Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ, mã số 62.01) với đề tài "Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu" được nghiên cứu sinh Đỗ Thị Hiên thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Hoàng Trọng Phiến tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (bảo vệ năm 2007).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ngôn ngữ là chất liệu cơ bản của văn chương. Từ hệ thống tín hiệu giao tiếp tự nhiên của cộng đồng, qua hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ, ngôn ngữ trở thành phương tiện biểu đạt thẩm mỹ. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ kể chuyện, việc xử lý điểm nhìn trần thuật và sự lựa chọn các phương thức tự sự thể hiện rõ nét trong thể loại truyện ngắn – một hình thức tự sự cỡ nhỏ nhưng có khả năng khái quát hiện thực đời sống xã hội.
Trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại:
- Giai đoạn 1955–1975: Hoàn cảnh chiến tranh cách mạng đòi hỏi truyện ngắn đảm nhiệm chức năng cổ vũ, động viên toàn dân chiến đấu và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam. Ngôn ngữ kể chuyện thời kỳ này hình thành những đặc trưng gắn liền với cảm hứng sử thi và nhiệm vụ chính trị - xã hội.
- Giai đoạn sau năm 1975: Đất nước bước vào kỷ nguyên hòa bình, thống nhất và đổi mới. Hiện thực đời sống biến chuyển đa chiều, đặt ra yêu cầu phải đổi mới chất liệu ngôn ngữ và phương thức biểu đạt nghệ thuật để phản ánh chân thực các chiều kích nhân sinh.
Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu là hai cây bút tiêu biểu của văn học cách mạng Việt Nam. Cả hai tác giả đều có quá trình sáng tác trải dài qua hai giai đoạn lịch sử nói trên và có các tác phẩm được đưa vào chương trình giảng dạy phổ thông. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu riêng lẻ về thi pháp, tư tưởng hay giọng điệu của hai tác giả, việc đặt ngôn ngữ kể chuyện vào mối quan hệ chỉnh thể với điểm nhìn trần thuật và phương thức tự sự qua hai giai đoạn trước và sau năm 1975 vẫn là khoảng trống cần được khảo sát chuyên sâu từ góc độ ngôn ngữ học và thi pháp học.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác lập các kết quả khoa học về đặc trưng ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu trong mối liên hệ với điểm nhìn trần thuật, phương pháp tự sự và giọng điệu tác phẩm qua hai thời kỳ (trước 1975 và sau 1975), qua đó làm rõ sự vận động trong phong cách ngôn ngữ của hai nhà văn.
Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện trong những truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu được kể lại từ điểm nhìn toàn tri và cách tự sự "kể lại nội dung".
- Nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện trong những truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu được kể lại từ điểm nhìn của người kể chuyện không biết hết và cách tự sự "viết nội dung".
- Khẳng định sự đổi mới tư duy nghệ thuật của hai tác giả trong thể loại truyện ngắn ở phương diện ngôn ngữ, đồng thời đề xuất cách tiếp cận mới trong phân tích văn bản tự sự ở nhà trường phổ thông.
Đối tượng và phạm vi khảo sát
- Đối tượng nghiên cứu: Ngôn ngữ kể chuyện trong mối quan hệ với điểm nhìn trần thuật, giọng điệu và phương thức tự sự.
- Phạm vi ngữ liệu: 54 truyện ngắn tiêu biểu rút từ các tuyển tập truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu ở hai giai đoạn trước và sau năm 1975.
- Tài liệu tham khảo và đối sánh: Một số tác phẩm khác (tiểu thuyết, tạp văn, ký, tiểu luận phê bình) của hai tác giả cùng sáng tác của các nhà văn khác (Nam Cao, Tô Hoài, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ) để phục vụ việc so sánh, đối chiếu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý thuyết trên thế giới
Vấn đề ngôn ngữ nghệ thuật và tự sự học đã được nhiều học giả quốc tế nghiên cứu:
- Roman Jakobson trong Ngôn ngữ học và Thi pháp học đề xuất 6 chức năng giao tiếp ngôn ngữ, nhấn mạnh chức năng thơ là sự định hướng của thông báo vào chính bản thân nó.
- I.U. Lotman trong Cấu trúc văn bản nghệ thuật ngôn từ (1970) xác định ngôn ngữ nghệ thuật là "hệ thống tín hiệu thứ hai được xây chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên", phân tích cấu trúc điểm nhìn tạo ra ngôn từ đa thanh, đa nghĩa qua tác phẩm Evgeny Onegin của A. Pushkin.
