Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG THỰC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Khái niệm về chứng thực theo quy định của pháp luật hiện hành. Trước khi nghiên cứu về chứng thực chúng ta cần biết chứng thực là gì, thẩm quyền, thủ tục, giá trị pháp lý của giấy tờ văn bản đã được chứng thực. Về mặt ngôn ngữ: Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, Nxb Đà Nẵng năm 1997, chứng thực được định nghĩa “Nhận cho để làm bằng chứng là đúng sự thật”.
“Chứng thực lời khai. Xác nhận là đúng”.“Thực tiễn đã chứng thực điều đó”. Về mặt pháp lý: Chứng thực được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền xác nhận tính chính xác, hợp pháp của các giấy tờ, văn bản, chữ ký của cá nhân, thông tin cá nhân để bảo vệ quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức có liên quan trong quan hệ dân sự, kinh tế, hành chính. Hiện nay pháp luật không nêu cụ thể chứng thực là gì, tuy nhiên thông qua các quy định tại Nghị định 23/2015/NĐ-CP thì chúng ta có thể hiểu chứng thực là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận cho các yêu cầu, giao dịch dân sự của người có yêu cầu chứng thực, qua đó đảm bảo tính chính xác, hợp lệ, hợp pháp của các bên tham gia giao dịch, nội dung giao dịch, gồm chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng giao dịch.
Theo Điều 2 Nghị định 23/2015/NĐ-CP có quy định: Một là:“Chứng thực bản sao từ bản chính” là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định 23/2015/NĐ-CP căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính. 6 luan an Hai là:“Chứng thực chữ ký” là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định 23/2015/NĐ-CP chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người yêu cầu chứng thực. Ba là:“Chứng thực hợp đồng, giao dịch” là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định 23/2015/NĐ-CP chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Bốn là:“Văn bản chứng thực” là loại giấy tờ, văn bản, hợp đồng, giao dịch đã được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực theo quy định của Nghị định 23/2015/NĐ-CP.
*Chứng thực theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng như sau: Chứng thực theo nghĩa hẹp: Chứng thực là một trong những hoạt động mang tính chất hành chính của cơ quan công quyền, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã, thị trấn, Phòng tư pháp huyện) chứng thực sao y bản chính, sao từ sổ gốc, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng giao dịch và chịu trách nhiệm về tính xác thực của văn bản theo quy định của pháp luật. Chứng thực theo nghĩa rộng: Chứng thực là một trong những hoạt động mang tính chất hành chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã, thị trấn, Phòng tư pháp huyện) chứng thực và chịu trách nhiệm về tính xác thực của việc sao y từ bản chính, sao y từ sổ gốc và chứng thực chữ ký trong các giấy tờ liên quan đến bản thân người yêu cầu chứng thực. Như vậy ta có nhận định về chứng thực: Chứng thực là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền như: Ủy ban nhân dân xã, thị trấn, Phòng tư pháp huyện theo quy định tại Nghị định 23/2015/NĐ-CP về chứng thực xác nhận tính chính xác, tính có thực của các giấy tờ, văn bản được chứng thực so với bản chính và sổ gốc; chứng thực chữ 7 luan an ký của cá nhân; chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch, năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Hoạt động chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Trước tiên Ủy ban nhân dân cấp xã là chính quyền địa phương ở cấp xã được quy định theo luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, là cấp chính quyền địa phương gồm: Hội đồng nhân dân xã và UBND xã. Hoạt động chứng thực ở Ủy ban nhân dân cấp xã được coi như một dịch vụ công, mà nhà nước cung ứng còn người dân là “khách hàng” và Nhà nước có nghĩa vụ cung ứng để phục vụ đời sống xã hội. Chứng thực là một công việc do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa trên thẩm quyền, để phục vụ nhu cầu cá nhân, tổ chức trong xã hội nhằm đảm bảo an toàn cho các quan hệ pháp luật mà các cá nhân, tổ chức tham gia. Các cơ quan hành chính nhà nước, cụ thể là Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân cấp xã thực hiện chứng thực nhằm đảm bảo tính xác thực và tính có giá trị pháp lý của các giấy tờ được sao y bản chính, chữ ký của công dân và các sự kiện pháp lý khác được pháp luật quy định.
Chứng thực là một trong những chức năng của Ủy ban nhân dân cấp xã, chứng thực là hoạt động mà Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp dịch vụ hành chính công theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Đặc điểm của chứng thực. Chứng thực của Ủy ban nhân xã là một hoạt động của cơ quan có thẩm quyền được thực hiện bởi phòng giải quyết thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân cấp xã. Do đó, chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã mang đầy đủ các đặc điểm của quy trình chứng thực nói chung, đó là: Trước hết công tác chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã là mang tính hành chính.
