Chương I: TQCNBKTT – Tác gia và tác phẩm Chƣơng này có nhiệm vụ trình bày một số vấn đề sau: - Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. - Khảo cứu văn bản, áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu văn bản học để chọn bản nền, làm cơ sở cho các nghiên cứu ở các chƣơng sau. Chương II: TQCNBKTT – Đặc trưng về văn tự Chƣơng này đề cập đến những vấn đề sau: - Giới thiệu khái quát về tình hình chữ Nôm trong văn bản. - Phân tích cấu tạo, từ đó đƣa ra mô hình phân loại chữ Nôm trong văn bản.
Qua số liệu thống kê đƣợc tiến hành so sánh các loại cấu trúc. Nhận xét sự vận động, thay đổi của các loại chữ Nôm có trong văn bản. Chương III: Tiếng Việt lịch sử trong TQCNBKTT Chƣơng này chủ yếu tiến hành nghiên cứu khối từ vựng cổ qua văn bản TQCNBKTT (AB.635) và một số vấn đề về cách ghi tiếng Việt trong tập thơ. Kết luận: Tóm lƣợc kết quả nghiên cứu đã làm đƣợc và những vấn đề z còn để ngỏ khi nghiên cứu tác phẩm TQCNBKTT.
Phụ lục: Phần này gồm có ba phần: - Bảng so sánh văn bản AB.635 và văn bản AB.309 - Bảng tra theo thể loại các chữ Nôm trong văn bản - Bản phiên âm TQCNBKTT. z CHƢƠN GI TQCNBKTT – TÁC GIA VÀ TÁC PHẨM 1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm 1.1 Cuộc đời của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), ngƣời làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay là xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng). Sinh trƣởng trong một gia đình vọng tộc (cháu ngoại quan Thƣợng thƣ Nhữ Văn Lan) có học vấn. Song thân ông đều là những ngƣời có văn tài học hạnh nên ngay từ nhỏ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã hấp thu truyền thống gia giáo, kỷ cƣơng.
Thân mẫu của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tƣơng truyền bà là ngƣời giỏi giang văn tài và tinh thông địa lý, tƣớng số. Ngay từ khi Nguyễn Bỉnh Khiêm cất tiếng khóc chào đời, thấy con mình có tƣớng mạo khác thƣờng, bà đã dốc lòng dạy dỗ con trai thành một tài năng giúp nƣớc, cứu đời. Niềm thôi thúc đó khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm tìm đƣợc thầy học có đạo cao đức cả là cụ bảng nhãn Lƣơng Đắc Bằng. Với trí tuệ mẫn tiệp, thông minh từ nhỏ, lại gặp thầy giỏi nên Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm trở thành ngƣời có tài năng xuất chúng.
Và sau này, tài học vấn uyên thâm của ông đã vƣợt xa thầy. z Cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm hoàn toàn gắn liền với giai đoạn đất nƣớc loạn lạc. Nhà Lê lụn bại, chính sự rối ren, các phe phái nổi lên nhƣ ong vỡ tổ. Và điều tất yếu đã phải xảy đến, nhà Lê mất ngôi về tay một vị quyền thần: Mạc Đăng Dung.
Trong thời gian đầu, nhà Mạc đƣa đất nƣớc trở về thế ổn định với những thành tựu đáng kể về văn hóa, nghệ thuật… Thời thế đấy đã thúc đẩy Nguyễn Bỉnh Khiêm thi đỗ khoa thi thứ ba nhà Mạc khi đã 45 tuổi. Ông bƣớc vào con đƣờng công danh khá muộn, lý giải cho điều này Phan Huy Chú đã đƣa ra luận điểm “Khi họ Mạc lấy đƣợc nƣớc rồi, bốn phƣơng tạm yên, các thân thích bạn bè đều khuyên ông ta ra làm quan”. Sau khi đỗ đầu ba lần thi thi Hƣơng, Thi Hội và thi Đình, Nguyễn Bỉnh Khiêm ra làm quan tân triều và nhanh chóng đƣợc phong chức Tả thị lang (chức đứng hàng thứ ba trong bộ Hình). Tuy nhiên, sau bảy năm dốc sức phò tá cho nhà Mạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cáo quan về nhà sau khi dâng sớ xin chém 18 lộng thần không đƣợc chấp thuận.