- T. Todorov trong Mikhail Bakhtin – Nguyên lý đối thoại chỉ ra tính phức hợp của nguyên lý đối thoại và khẳng định vai trò của người kể chuyện trong việc kiến tạo thế giới nghệ thuật.
- Mikhail Bakhtin và Käte Hamburger làm rõ bản chất ngôn từ văn xuôi nghệ thuật, tính đa thanh và mối quan hệ giữa lời văn với thể loại tiểu thuyết.
- M. Khrapchenko trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách nhà văn.
- Charles Morris và R. Asher nghiên cứu ba bình diện ngôn ngữ (kết học, nghĩa học, ngữ dụng học) và vai trò thống hợp của ngữ dụng học.
- J. Lintvelt mô hình hóa các cấp độ trần thuật trong cấu trúc văn bản tự sự.
- J.L. Austin, J.R. Searle, O. Ducrot, H.P. Grice và G. Genette cung cấp các lý thuyết nền tảng về hành vi ngôn ngữ, phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (IFIDs), lý thuyết đa thanh, hàm ngôn hội thoại và tiêu cự trần thuật.
Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam
- Về lý thuyết ngôn ngữ và thi pháp: Đỗ Hữu Châu (Đại cương ngôn ngữ học, tập 2) nghiên cứu ngữ dụng học, chiếu vật, chỉ xuất, hội thoại và hàm ẩn; Nguyễn Đức Dân (Logic và Tiếng Việt) khảo sát điểm nhìn và ngôn ngữ kể chuyện trong giao tiếp; Đặng Anh Đào (Đổi mới tiểu thuyết phương Tây hiện đại); Trần Đình Sử (Giáo trình dẫn luận thi pháp học); Nguyễn Thái Hòa (Những vấn đề thi pháp của truyện); Nguyễn Lai (Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học); Hữu Đạt (Phong cách học với việc dạy văn và lý luận phê bình văn học).
- Các báo cáo tại Hội nghị Tự sự học (Hà Nội, 11/2003): Hoàng Ngọc Hiến (Kể lại nội dung và viết nội dung), Nguyễn Thái Hòa (Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện), Đỗ Hải Phong (Vấn đề người kể chuyện trong thi pháp tự sự hiện đại), Trần Đình Sử (Về mô hình tự sự Truyện Kiều), Nguyễn Hoài Thanh (Sự độc đáo trong lối thuật kể của “Ông vua phóng sự” Vũ Trọng Phụng), Đặng Anh Đào (Sự phát triển nghệ thuật tự sự ở Việt Nam – một vài hiện tượng đáng lưu ý).
- Về sáng tác của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu:
- Giai đoạn trước 1975: Các nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức đánh giá các tác phẩm (Mùa lạc, Tầm nhìn xa, Người trở về, Mảnh trăng cuối rừng, Những vùng trời khác nhau, Nguồn suối) ở phương diện phản ánh hiện thực cách mạng và xây dựng con người mới.
- Giai đoạn sau 1975: Các công trình của Bích Thu, Nguyễn Thị Bình, Trần Thanh Phương, Lê Thị Hồ Quang, Nguyễn Thu Tuyết, Trần Đình Sử, Nguyễn Tri Nguyên, Đỗ Đức Hiểu đi sâu vào giọng điệu trần thuật, tư duy tiểu thuyết, tính triết lý và tính đa thanh (Phiên chợ Giát, Bến quê).
- Ý kiến tự phản ánh của tác giả: Nguyễn Khải (Chuyện nghề), Nguyễn Minh Châu (Trang giấy trước đèn).
- Các luận án tiến sĩ liên quan: Nguyễn Thị Tuyết Nga, Đào Thủy Nguyên (nghiên cứu Nguyễn Khải); Tôn Phương Lan, Trịnh Thu Tuyết (nghiên cứu Nguyễn Minh Châu).
