Chương 1 VỀ VĂN BẢN NHỮNG TÁC PHẨM MANG TÊN NGUYỄN KHẮC TRẠCH HIỆN CÒN 1. Tình trạng văn bản. Sách Di sản Hán Nôm Việt Nam-Thư mục đề yếu (DSHNVN-TMĐY) cho biết văn bản những tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm còn có 9 bản. Tên gọi các tác phẩm phần lớn có hai từ chung đứng đầu là “Nhuế Xuyên”, cũng có bản viết là “Nhuế Giang” hay “Thuấn Nhuế”.
Theo nội dung bài thơ “Tân định danh hiệu trình Vĩnh Lăng nhị thú đài” trong tác phẩm Nhuế Xuyên tùy bút thi tập, thì “Nhuế Xuyên” là tên hiệu của Nguyễn Khắc Trạch tự đặt cho mình. Vậy có thể tên gọi các tác phẩm như thế là do tác giả tự ghi, cũng có thể do người sưu tầm sao chép số thơ này tự ý ghi vào. Tên cụ thể của các văn bản là: (1) Nhuế Xuyên thi tập.444 (2) Nhuế Xuyên thi tập.213 (3) Nhuế Xuyên tùy bút thi tập. (4) Nhuế Xuyên bạch bút thi tập.
(5) Nhuế Xuyên văn tập.2169 (6) Nhuế Xuyên thặng bút văn tập.214 (7) Nhuế Xuyên trướng tập.215 (8) Thuấn Nhuế thi văn tập.2538 (9) Thọ tịch châu cơ.608 (10) Ngoài ra, thơ, phú của Nguyễn Khắc Trạch còn có chép trong nhiều tác phẩm của người khác. Như thơ của Nguyễn Khắc Trạch có chép trong Minh đô thi tuyển.2171; Vi giang hiệu tần tập. Phú có chép trong Tam đăng Hoàng Giáp trường phú. Ở đây chúng tôi chủ yếu chỉ đi vào mô tả tình trạng văn bản và đi sâu tìm hiểu các văn bản độc lập của Nguyễn Khắc Trạch, còn thơ văn trướng phú của ông chép ở tác phẩm của người khác thì chỉ tìm hiểu về phần của Nguyễn Khắc Trạch ở trong đó mà thôi.
Sau đây là tình trạng của từng loại văn bản. Tình trạng các văn bản thơ. Bản Nhuế Xuyên tùy bút thi tập. Khổ 15 x 26 cm, viết tay trên giấy dó mỏng đã ố vàng.
Bìa có hai tờ: tờ bìa chính ở ngoài làm bằng giấy các-tông, được quét sơn đen; tờ bìa phụ ở trong bằng giấy dó, quét sơn màu vàng đất. Trên tờ bìa phụ thứ hai có tem của “Thư viện khoa học Trung ương”. Sau hai tờ bìa chính và phụ, đến tờ ghi tên tác phẩm. Tên tác phẩm viết dọc bằng bút lông mực tàu đen, cỡ chữ lớn hơn phần chính văn.
Sau tờ này, còn có hai tờ giấy để trống, rồi mới đến phần chính văn. Mặt a tờ thứ nhất (trong hai tờ giấy để trống) có dòng chữ Hán “Sơn Tây Yên Sơn Thuấn Nhuế nhân, Tự Đức tứ thập niên Tân Dậu khoa Cử nhân, quan sử quán biên tu”. Dòng chữ này viết bằng bút mực xanh của thời nay, nên đây là chữ của người thời nay mới viết vào. Tiếp đến là phần chính văn.
Dòng đầu tiên của phần chính văn “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi nhất”. Sau dòng này, có một đoạn đề bạt (khoảng ba dòng), tiếp đến thơ. Phần gáy ở hai đầu quét sơn đỏ, để trống một khoảng để viết tên tác phẩm “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập”. Bản này không thấy đánh số trang.
Phần chính văn tổng cộng 189 trang, mỗi trang văn bản được chép 8 dòng, mỗi dòng có khoảng 23 đến 24 chữ. Cả bản đều chép thơ, tổng cộng 422 bài. Tên các bài thơ đều viết án xuống nên rất dễ nhận ra. Thơ vừa có tứ tuyệt vừa có thất ngôn bát cú, cũng có lẫn vài bài ngũ ngôn và thất ngôn trường thiên.
