Chương 1: Cơ sở lý luận về hộ tịch và thực hiện pháp luật về hộ tịch. Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘ TỊCH VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH 1. Cơ sở lý luận về hộ tịch 1.
Khái niệm hộ tịch Hộ tịch là một vấn đề đang đƣợc Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội quan tâm thực hiện. Từ trƣớc đến nay, nhìn nhận dƣới nhiều góc độ về ngôn ngữ học, khía cạnh pháp lý hay các quan niệm về hộ tịch ở nƣớc ta đã đƣa ra những quan điểm, khái niệm khác nhau. Tuy nhiên, chúng đều có sự tƣơng đồng và thể hiện những dấu hiệu cơ bản của hộ tịch, từ đó dẫn đến một cách hiểu thống nhất và toàn diện về khái niệm hộ tịch. Xét về góc độ ngôn ngữ học, “Hộ tịch” là một từ ngoại lai đƣợc du nhập vào ngôn ngữ tiếng Việt nhƣng rất khó xác định thời điểm xuất hiện.
Khảo cứu qua các bộ sử liệu nhƣ “Đại Việt sử ký toàn thƣ”, “Lịch triều hiến chƣơng loại chí”, “Việt sử thông giám cƣơng mục”. có thể thấy thuật ngữ “hộ tịch” đã xuất hiện từ rất sớm, bên cạnh nó còn các từ cổ có liên quan và cùng nằm trong phạm trù quản lý dân cƣ nhƣ “trƣớng tịch”, “hộ khẩu”, “sổ dân bạ”, “tiểu điển”, “đại điển”, “phụ tịch”, “chính hộ”, “khách hộ”,… Tuy nhiên, theo “Đại Nam Quốc âm tự vị”, cuốn từ điển của tác giả Huỳnh Tịnh Paulus Của1 đƣợc biên soạn từ năm 1895 với phƣơng pháp “tham dụng chữ Nho và lấy 24 chữ cái phương Tây làm chữ bộ” thì trong bộ chữ “hộ” chƣa có từ “hộ tịch” [7;tr 425]. “Hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính phụ, đƣợc ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố chính. Xét về mặt từ loại thì đây là một danh từ thuộc nhóm danh từ chỉ khái niệm trừu tƣợng.
Nếu tìm hiểu riêng từng thành tố thì có thể thấy, các từ điển Tiếng Việt hiện nay khá thống nhất trong cách hiểu về từng từ đơn này. Theo đó, từ “hộ” - khi sử dụng là danh từ có nhiều nghĩa khác nhau, nhƣng trong đó có một nghĩa trực tiếp là “dân sự” hoặc “nhà ở”, hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những ngƣời cùng ăn ở với nhau”. Tƣơng tự, từ “tịch” có nghĩa là “sổ sách” hoặc là “sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”. 9 1 Huỳnh Tịnh Paulus Của hay Huỳnh Tịnh Của ngƣời tỉnh Bà Rịa, ông thông thạo Hán và Pháp văn.
Năm 1881, đƣợc bổ ngạch Đốc phủ sứ, phụ trách các công việc dịch các văn án cho nhà cầm quyền Pháp tại Việt Nam. Bên cạnh đó, khi khảo cứu qua các từ điển Tiếng Việt thì thấy có nhiều cách giải nghĩa từ “hộ tịch” rất khác nhau. Dƣới đây là một số cách giải nghĩa: “Hộ tịch: Sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [11; tr.404] “Hộ tịch: Sổ biên nhận số một địa phương hoặc cả toàn quốc, trong có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [5; tr.296] "Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương” [9; tr.321] Xét thấy những cách giải nghĩa từ “hộ tịch” của các từ điển Hán - Việt nói trên có những nét khá tƣơng đồng. Bên cạnh đó, lại có một số từ điển giải nghĩa từ “hộ tịch” ở khía cạnh khác.
Một số ví dụ sau: "Hộ tịch: sổ của cơ quan dân chính đăng ký cư dân trong địa phương mình theo từng hộ" [20; tr.442] "Hộ tịch: Các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật" [10; tr.835] Xét về góc độ pháp lý, ở Việt Nam, thuật ngữ “hộ tịch” lần đầu tiên đƣợc định nghĩa trong các giáo trình giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dƣới chế độ Việt Nam Cộng hoà, trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả sau: Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là ngƣời đầu tiên trình bày quan niệm “hộ tịch” trong cuốn tài liệu chuyên khảo xuất bản năm 1958 nhƣ sau: “Hộ tịch - còn gọi là nhân thế bộ - là cách sinh hợp pháp của một công dân trong gia đình và trong xã hội. Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử". Tác giả Trần Thúc Linh, tác giả cuốn “Danh từ pháp luật lược giải” - vốn đƣợc đánh giá là một trong những từ điển chuyên ngành pháp lý đầu tiên - không 10 đƣa ra định nghĩa về khái niệm “hộ tịch” mà chỉ định nghĩa khái niệm “chứng thƣ hộ tịch”: “Chứng thư hộ tịch là những giấy tờ công chứng dùng để chứng minh một cách chính xác thân trạng người ta như ngày tháng sanh, tử, giá thú, họ tên, con trai con gái, con chính thức hay con tư sanh, tư cách vợ chồng. tóm lại tình trạng xã hội của con người từ lúc sinh ra đến khi chết.