| Nhóm nghiên cứu |
Đại diện tiêu biểu |
Nội dung trọng tâm |
| Lý thuyết ngôn ngữ & Thi pháp học quốc tế |
R. Jakobson, I.U. Lotman, M. Bakhtin, J. Lintvelt, G. Genette, O. Ducrot |
Chức năng thơ, cấu trúc văn bản nghệ thuật, tính đối thoại đa thanh, cấp độ trần thuật, tiêu cự |
| Lý thuyết ngôn ngữ & Thi pháp học Việt Nam |
Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Trần Đình Sử, Nguyễn Thái Hòa, Hoàng Ngọc Hiến |
Ngữ dụng học, thi pháp truyện kể, điểm nhìn nghệ thuật, phân biệt "kể lại nội dung" và "viết nội dung" |
| Phê bình Nguyễn Khải & Nguyễn Minh Châu (trước 1975) |
Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức |
Phản ánh hiện thực cách mạng, con người mới, giá trị sử thi và cổ vũ chiến đấu |
| Phê bình Nguyễn Khải & Nguyễn Minh Châu (sau 1975) |
Bích Thu, Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu, Tôn Phương Lan, Trịnh Thu Tuyết |
Đổi mới tư duy nghệ thuật, giọng điệu triết lý, văn bản đa thanh, nhân vật tự vấn |
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận tác phẩm từ góc độ văn học sử, thi pháp thể loại hoặc phân tích ngữ nghĩa thuần túy. Luận án của Đỗ Thị Hiên lựa chọn giải quyết khoảng trống: khảo sát ngôn ngữ kể chuyện như một thành tố thi pháp gắn liền với sự chuyển dịch điểm nhìn trần thuật, phân tích ngữ dụng học (chiếu vật, hành vi ngôn ngữ, lập luận, hội thoại, hàm ẩn) trên ngữ liệu 54 truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu qua hai mốc thời gian trước và sau năm 1975.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp giữa Ngữ dụng học, Tự sự học và Thi pháp học:
- Ba bình diện của ngôn ngữ và vai trò thống hợp của Ngữ dụng học:
- Bình diện kết học (cú pháp), nghĩa học (ngữ nghĩa) và ngữ dụng học (quan hệ giữa ngôn ngữ và người sử dụng).
- Ngữ dụng học đóng vai trò thống hợp, xem xét ngôn ngữ nghệ thuật trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể (nhà văn – người đọc, người kể chuyện – nhân vật, nhân vật – nhân vật).
- Các phạm trù ngữ dụng học ứng dụng:
- Chiếu vật và chỉ xuất: Chỉ xuất ngôi xưng hô (quan hệ liên nhân, phép lịch sự), chỉ xuất không gian – thời gian (chủ quan lấy mốc "tôi – ở đây – bây giờ", khách quan), chỉ xuất văn bản (hồi chỉ – anaphoric, khứ chỉ – cataphoric).
- Hành vi ngôn ngữ (Speech acts): Hành vi ở lời, biểu thức ngữ vi (nguyên cấp và tường minh), các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (IFIDs), động từ nói năng và động từ ngữ vi (ngôn hành), hành vi ở lời gián tiếp.
- Lý thuyết lập luận và tính đa thanh (Polyphony): Tác tử lập luận, dấu hiệu giá trị học, kết tử lập luận, vai thuyết ngôn và chủ ngôn theo O. Ducrot, lẽ thường trong lập luận.
- Lý thuyết hội thoại và ý nghĩa hàm ẩn: Cấu trúc hội thoại (cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại, hành vi), trục quan hệ liên cá nhân (ngang: thân – sơ; dọc: vị thế quyền lực), đề tài diễn ngôn, đích hội thoại, nguyên tắc lịch sự, sự vi phạm quy tắc tạo hàm ngôn và ý nghĩa không tự nhiên (theo H.P. Grice).
- Lý thuyết tự sự học và điểm nhìn nghệ thuật:
- Cấp độ trần thuật (theo J. Lintvelt): Tác giả cụ thể/trừu tượng, người trần thuật, diễn ngôn người trần thuật và diễn ngôn nhân vật, người nghe kể/độc giả.
- Phân loại người kể chuyện: Người kể chuyện hiển ngôn xưng "tôi", người kể chuyện hàm ẩn (toàn tri hoặc hạn tri tựa vào điểm nhìn nhân vật), người kể chuyện trung gian động.
- Thoại dẫn (Reported speech): Thoại dẫn trực tiếp, thoại dẫn gián tiếp (có từ đánh dấu "là/rằng"), thoại dẫn gián tiếp tự do (lời nửa trực tiếp, xóa mờ ranh giới giữa lời kể và lời nhân vật).
- Các loại điểm nhìn: Điểm nhìn khách quan, điểm nhìn ngôi thứ nhất, điểm nhìn ngôi thứ ba, điểm nhìn thông suốt (toàn tri) và điểm nhìn giới hạn (hạn tri).
- Sáu nhân tố của điểm nhìn: Người tiêu điểm hóa, nhân tố được tiêu điểm hóa, người phát ngôn, người nhận, tiêu điểm (tiêu điểm thông tin và tiêu điểm tu từ), tiêu cự (tiêu cự bằng không, tiêu cự bên trong, tiêu cự bên ngoài theo G. Genette).