Theo đó, khi thực hiện chứng thực, Ủy ban nhân cấp xã phải 8 luan an bắt buộc tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Những hoạt động chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã là hoạt động xác nhận tính hợp lệ của các loại giấy tờ văn bản sẽ được chứng thực. Bản sao được cấp từ sổ đăng ký gốc có giá trị sử dụng thay cho bản gốc trong các giao dịch (Bản sao giấy khai sinh được cấp một lần số lượng hơn 06 bản). Bản sao được chứng thực từ bản gốc có giá trị pháp lý thay cho bản gốc được sử dụng để so sánh tính xác thực trong giao dịch; Chữ ký được chứng thực theo quy định của pháp luật có giá trị để chứng minh rằng người yêu cầu xác thực đã ký chữ ký ví dụ: Chữ ký trong tờ khai lý lịch, trong các hợp đồng giao dịch.
là cơ sở để xác định trách nhiệm của người ký đối với nội dung của giấy tờ và tài liệu; Những loại hợp đồng và giao dịch được chứng thực theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý xác nhận thời gian và địa điểm nơi các bên đã ký kết hợp đồng và giao dịch. Vai trò của hoạt động chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Hiện nay hoạt động chứng thực là cung cấp dịch vụ công của nhà nước nhằm đảm bảo văn bằng, giấy tờ và hợp đồng, giao dịch được thực hiện đúng pháp luật, hoạt động chứng thực của nhà nước là phục vụ tổ chức, cá nhân tham gia vào các quan hệ hành chính nhà nước. Thực tiễn hiện nay đất nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế, nền kinh tế đang phát triển nhu cầu của sử dụng của con người liên quan đến văn bản, giấy tờ có chứng thực một cách hợp lý đã góp phần giảm chi phí đi lại, tiết kiệm được tài chính, công sức của nhân dân.
Chứng thực đã tạo ra công cụ hỗ trợ hiệu quả cho việc kết nối, thực hiện thủ tục hành chính giữa các địa phương (các hợp đồng, giấy ủy quyền) tạo thuận lợi cho người dân có nhu cầu thực hiện giao dịch nhưng do khoảng 9 luan an cách vị trí điạ lý, sức khỏe, thời gian vẫn có thể vẫn thực hiện các giao dịch được thuận lợi nhất và đảm bảo quy định của pháp luật. Chứng thực là một trong các công cụ phục vụ quản lý nhà nước, đồng thời hoạt động chứng thực giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước nắm bắt tình hình giao dịch hợp đồng, giao kết hợp đồng được đảm bảo an toàn pháp lý cũng như để phục vụ cho việc xây dựng và hoạch định chính sách phát triển kinh tế và chính sách pháp luật phù hợp. Chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp dịch vụ mang tính hành chính công của nhà nước, các chủ thể khi thực hiện quyền đã được pháp luật quy định qua việc chứng thực hợp đồng, giao dịch. Hợp đồng, giao dịch được chứng thực có hiệu lực pháp luật được pháp luật bảo hộ và thừa nhận, do đó các hợp đồng, giao dịch được cơ quan hành chính và các tổ chức có thẩm quyền chứng thực theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý thì các bên tham gia giao dịch phải thực hiện quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của mình phát sinh từ hợp đồng, giao dịch đó.
Chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã là giao dịch giữa cơ quan nhà nước và người dân có ảnh hưởng lớn đến đời sống, các quan hệ xã hội như các quyền và nghĩa vụ hợp pháp, chứng thực là chế định pháp lý quan trọng liên quan mật thiết đến quyền lợi ích của tổ chức, cá nhân: Đó là các hoạt động chứng thực bản sao, chữ ký, chứng thực hợp đồng giao dịch, di chúc/giấy ủy quyền. Thông qua các hoạt động chứng thực đảm bảo các quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức trong các quan hệ, giao dịch; đảm bảo được sự công bằng trật tự trong xã hội và đảm bảo an toàn trong hoạt động quản lý nhà nước. Vậy nên những vai trò trên có thể thấy các văn bản, giấy tờ, các hợp đồng giao dịch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng thực làm giảm thời gian đi lại, tiết kiệm chi phí cho xã hội đồng thời là một công cụ hỗ trợ, 10 luan an lá chắn phòng ngừa các vi phạm pháp luật trong các giao dịch, các giao dịch được chứng thực có tính pháp lý, góp phần phòng ngừa rủi ro, hạn chế tranh chấp, bảo vệ các quyền lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng dân sự góp phần không nhỏ trong việc làm thông thoáng và lành mạnh hóa thủ tục hành chính và ổn định cho sự phát triển kinh tế, trật tự xã hội của đất nước.