Lúc ấy, Mạc Phúc Hải đã gia phong ông là Trình Tuyền hầu. Ông về quán Trung Tân, mở am Bạch Vân, lấy hiệu Bạch Vân cƣ sĩ và mở trƣờng dạy học. Trong giai đoạn tiếp theo, nhà Mạc bắt đầu cuộc chiến tranh quyết liệt với tập đoàn Lê – Trịnh, năm 1554, Nguyễn Bỉnh Khiêm chấp thuận dẫn quân Mạc đi đánh anh em Vũ Văn Mật ở Tuyên Quang. Với mong ƣớc đƣợc chung vai gánh vác gánh nặng sơn hà nhƣng ý chí nguyện vọng của ông sớm bị những mục nát của triều chính làm đổ vỡ, khoảng năm 1563-1564 Nguyễn Bỉnh Khiêm chính thức từ quan.
Ngày 17 tháng 11 năm 1585 (âm lịch) Nguyễn Bỉnh Khiêm qua đời, thọ 95 tuổi. Vua Mạc lúc bấy giờ sai Mạc Kính Điển làm Khâm sai, cùn các con về tế, truy phong ông Thƣợng thƣ bộ Lại, Thái phó Trình quốc công và đề trƣớc cửa đền: “Mạc triều z Trạng nguyên Tể tƣớng từ”. Cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy gắn liền với giai đoạn xoay chuyển vận mệnh dân tộc với nhiều thay đổi khốc liệt trong lịch sử, nhƣng điều đáng trân trọng hơn cả là dù ra làm quan hay quyết tâm ở ẩn, thì tấm lòng của ông vẫn luôn hƣớng về nhân dân, đất nƣớc.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế những tác phẩm văn thơ có giá trị nhƣ: Bạch Vân thi tập (gồm hàng trăm bài thơ chữ Hán) và Bạch Vân am thi tập hay còn gọi là Bạch Vân quốc ngữ thi (hiện còn tồn tại trong ba tập thơ Nôm Trình quốc công Bạch Vân am thi tập gồm 100 bài thơ Nôm mang kí hiệu AB.309; Bạch Vân thi tập cũng chép đủ 100 bài mang kí hiệu AB.157 và Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập, kí hiệu AB. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm giàu chất liệu hiện thực, mang tính triết lý sâu xa của thời cuộc.
Ông phê phán gay gắt bọn tham quan ô lại hút máu dân. Thơ ông còn truyền đạt cho đời một đạo lý đối nhân xử thế, đạo vua tôi, cha con và quan hệ bầu bạn, hàng xóm láng giềng. Đọc thơ ông là thấy cả một tấm lòng lo cho nƣớc, thƣơng đời, thƣơng dân, và một tâm hồn suốt đời da diết với đạo lý: "Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc" (lo trƣớc cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ). Vì thế khi về ở ẩn, ông vẫn mở trƣờng dạy học, mong đào tạo cho đời những tài năng "kinh bang tế thế".2 Văn bản Bạch Vân am thi tập 1.1 Tình hình văn bản Văn bản với ý nghĩa nguyên thủy là nơi liên kết ngôn từ theo những z quy tắc thể thức nhất định để tạo ra một sự ổn định tƣơng đối về hình thức nhằm biểu đạt một nội dung nhất định của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Điều đó có nghĩa văn bản là nơi lƣu trữ ngôn ngữ viết, nó gắn bó khăng khít với sự ra đời và hoạt động của ngôn ngữ. Các văn bản Hán Nôm cũng ra đời với vai trò và chức năng đó. Đây là một bộ phận rất quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa thành văn của dân tộc ta. Song, do điều kiện lịch sử, khí hậu, thậm chí là về vấn đề tƣ tƣởng đã làm cho phần lớn các văn bản Hán Nôm bị mất mát, gây ra nhiều khó khăn cho giới nghiên cứu.