- Phương thức tự sự: Phân biệt giữa "kể lại nội dung" (nội dung có sẵn, ngôn ngữ mang tính minh họa, diễn đạt) và "viết nội dung" (nội dung hình thành trong quá trình viết, ngôn ngữ là công cụ khám phá và sản sinh ý nghĩa theo Claude Simon và Hoàng Ngọc Hiến).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp định tính trong nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản và thi pháp học:
- Phương pháp phân tích ngữ dụng: Phân tích các phát ngôn nghệ thuật thông qua tiền giả định ngôn ngữ/lời nói, hàm ngôn ngôn ngữ/lời nói, liên hội các yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, suy ý và xác định tính năng động hội thoại.
- Phương pháp phân tích tu từ: So sánh đối chiếu ngôn ngữ kể chuyện giữa hai giai đoạn của cùng một tác giả hoặc giữa hai tác giả; thao tác xây dựng cấu trúc câu giả định; thao tác thay thế, cải biến (lược bỏ, thay thế, bổ sung từ ngữ) để khẳng định giá trị thẩm mỹ của văn bản gốc.
- Thao tác thống kê: Khảo sát tần số xuất hiện của các kiểu câu, loại từ, các dạng lời dẫn thoại trong diễn ngôn của người kể chuyện và nhân vật ở 54 truyện ngắn.
- Thao tác hệ thống: Phân loại đối tượng theo các trục đồng nhất: thời gian sáng tác (trước/sau 1975), giọng điệu, phương thức tự sự, điểm nhìn trần thuật và hình thức thoại dẫn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những khái niệm có liên quan
Chương 1 thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết làm công cụ phân tích cho các chương thực nghiệm:
- Phân tích mối quan hệ giữa kết học, nghĩa học và vai trò thống hợp của ngữ dụng học trong tiếp cận ngôn ngữ văn học.
- Trình bày chi tiết các phạm trù ngữ dụng: chiếu vật, chỉ xuất (ngôi xưng hô, không gian, thời gian, nội chỉ văn bản); hành vi ngôn ngữ trực tiếp và gián tiếp; biểu thức ngữ vi, IFIDs, động từ ngữ vi; lý thuyết lập luận, tính đa thanh của O. Ducrot; ngữ cảnh, cấu trúc hội thoại, đích hội thoại, phép lịch sự; ý nghĩa tường minh và cơ chế tạo hàm ngôn không tự nhiên.
- Làm rõ cấu trúc ngôn ngữ kể chuyện gồm ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật; các hình thức thoại dẫn (trực tiếp, độc thoại nội tâm, dòng tâm tư, gián tiếp, gián tiếp tự do/lời nửa trực tiếp). Phân tích ví dụ đoạn văn 27 câu trong truyện ngắn Hai người ăn tết lạ của Nam Cao để minh họa sự di chuyển điểm nhìn và sự đan cài giữa lời kể với ý thức nhân vật.
- Xác định bản chất của điểm nhìn nghệ thuật, phân loại điểm nhìn (khách quan, ngôi thứ nhất, ngôi thứ ba, toàn tri, giới hạn), phân tích 6 nhân tố cấu thành điểm nhìn và phân định hai phương thức tự sự "kể lại nội dung" và "viết nội dung".
Chương 2: Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải
Chương 2 khảo sát sự vận động của ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Khải qua hai giai đoạn lịch sử:
1. Giai đoạn trước năm 1975
- Điểm nhìn và phương thức tự sự: Truyện ngắn sử dụng điểm nhìn toàn tri (omniscient), người kể chuyện đứng ngoài và đứng trên bao quát toàn bộ sự kiện, thông tỏ suy nghĩ của nhân vật (Mùa lạc, Tầm nhìn xa, Hãy đi xa hơn nữa, Người trở về). Phương thức tự sự chủ đạo là "kể lại nội dung", hướng tới phản ánh hiện thực xây dựng cuộc sống mới và cổ vũ tinh thần cách mạng.
- Đặc trưng ngôn ngữ: Cấu trúc trần thuật mang tính trữ tình, ý thức ngôn ngữ của người kể chuyện hòa tan vào ý thức ngôn ngữ của tác giả, hình thành kiểu lời văn đơn giọng độc thoại. Lời văn mang tính khẳng định, ngợi ca phẩm chất con người mới.
2. Giai đoạn sau năm 1975
- Sự chuyển dịch điểm nhìn: Tác giả chuyển đổi sang phương thức tự sự "viết nội dung", trao điểm nhìn cho người kể chuyện xưng "tôi" (Sống ở đời, Một giọt nắng nhạt, Đổi đời, Cái thời lãng mạn, Anh hùng bĩ vận, Nắng chiều) hoặc người kể chuyện ngôi thứ ba giới hạn có sự luân phiên điểm nhìn (Sư già chùa Thắm và ông đại tá về hưu, Một thời gió bụi). Người kể chuyện trở thành người kể chuyện trung gian động, có khoảng cách với tác giả.