Trong hệ thống pháp luật hiện hành, khái niệm “hộ tịch” cũng là một trƣờng hợp đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt. Các nhà xây dựng pháp luật đã dung hoà bằng giải pháp mà Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho phép, đó là sử dụng khái niệm này với tƣ cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản. Quy định tại Điều 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch thì: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”. Tuy nhiên, khái niệm này chƣa xác định rõ nội hàm của khái niệm, bởi trong cuộc đời một con ngƣời từ khi sinh ra cho đến khi chết có rất nhiều sự kiện liên quan đến tình trạng thân nhân và trong tất cả các sự kiện đó không phải sự kiện nào cũng thuộc lĩnh vực hộ tịch.
Chính vì vậy, Nghị định 158/2005NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch còn nêu thêm khái niệm “đăng ký hộ tịch” nhƣ sau: “Đăng ký hộ tịch theo quy định của Nghị định này là việc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền: - Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc; - Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi.” 11 Ngày 20/11/2014, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật hộ tịch. Ngày 04/12/2014, Chủ tịch nƣớc đã ký Lệnh số 18/2014/L-CTN về việc công bố Luật hộ tịch, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Theo quy định tại Điều 1 Luật hộ tịch 2014, xác định rõ hơn các sự kiện: “Hộ tịch là những sự kiện đƣợc quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết.” Điều 3 Luật này quy định về nội dung đăng ký hộ tịch 1. Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: a) Khai sinh; b) Kết hôn; c) Giám hộ; d) Nhận cha, mẹ, con; đ) Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; e) Khai tử.Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền: a) Thay đổi quốc tịch; b) Xác định cha, mẹ, con; c) Xác định lại giới tính; d) Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; đ) Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; e) Công nhận giám hộ; g) Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một ngƣời mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
Xác nhận hoặc ghi vào Sổ Hộ tịch các việc Hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.” Luật hộ tịch 2014 đã quy định rõ ràng về khái niệm “Hộ tịch” để các chủ thể xác định đƣợc những sự kiện thuộc lĩnh vực Hộ tịch. Qua những khái niệm trên tác giả rút ra kết luận: Hộ tịch là những sự kiện Hộ tịch nhƣ khai sinh, kết hôn, nhận cha, mẹ, con, thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch, khai tử, … Đăng ký Hộ tịch là việc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào sổ Hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nƣớc bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và thực hiện quản lý về dân cƣ. Mối quan hệ giữa hộ tịch với các lĩnh vực khác Hộ tịch là sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một ngƣời từ khi sinh ra đến khi chết. Vì vậy, các vấn đề về hộ tịch có mối liên hệ mật thiết với các ngành, lĩnh vực khác đặc biệt là ngành: công an trong quản lý hộ khẩu, chứng minh nhân dân, căn cƣớc công dân; ngành y tế trong lĩnh vực quản lý dân số, kế hoạch hóa gia định, bảo hiểm y tế; ngành giáo dục và đào tạo trong việc quản lý học bạ, văn bằng, chứng chỉ; ngành nội vụ trong việc quản lý hồ sơ cán bộ, công chức; ngành lao động, bảo hiểm; Hội phụ nữ, đoàn thành niên trong lĩnh vực tuyên truyền phổ biến quyền và nghĩa vụ của cá nhân trong việc thực hiện đăng ký hộ tịch.
Đăng ký hộ tịch đầy đủ, chính xác, kịp thời là cơ sở và tạo điều kiện thuận lợi cho Công an trong quá trình thực hiện nhập hộ khẩu, cấp chứng minh thƣ nhân dân cho ngƣời dân, quản lý công dân…Ngƣợc lại, hộ khẩu, chứng minh nhân dân là một trong những cơ sở cho việc đăng ký lại các sự kiện hộ tịch. Trong một số trƣờng hợp đƣơng sự có hai thông tin khác nhau thì cơ quan công an không thể tiến hành tra cứu các dữ liệu hộ tịch tƣ pháp.