ Nôm lục Phụng sứ Yên đài tổng ca 05 阮輝瑩 Thơ bát xen kẽ 136 bài thơ (奉使燕臺總歌) (1713 – 1789) Đường luật [73, tr. - Đoàn Hoàng giáp Đoàn Nguyễn phụng sứ tập 06 Thục 段阮俶 (段黃甲奉使集) Thơ 1 quyển 21 bài [15, (1718 – 1775) - Hải An sứ vịnh tr.480] (海安使詠) Vũ Huy Đĩnh Hoa trình thi tập 07 武輝珽 Thơ 151 bài (華程詩集) (1730 – 1789) Hồ Sĩ Đống Hoa trình khiển hứng 08 胡士棟 Thơ 97 bài [5, tr.2: Bảng thống kê tác giả, tác phẩm thơ văn đi sứ thời Cảnh Hưng – Lê Chiêu Thống Như vậy, sáng tác của sứ thần về chuyến đi sứ rất đa dạng với nhiều thể loại.

Các sáng tác được thống kê trên có thể không phải là tất cả các sáng tác của sứ thần khi đi sứ ở giai đoạn này. Tuy nhiên, những tác phẩm được thống kê ở những cuốn sách trên và các văn bản hiện lưu giữ trong VNCHN, TVQGVN cho thấy hiện có 3 Chánh sứ và 5 phó Chánh sứ đã có những sáng tác thơ văn ghi lại sứ trình của mình. Theo thống kê của chúng tôi, giai đoạn cuối triều Hậu Lê có 09 văn bản chép thơ văn đi sứ Trung Hoa (1 văn bản tập hợp chung giữa Nguyễn Kiều và Nguyễn Tông Quai).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Văn Bản Hoa Trình Thi Tập Của Vũ Huy Đĩnh" mang đến cái nhìn sâu sắc về văn bản thi tập của tác giả Vũ Huy Đĩnh, một trong những nhân vật quan trọng trong văn học Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ phân tích nội dung và hình thức của các tác phẩm mà còn khám phá bối cảnh lịch sử và văn hóa mà chúng được sáng tác. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về giá trị nghệ thuật và tư tưởng trong các tác phẩm của Vũ Huy Đĩnh, từ đó nâng cao nhận thức về di sản văn học Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chữ nôm và tiếng việt qua văn bản trình quốc công nguyễn bỉnh khiêm thi tập, nơi cung cấp cái nhìn về chữ Nôm và tiếng Việt trong văn học cổ. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ ngôn từ thơ thời kỳ kháng chiến chống pháp 1946 1954 nhìn từ bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng sẽ giúp bạn hiểu thêm về ngôn ngữ thơ ca trong bối cảnh lịch sử. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại việt nam sẽ mở ra một góc nhìn mới về sự đa dạng ngôn ngữ trong văn học Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan và nâng cao hiểu biết của mình.