Chương 1: Cơ sở lí thuyết và những vấn đề hữu quan Trong chương này, chúng tôi trình bày tông quan các cơ sở lí thuyết, những vấn để lí luận cơ bản về lí thuyết hội thoại, ngôn ngữ kịch Lưu Quang Vũ và vài nét về cuộc đời ~ sự nghiệp của Lưu Quang Vũ. Chúng tôi chủ yếu tập trung làm rõ những lí thuyết hội thoại có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng chiến lược hội thoại trong. Chương 2: Chiến lược hội thoại vận dụng nguyên tắc lượt lời trong kịch Lưu Quang Vũ Trong chương này, chúng tôi tập trung phân tích các chiến lược hội thoại vận dụng nguyên tắc lượt lời và hiệu quả khi vận dụng những chiến lược này trong kịch Lưu Quang Vũ. Chương 3: Chiến lược hội thoại vận dụng nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự trong kịch Lưu Quang Vũ Trong chương này, chúng tôi tập trung phân tích các chiến lược hội thoại có vận dụng nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự; nhận xét hiệu quả khi vận dụng, những chiến lược này trong kịch Lưu Quang Vũ.
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VA NHUNG VAN ĐÈ HỮU QUAN thoại và ngôn ngữ thoại trong kịch bản sân khấu thoại “Trong cuộc sống, hội thoại là hoạt động căn bản và phô biến nhất đề con người trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm. Thuật ngữ "hội thoại” tương ứng với thuật ngữ “conversation” trong tiếng Anh và có nhiều nét nghĩa giống với “đối thoại” (dialogue), đều được dùng đề chỉ hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ nói giữa hai hay nhiều người với nhau. Trong Từ điển riếng Việt, “hội thoại” được hiểu là việc “sử dụng một ngôn ngit dé nói chuyện với nhau ” (Hoàng Phê, 2005, tr.596), Nguyễn Đức Dân (1998) trong Ngit dung hoc dinh nghĩa về hội thoại như sau: “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia nghe và phản hôi trở lại. Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe.
Đó là hội thoại, Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất là hội thoại. " (Nguyễn Đức Dân, 1998, tr. Đỗ Thị Kim Liên (1999) trong Ngữ nghĩa lời hội thoại lại cho rằng: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiễu nhân vật trực tiếp trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định. ” (Đỗ Thị Kim Liên, 1999, tr.18) Nguyễn Thiện Giáp (2000) trong Dụng học Việt ngữ quan niệm rằng: “Hội thoại là hành động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người.
Đó là giao tiếp hai chiều, có sự tương tác qua lại giữa người nói và người nghe với sự luân phiên lượt lời ” (Nguyễn Thiện Giáp, 2000, tr. Trong Từ điển khái niệm ngôn ngữ học, ông lại một lần nữa khẳng định: Hội thoại (conversation) là phương tiện phô biến và cơ bản nhất để dẫn dắt công việc của con người. Giao tiếp hội thoại là hoạt động cơ bản của ngôn ngữ. Trong giao tiếp hội thoại luôn luôn có sự hồi đáp giữa người nói và người nghe, chẳng.
12 những người nói và người nghe tác động lẫn nhau mà lời nói của từng người cũng tác động lẫn nhau (Nguyễn Thiện Giáp, 2016, tr. Nguyễn Như Ý (2002) trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học cho rằng hội thoại là “hoạr động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra” (Nguyễn Như Ý, 2002, tr. Đỗ Hữu Châu (2001) trong Đại cương ngôn ngữ học (Tập 2) - Ngữ dụng học đã khang định: “Hội (hoại là hình thức giao tiếp thường xuyên phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. (Đỗ Hữu Châu, 2001, tr.
Ngoài ra, ông cũng nhấn mạnh về các dạng cơ bản của hội thoại: “Có những cuộc hội thoại tay đôi, tay ba (tilogue), tay tr hoặc nhiều hơn nữa (đa thoại polylogue). ” (Đỗ Hữu Châu, 2001, tr. Như vậy, các quan niệm của các tác giả vừa nêu trên đều thống nhát rằng: Hội thoại là hoạt động giao tiếp thường xuyên, phổ biến và cơ bản nhất của con người. Con người có nhu cầu trao đôi thông tin, tư tưởng, tình cảm của mình nhằm đạt được những mục đích nhất định khi tham gia hoạt động giao tiếp, trong đó ngôn ngữ là yếu.
tố tiên quyết đánh giá hiệu quả giao tiếp hội thoại. Hội thoại tồn tại dưới nhiều dạng, nhiều hình thức, nhưng trong luận văn này, chúng tôi giới hạn phân tích các dạng đối thoại trong kịch Lưu Quang Vũ. Hành động ngôn từ s# Khái lệm hành động ngôn từ Hành động ngôn từ (HĐNT) còn được gọi là hành vi ngôn ngữ, hành động ngôn ngữ, hành động nói. Khái niệm hành động ngôn từ (speech act) do nhà nghiên cứu người Anh là J.
Austin (1962) khởi xướng, đặt nền tảng với công trinh How to Do Things with Words. Vé sau, li thayét HĐNT của ông được nhiều nhà nghiên cứu chú ý và phát triển, trong đó tiêu biểu nhất là J. Theo ông, ngôn ngữ không chỉ có chức năng thông tin (được dùng để thông báo hay để miêu tả) mà còn có chức năng khác, cụ thể là được dùng để thể hiện các hành động. Austin (1962) đã chú ý đến những chức năng ngôn ngữ được thực hiện bằng các phát ngôn.
Nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nhiều phát ngôn không truyền đạt thông tin, mà phát ngôn đó lại tương đương với hành động, tức là khi phát ngôn thì hành động đó đã được thực hiện. Khi ai đó nói: “Tôi chúc.”, *Tôi tuyên bố.” thì hành động chúc, hứa, tuyên bố đã được thực hiện ngay lúc đó. Từ những nhận định này, J. Khi thực hiện một phát ngôn, chúng ta cùng lúc thực hiện ba HĐNT này.
Những HĐNT này có nhiều tên gọi khác nhau khi được dịch sang tiếng Việt. Trong Tiếng Việt ~ Sơ thảo ngữ pháp chức năng và Giáo trình Dẫn luận Ngôn ngữ học, Cao Xuân Hạo (1991), Hoàng Dũng và Bùi Mạnh Hùng (2007) đã sử dụng thuật ngữ: hành động tạo ngôn, hành động ngôn trung và hành động xuyên ngôn. Trong Dụng học Việt ngữ và Giáo trình Ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp (2000, 2008) đã gọi là hành động tại lời, hành động ngoài lời và hành động sau lời. Đền Từ điền khái niệm ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp (2016) lại sử dụng thuật ngữ hành động tao ngôn, hành động ngôn trung và hành động ngôn tác.
Trong Ngữ dụng học (Tập 1), Nguyễn Đức Dân (1998) đã sử dụng thuật ngữ hành vi tạo lời, hành vỉ rại lời và hành vi mượn lời. “Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất lựa chọn cách gọi tên những thuật ngữ sau theo Cao Xuân Hạo (1991), Hoàng Dũng và Bùi Mạnh Hùng (2007): HĐNT gồm hành động tạo ngôn, hành động ngôn trung và hành động xuyên ngôn. Hành động tạo ngôn là hành động cơ sở của một phát ngôn. Hành động này sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, quy tắc kết hop tir,.
phát ngôn có ý nghĩa trong một ngôn ngữ xác định. Nhờ có hành động tạo ngôn mà người tham gia giao tiếp mới tạo ra được những phát ngôn (đúng về hình thức, cấu trúc) đề giao tiếp, trao đôi thông tin. Hành động ngôn trung là hành động người nói thực hiện ngay khi phát ngôn. Hành động này tạo ra những tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ.
Gọi là hành động, ngôn trung là do hành động này nằm ngay trong hành động tạo ngôn, tức là khi tạo 14 ra lời chúc, lời hứ lời tuyên bó,. thì lời chúc, lời hứa, lời tuyên bố,. đó củng lúc được thực hiện. Hành động ngôn trung được thực hiện nhờ vào hiệu lực giao tiếp của phát ngôn.
Hành động xuyên ngôn là hành động mượn các phát ngôn để gây được hiệu quả, sự tác động ngoài ngôn ngữ đối với người nghe. Hiệu quả của hành động này tác động đến người nghe chỉ riêng cho hoàn cảnh phát ngôn, không theo một quy ước nào cả. Tùy vào hoàn cảnh phát ngôn, đối với mỗi người nghe khác nhau thì hiệu quả và tác động mà hành động ngôn trung mang lại sẽ khác nhau. + Phân loại hành động ngôn từ J.
Austin (1962) trong chutong XII cia How to Do Things with Words da phan loại HĐNT thành 5 lớp dựa theo các động từ trong tiếng Anh - Phan xit (verditives) là những đánh giá về một sự vật, hiện tượng, giá trị dựa trên những điều hiển nhiên hoặc những bằng chứng xác thực, như: zuyên bố, bác bó, vớc lượng, đánh giá, định giá, phân loại, ~ Hành xử (exercitivies) bao gồm những hình thức thể hiện quyền lực, đưa ra quyết định cho một chuỗi hành động nào đó, như: chỉ định, ra lệnh, chỉ huy, giới thiệu, miễn trừ, kết án, ~ Cam kết (commissives) bao gồm hành động ràng buộc người nói với những. trách nhiệm và nghĩa vụ nhất định, như: hứa hẹn, giao kèo, thỏa thuận, cá cược, bảo đảm, kí kết, ~ Ứng xử (behabitives) bao gồm những hành động phản ứng lại với những ứng xử của người khác và thể hiện thái độ đối với những hành động, sự kiện hay số phận của người khác, như: xin lỗi, cảm ơn, khen ngợi. ngờ vực, thách thức, chúc mừng, ~ Trình bày (expositives) bao gồm những hành động trình bày một quan điểm, dẫn dắt các lập luận, giải thích từ ngữ, nhu: khang định, phú định, trả lời, giải thích, minh hoa, vi du, Theo ông tự nhận xét, sự phân loại này vẫn còn nhiều điều chưa thỏa đáng, chưa. xác định được sự khác biệt giữa những động từ cụ thể nên vẫn còn đôi chỗ phân loại chồng chéo.
15 Trong công trình nghiên cứu Speech Acts: An Essay in the Philosophy of Language cita J. Searle (1969), HĐNT được phân loại thành 5 lớp sau đây dựa trên các tiêu chí: đích ở lời, hướng khớp ghép, trạng thái tâm lí, nội dung mệnh đề.