Các văn bản Hán Nôm hiện lƣu giữ đƣợc, trừ các tác phẩm đƣợc khắc in, đa phần đều là các bản sao lƣu, các bản gốc do chính tác giả biên soạn còn lại hiếm hoi. Việc sao lƣu y nguyên bản gốc là một nguyên tắc bất di bất dịch của công tác văn bản, nhƣng với rất nhiều lí do khiến nguyên tắc này luôn bị vi phạm, dẫn đến tình trạng “tam sao thất bản” luôn xảy ra. Trƣớc hiện tƣợng đó, độc giả khó có thể nhận ra sự thêm bớt của các thế hệ ngƣời sao chép vào nguyên tác. Chính vì vậy, các thao tác văn bản học luôn đƣợc ƣu tiên trong nghiên cứu Hán Nôm, để có thể tìm ta những văn bản gần với nguyên gốc nhất.
Đối với một tác phẩm không còn bản gốc (tức là bản có bút tích của tác giả, bản in lần đầu tiên, bản in cuối cùng khi tác giả còn sống) nhƣ TQCNBKTT, các nhà nghiên cứu vẫn thƣờng tiến hành theo các phƣơng pháp: tập hợp dị bản, xử lí bƣớc đầu qua các công tác văn bản học (đặc biệt là khâu nghiên cứu lịch sử văn bản) để tiến hành đối chiếu so sánh, chọn lấy một bản mang tính ƣu việt nhất, gần với nguyên tác nhất. Xử lí các văn bản thơ chữ Nôm hiện đang là một trong những khâu cần thiết để đem lại cái nhìn đánh giá đúng đắn và toàn diện cho tài thơ của z Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử thơ ca tiếng Việt, bởi nếu không hoàn thiện khâu này thì mọi kết luận về nghệ thuật ngôn từ trong thơ ca Nguyễn Bỉnh Khiêm đều sẽ là cái nhìn võ đoán, một chiều. Cho đến nay, Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm đƣợc ghi chép tập trung trong ba văn bản mang tên Bạch Vân thi tập, Trình quốc công Bạch Vân thi tập, và Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập. Kết quả khảo sát ba văn bản này sẽ cho chúng ta một kết luận thỏa đáng.
- Trình quốc công Bạch Vân thi tập, kí hiệu AB. Văn bản chép tay trên giấy lệnh đã sờn cũ, khổ 22 x 13cm, chƣa bị rách nát, gồm 97 trang, chép tay 100 bài thơ Nôm, đƣợc ghi thứ tự rõ ràng. Mỗi trang có khoảng 5 dòng, viết từ trái sang phải, từ trên xuống dƣới; mỗi dòng có 13 chữ, dòng nhiều nhất là 14 chữ, dòng ít nhất có 2 chữ. Chữ viết trong văn bản là dạng bán thảo, rõ ràng nhƣng hơi nhòe, có chỗ còn nát mất chữ; khoảng cách giữa các chữ là 0,5 cm, chữ cỡ 1 x 1 cm.
Trang đầu và trang cuối xuất hiện con dấu của Viện Viễn Đông Bác Cổ. Kết thúc phần nội dung, sách không ghi phụng sao theo bản nào, nhƣng tiếp theo đó có hai dòng chữ bị nát “La Tiên thập vịnh” và “Kì nhất […]”. Chi tiết này có thể là cơ sở cho giả thiết: bản Trình quốc công Bạch Vân thi tập từng đƣợc chép cùng với tập thơ của ngƣời khác, nhƣng sau khi đƣợc Viện Viễn Đông Bác Cổ sƣu tầm về, đã đƣợc bóc tách thành một văn bản riêng biệt. Trang đầu tiên ghi tiêu đề “Mạc hiệu Đại Chính lục niên, Ất Mùi khoa tiến sĩ cập đệ nhất giáp nhất danh, Trình quốc công tuyển Bạch Vân thi tập cộng nhất bách thủ (nội dụng quốc âm hữu trường đoản cách)” (Tập thơ Bạch Vân [dùng thể trƣờng đoản quốc âm] tổng cộng gồm một trăm bài z thơ do đệ nhất giáp tiến sĩ khoa thi Ất Mùi, năm Đại Chính thứ 6 triều Mạc là Trình quốc công tuyển chọn).
- Bạch Vân thi tập, kí hiệu AB.157 có chữ viết chân phƣơng, dễ đọc, chép 100 bài thơ Nôm.