CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIEN QUAN DEN DE TÀI 1. CAC KHAI NIEM LIEN QUAN Các khái niệm mang tính định hướng cho luận van bao gồm các khái niệm có liên quan mật thiết đến việc nghiên cứu hành động nho trong tiếng Việt như hành động ngôn từ, hành động cầu khiến tiếng Việt nói chung. Ngoài ra, một phát ngôn trong giao tiếp của người Việt tương ứng với một lời nên luận văn cũng làm rõ khái niệm lời dé dé dàng khảo cứu hành động nho, lời nhờ tiếng Việt. Đồng thời, khái niệm về tình thái của phát ngôn cũng được đưa ra ở đây nham làm rõ nghĩa tình thái có tác động cụ thé đến người nghe nhằm đạt được mục đích giao tiếp.
Ở hành động nho, nghĩa tình thai sẽ nhằm mục đích hối thúc hay nai ni dé tiếp ngôn thục hiện hành động. Khái niệm Joi Như trên đã trình bày, lời nho là phát ngôn nhằm thực hiện hành động nhở trong tiếng Việt nên khái niệm lời là một trong những khái niệm cần chỉ ra dé tìm hiểu lời „hở trong các phan tiếp theo của nghiên cứu. Trước tiên, chúng ta cần phân biệt thuật ngữ /oi và thuật ngữ cau. Câu, theo cách hiểu của ngữ pháp học là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung xung quanh một vị tố, và được dùng dé diễn đạt một sự thé.
Còn lời, có thể hiểu một cách ngắn gọn nhất như sau “Lời là hiện dạng của câu trong một ngôn cảnh giao tiếp”[10] 11 Như vậy, ngữ pháp của câu thì nghiên cứu các phạm trù ngữ pháp, các kiểu quan hệ cú pháp của câu. Ngữ nghĩa của câu thì nghiên cứu nghĩa biểu hiện của câu dé phản ánh sự tình tức là nghiên cứu nội dung câu, nghiên cứu các thành phan cau tạo nên câu. Ngữ pháp ngữ nghĩa của câu xây dựng quy tắc và sử dụng ý nghĩa của hệ thống các phương tiện ngôn ngữ chủ yếu qua môi quan hệ giữa ngôn ngữ va tư duy. Ngữ pháp ngữ nghĩa của lời có đối tượng nghiên cứu là lời, sản phẩm cụ thé của câu nên việc nghiên cứu không chỉ bao chứa mỗi quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy mà còn bao chức sự tác động của các nhân tổ như mục đích nói, hoàn cảnh nói, tâm lý văn hóa dân tộc, vị thế giao tiếp hay tri thức và tuyến tính hóa thành các biểu thức mang tính quy tắc dé mọi người nhận diện va sử dụng đạt hiệu quả giao tiếp cao.
Như vậy, các van đề liên quan đến ngữ pháp ngữ nghĩa của lời ø»ở có quan hệ trực tiếp đến người nói và người nghe trong bối cảnh cụ thé nhằm đạt được mục đích giao tiếp. Tình thái Tình thái là một khái niệm có liên quan đến hành động nhở trong tiếng Việt. Một phát ngôn ngoài biểu hiện nghĩa sự tình hay còn gọi là nội dung thì còn biểu hiện thái độ, ý kiến của người nói gọi là nghĩa tình thái. Tình thái chủ quan của ngôn ngữ được phân ra làm hai loại là tình thái nhận thức và tình thai trách nhiệm [10].
Tinh thái nhận thức biểu hiện nhận thức, sự đánh giá của chủ ngôn đối với sự tình được nêu trong lời, đó có thé là sự phỏng đoán, khả năng, xác nhận về một sự việc nào đó. Vi dụ: Chiêu nay có lẽ trời mưa to. Tình thái trách nhiệm là loại tình thái liên quan đến ý nguyện, mong muốn của người nói thể hiện qua phát ngôn nhằm đạt đến một hiệu quả giao tiếp nhất định. Tình thái trách nhiệm luôn gắn liền với lời, liên quan đến hành 12 động ngôn từ và chỉ được bộc lộ trong những ngữ cảnh nhất định.