Riêng trong “Nhuế Xuyên tùy bút quyển chi nhất” đều làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt; còn các quyển sau thì chủ yếu là thơ thất ngôn bát cú. Trong thơ có rất nhiều phụ chú và cước chú, gần như bài nào cũng có. Cước chú và phụ chú, cỡ chữ nhỏ hơn chính văn. Dấu tích đọc duyệt văn bản được thể hiện qua màu mực đỏ gạch, viết bằng bút lông, dùng trong các trường hợp như ngắt câu, bổ sung chữ thiếu, xóa chữ viết sai, đồng thời viết chữ đúng theo cách nhìn của người đọc duyệt văn bản.
Nét bút duyệt này ở q1và q4 chỉ dùng để ngắt câu, không thấy có sửa chữa hay thêm bớt gì. Ở q2 và q3 việc thêm chữ, thêm câu chú, gạch bỏ sửa lại xuất hiện tương đối nhiều. Tính ra có đến khoảng 45 chỗ. Có những chỗ thêm cả câu chú vào văn bản, như ở trên cùng d8 t77 thêm vào mấy chữ “Lê thần dĩ hạ”; bên phải d6 t80 thêm vào mấy chữ “Thiên cổ trung nhất can bút họa xuất”; bên phải d6 t104 thêm vào mấy chữ “Thiếu bảo Bùi Tuấn dã” vv.
Ngoài ra, dấu bút duyệt 7 còn đánh dấu các danh từ riêng, địa danh, nhân danh, niên hiệu và khuyên tròn bên cạnh một số câu chữ nào đó. Về chữ húy, chữ “thời” trong toàn văn bản đều nhất quán viết kiêng húy thành chữ “thìn” ví dụ ở d5 t20, d8 t167, d5 t167, d7 t171, d1 t174 …. Văn bản không có mục lục, nhưng xem hết lượt thấy cả bản chia làm bốn quyển cộng với một phần cuối chia tác phẩm theo thời gian sáng tác. Thứ tự các quyển và phần phụ thêm cụ thể như sau: - “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi nhất” từ t1 đến d7 t41.
- “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi tứ” từ d8 t41 đến hết t76. - “Nhuế Xuyên thi tập quyển chi nhị” từ t77 đến d1 t147, cộng với một phần phụ thêm ở cuối quyển 3 từ t165 đến t170, phần phụ thêm chắc do người chép bổ sung. - “Dĩ hạ tại đệ tam quyển” từ d2 t147 đến t163. Giữa quyển ba và phần chép thêm của quyển hai để trống một mặt giấy.
Tên quyển ba không trình bày như ba quyển trên, tức tên quyển không viết chữ to bằng chính văn và viết giống quyển 1 và quyển 4 theo kiểu “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi…” mà viết bằng cỡ chữ nhỏ như phụ chú dưới mục đề của một bài thơ, tức chỉ viết “dĩ hạ tại đệ tam quyển”, sau bài cuối cùng quyển này còn chú cho rõ thêm “hữu tại đệ tam quyển”. - “Nhuế Xuyên thi tập, nc: Đinh Sửu dĩ hạ”, từ t171 đến t189 (đến hết). Phần này không chia theo quyển mà chia theo trình tự thời gian sáng tác. Năm sáng tác được ghi chú ngay dưới tên phần thơ đó.
Như vậy bản này vừa chia theo quyển vừa chia theo trình tự thời gian sáng tác. Các quyển trong văn bản cũng không đặt theo trình tự, q4 lại đặt lên trước q2 và q3, có lẽ khi sưu tập thơ của tác giả, người chép tìm thấy q4 trước. Trong cả bản, có ba loại chữ khác nhau. Cụ thể là: q1 và q4 (t1 đến t53) viết cùng một loại chữ, chữ viết theo thể hành, có nhiều chữ viết theo giản thể, nhưng ít chữ viết ngoáy, nét viết hơi tròn.