Nghĩa tình thái liên quan đến hành động ø0ở là tình thái trách nhiệm. Lời øhở có cùng nội dung có thé có nhiều nghĩa tình thái khác nhau, phủ hợp với trạng thái của chủ ngôn hoặc tiếp ngôn trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thé. Vi dụ: - Đóng hộ tao cai cửa ngay di. => Tình thai lời nhờ mang tính thúc giục - Anh ơi, đóng giúp em cải cửa voi.=> Tinh thải lời nhờ mang tính nai nỉ 1.
Hành động ngôn từ 1. Sơ lược về hành động ngôn từ Hành động ngôn từ - Speech acts là khái niệm gắn liền với triết gia người Anh J.L Austin thông qua cuốn sách nổi tiếng “How to do thing with words”. Austin quan niệm một cách đơn giản là để diễn tả một hành động ngôn từ thì cần phải nói ra điều đó và làm, nghĩa là khi ta nói xong có nghĩa là ta đã thực hiện xong hành động đó [26]. Chang hạn các hành động như đề nghị, thông báo, nho, khuyên, xin.
chính là những hành động được thực hiện bang ngôn từ và được gọi là hành động ngôn từ. Theo lý thuyết này, Austin coi hành động ngôn từ là một thể thống nhất của ba hành động liên quan đến nhau đó là hành động tạo ngôn, hành động ngôn trung và hành động dụng ngôn. - Hành động tạo ngôn (locutionary act) là hành động nói nhằm tạo ra một chuỗi các âm thanh có nghĩa làm thành nội dung mệnh đề trong lời, từ đó nghĩa của lời được xác lập. Đây còn được gọi là hành động tạo lời, Austin gọi là “nói một điều gì đó”.
- Hanh động ngôn trung (illocationary act) là hành động nói được thực hiện bằng một lực thông báo của một phát ngôn (lực ngôn trung) như: trần thuật, hỏi, cầu khiến, làm nên ý nghĩa ngôn trung. Hành động này còn gọi là 13 hành động tại lời, hiểu đơn giản là nói một điều gì đó và thực hiện hành động của lời nói đó ngay khi phát ngôn được phát ra: Ví dụ: Lấy giúp chị cái bút. Hành động tại lời ở trên là lời øở người khác mang giúp cho chủ thé nói cái bút. Hành động tại lời hay hành động động ngôn trung chính là lực ngôn trung, đích ngôn trung.
Cùng một đích ngôn trung lại có thể thực hiện bằng những lời có lực ngôn trung ở các cấp độ khác nhau. Xét lại ví dụ trên và một ví dụ khác: Vị dụ: (1) Lấy cho chị cai but. (2) Có lấy cái bút cho chị nhanh lên không thì bảo. Ở lời (1) đích ngôn trung được thực hiện bằng lực ngôn trung nhẹ, mang tính cầu, khuyến khích người nghe thực hiện hành động, không quá bắt buộc.
Nhưng ở lời (2) đích ngôn trung được thực hiện bằng một lực ngôn trung mạnh, mang tính khiến, áp đặt đe dọa người nghe phải thực hiện hành động. - Hành động dụng ngôn (perlocutionary act) là sự tác động vào tâm lý, hành vi người nghe một hiệu quả giao tiếp nhất định như: xúc động, yên tâm, bực minh,phan khởi. Hanh động dụng ngôn còn gọi là hành động mượn lời. Trên thực tế, một người có thé hiểu ngay được một hành động ngôn trung nhưng chưa chắc đã nhận ra ngay một hành động dụng ngôn.