Sang q2 và q3 (t74 đến t170) nét bút nhìn tổng thể khác với phần trên, cũng viết theo thể hành, có nhiều chữ viết thảo, đá thảo, nét bút phóng khoáng hơn, thể hiện rõ nét thanh nét đậm, vuông thành sắc cạnh hơn phần trước. Phần “Nhuế Xuyên thi tập, Đinh sửu niên dĩ hạ” 8 (t171 đến t189) nét chữ khác với hai phần trên, chữ viết theo thể hành, cũng có chữ đá thảo. Đơn cử ra đây cách viết chữ “聲 thanh” ở trong 3 loại chữ: Ở q1 và q4, chữ này được viết theo dạng chữ giản thể của thời hiện đại 声, các nét rõ ràng như ở d6 t2, d7 t3, d2 t13, d3 t19, d4 t20, d5 t35, d5 t38, d2 t43, d1 t53, d2 t54, d6 t55, d4 t59, d6 t60, d7 t62, d4 d6 t63…tất cả các chữ “thanh” trong hai quyển này đều viết theo kiểu giản thể này. Ở q2 và q3, chữ “thanh” cũng có một số nơi viết theo giản thể nhưng phần lớn đều viết theo phồn thể và viết thảo, các nét trong chữ gần như viết liền nhau, như ở: d1 t83, d5 t88, d5 t96, d3 t97, d8 t103, d8 t109, d6 t115, d6 d8 t121, d5 t129, d4 t132, d8 t132, d2 t134, d4 t136, d1 t141, d1 t153, d8 t154, d4 t155, d4 t156, d8 t157, d4 t159, d5 d7 t162… Ở phần “Nhuế Xuyên thi tập Đinh Sửu niên dĩ hạ”, chữ “thanh” được viết theo dạng phồn thể, các nét, các bộ phận trong chữ tương đối rõ ràng, chỉ có bộ “nhĩ” viết tháu giống như con số 3 trong chữ quốc ngữ bây giờ, ví dụ ở: d8t172, d6t183, d3t185… Với ba loại chữ khác nhau như thế, cho thấy văn bản này do nhiều người sao chép.
Trong bản, đầu q1 có một đoạn đề tựa đặt sau dòng “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi nhất ” như sau: “Dư nhân bình duyệt bản phủ Thái thú Nguyễn Phát Khoa, (nc: Thừa Thiên Thành Công) Lịch hoạn thi phổ, mỗi ngộ vị an xứ, tùy bút cải chính, cựu hủy tân thành, toại vi kỷ tác, hỗn nhập tập trung, chí dư thi dã. Biệt cư tập thủ, minh phi dư đề dã. Ngự sử cải thụ Thị lang Thuấn Nhuế Ngoại thôn Nguyễn tiên sinh cẩn thức.” (Ta nhân lúc bình duyệt ‘Lịch hoạn thi phổ’ của Nguyễn Phát Khoa người xã Thành Công, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên là Thái thú ở phủ ta. Mỗi khi gặp chỗ chưa ổn, tiện tay sửa đổi, bỏ cũ thay mới, bỗng trở thành tác phẩm của ta, rồi chép chung vào trong tập thơ của ta.
Nhưng số thơ này để riêng ở đầu tập, vì chúng nguyên chẳng phải là thơ làm theo đề của ta. Ngự sử cải thụ Thị Lang Thuấn Nhuế Ngoại thôn Nguyễn tiên sinh kính cẩn đề tựa). Theo đoạn đề tựa này, nhất là từ “đầu tập”, ở đây chưa rõ ý của ông “đầu tập” là của “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi nhất” hay “đầu tập” là phần đầu của tác phẩm “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập” tức cả văn 9 bản, bởi q1 không thấy chia phần. Q1 không chia ra từng phần, nhưng dựa vào nội dung các bài thơ trong q1 này, thấy có hai phần: Phần đầu từ bài 1 đến bài 79, nội dung gồm các bài thơ vịnh về núi sông phong cảnh nhân tài, tập tục, trường sở, lị quán, hàng phố…ở huyện Quảng Xương và tỉnh thành Thanh Hóa.
Bài đầu tiên của phần này là “Quảng Xương huyện đường” rồi bài “Quảng Xương học xá” vv. Để sau đây cho tiện gọi xin đặt cho phần này là “Thanh Hóa thi” Phần sau, từ bài 80 đến bài 138, nội dung gồm các bài thơ vịnh về núi sông, cảnh vật, nhân tài, tập tục…ở phủ Quốc Oai. Bài đầu tiên của phần này là “Quốc Oai phủ thành” rồi bài “Quốc Oai phủ học xá” vv. Để sau đây cho tiện gọi cũng xin đặt cho phần này là “Quốc Oai thi”.