Gây hiệu quả dụng ngôn có thé nằm ở hành động ngôn từ, cũng có thé nằm ở những cử chỉ phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ. Khi đó cử chỉ điệu bộ không nằm trong hành động ngôn từ. Một hành động ngôn trung có thể có nhiều hành động dụng ngôn khác nhau. Ví dụ: Một hành động ngôn trung là người nói muốn øở người nghe mang cho mình cốc nước thì hành động mượn lời có thé là các trường hop sau: 14 a/ Khát quá nhỉ! (Có thé kèm điệu bộ lè lưỡi) b/ Nhà có nước không anh? c/ Cho em cốc nước! Như vậy, theo tác giả Đào Thanh Lan trong [10], hành động tạo ngôn làm nên nghĩa sự tình của lời thì các hành động ngôn trung làm nên ý nghĩa tình thái của lời nói giúp cho sự phân biệt các lời nói với nhau.
Về mặt tổng quan, ý nghĩa của lời nói giống ý nghĩa của câu ở chỗ: nó cũng bao gồm hai nét nghĩa là nghĩa nội dung mệnh đề (nghĩa sự tình) và ý nghĩa tình thái. Trong trường hop này, có thé dung ký hiệu S (sentense) chung cho cả ý nghĩa của lời nói. Sơ đồ ý nghĩa của loi: S=M+P - S: Lời - M: Nghia tình thái thể hiện thái độ mục đích giao tiếp. - P: Nghĩa sự tình, nghĩa nội dung 1.
Phân loại hành động ngôn từ a. Phan loại theo J.R Searle Tổng hợp theo [10], Searle nêu ra tới 12 phương diện ma theo đó các hành động ngôn trung có thể khác nhau trong đó ông chọn ra 3 yếu tố cơ bản nhất để phân loại các hành động ngôn trung là: (1) Đích ngôn trung (2) Hướng khớp lời (mối quan hệ giữa ngôn từ và thực tại khách quan) (3) Trạng thái tâm lý được biểu hiện Theo các tiêu chí đó, Searle phân hành động ngôn từ ra thành 05 loại: (1) Biểu hiện: + Dich: phản ánh hiện thực. 15 + Hướng: từ hiện thực đến lời nói. + Trạng thái tâm lí: tin vào nội dung sự tình.
(2) Chi phối + Đích: yêu cầu người nghe thực hiện một hành động. + Hướng: từ lời nói đến thực tiễn. + Trạng thái tâm lý: mong muốn. (3) Cam kết + Đích: gán trách nhiệm vào người nói thực hiện một hành động.
+ Hướng: từ lời nói đến hiện thực. + Trạng thái tâm lý: dự định. (4) Biểu cảm + Dich: biểu thị tình cảm. + Hướng: zêrô + Trạng thái tâm lý: giỗng đích.
(5) Tuyên bố + Dich: gây ra sự thay đôi hiện thực. + Hướng: từ lời nói đến hiện thực. + Trạng thái tâm lý: không rõ, có các yêu tố thể chế làm nên giá trị lời. Theo phân loại của J.Searle thì hành động cầu khiến thuộc loại chỉ phối (loại 2).
Từ loại 2 có thé phân ra làm hai tiểu loại. (2a) Hành động hỏi: hỏi về điều chưa rõ với mong muốn được trả lời, giải đáp rõ dé hiéu, dé nhìn nhận. (2b) Hành động cầu khiến: cầu khiến người nghe thực hiện hành động mình nêu ra hoặc cầu khiến người nghe cho phép mình thực hiện hành động. Hướng khớp lời của J.Searle là một tiêu chí rất quan trọng nó làm nên ngữ cảnh của lời cầu khiến khác han với lời tran thuật và lời cảm than.
Lời cầu khiến và lời hỏi được xây dựng theo hướng từ lời nói đến hiện thực, nghĩa là 16 hành động ngôn từ có trước, hành động thực tế có sau, còn lời trần thuật và cảm than được xây dung theo hướng ngược lại nghĩa là từ hiện thực đến ngôn từ (thực tế có trước, hành động ngôn từ có sau).