- Ngôn ngữ mang phong cách sinh hoạt đời thường: Đưa lời ăn tiếng nói hàng ngày, khẩu ngữ, thành ngữ, từ ngữ sinh hoạt và các kết cấu khẩu thoại vào văn bản nghệ thuật.
- Ngôn ngữ đa thanh có tính đối thoại nội tại: Xuất hiện các dạng lời văn hai giọng (lời kể chuyện nhại, lời nửa trực tiếp), câu hỏi tu từ mang tính tự vấn, các cuộc đối thoại thể hiện sự xung đột về quan điểm sống và thang bậc giá trị trong nền kinh tế thị trường.
Chương 3: Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
Chương 3 làm rõ những đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn sáng tác:
1. Giai đoạn trước năm 1975
- Điểm nhìn và phương thức tự sự: Chủ yếu sử dụng điểm nhìn toàn tri hoặc người kể chuyện xưng "tôi" đại diện cho lý tưởng cộng đồng (Mảnh trăng cuối rừng, Những vùng trời khác nhau, Nguồn suối, Chuyện ở đại đội). Cốt truyện được tổ chức theo lối "kể lại nội dung", tiêu cự trần thuật bằng không.
- Đặc trưng ngôn ngữ: Lời văn mang đậm chất sử thi, ngợi ca vẻ đẹp lý tưởng và sự hy sinh của người chiến sĩ, ngôn từ giàu tính lãng mạn và nhạc tính, cấu trúc phát ngôn mang tính trang trọng và thuần nhất về giọng điệu.
2. Giai đoạn sau năm 1975
- Sự chuyển dịch điểm nhìn và phân rã tiêu cự: Chuyển dịch mạnh mẽ sang phương thức "viết nội dung", điểm nhìn di chuyển sâu vào thế giới nội tâm nhân vật, người kể chuyện hạn tri (Bức tranh, Cỏ lau, Phiên chợ Giát, Khách ở quê ra, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Sắm vai, Một lần đối chứng, Sống mãi với cây xanh).
- Ngôn ngữ mang phong cách sinh hoạt đời thường: Tái hiện ngôn ngữ thô mộc, góc cạnh của đời sống lao động thường nhật; lời đối thoại giữa các nhân vật mang dấu vết của quan hệ liên nhân phức tạp và các va chạm xã hội (như cuộc thoại giữa lão Khúng và chủ tịch huyện Bời trong Phiên chợ Giát).
- Ngôn ngữ có tính đối thoại đa thanh – chất liệu mới: Luận án chỉ ra sự xuất hiện dày đặc của độc thoại nội tâm và dòng tâm tư. Lời văn mang tính tự phán xét, đối thoại giữa hai cái "tôi" trong cùng một nhân vật (như đoạn độc thoại tự vấn của người họa sĩ trong Bức tranh khi các từ "khuôn mặt", "cái mặt" lặp lại 27 lần, "đôi mắt" lặp lại 13 lần; hoặc dòng suy nghĩ của lão Khúng trong Phiên chợ Giát). Ngôn ngữ trở thành công cụ nhận thức, khám phá những phức tạp trong bản tính con người.
| Tiêu chí so sánh |
Giai đoạn trước năm 1975 |
Giai đoạn sau năm 1975 |
| Điểm nhìn trần thuật |
Điểm nhìn toàn tri (omniscient), tiêu cự bằng không, người kể chuyện biết hết |
Điểm nhìn hạn tri, ngôi thứ nhất xưng "tôi" hoặc ngôi thứ ba giới hạn, di chuyển điểm nhìn |
| Phương thức tự sự |
"Kể lại nội dung" (nội dung có sẵn, ngôn ngữ minh họa) |
"Viết nội dung" (ngôn ngữ sản sinh ý nghĩa, khám phá hiện thực) |
| Khoảng cách tác giả – người kể |
Hòa lẫn, người kể chuyện trùng khít với tác giả hàm ẩn |
Tồn tại khoảng cách, người kể chuyện trung gian động |
| Tính chất lời văn |
Đơn giọng, độc thoại, mang âm hưởng sử thi, ngợi ca |
Đa thanh, đối thoại nội tại, lời văn hai giọng, lời gián tiếp tự do |
| Phong cách ngôn ngữ |
Trang trọng, giàu chất thơ và tính lãng mạn cách mạng |
Phong cách sinh hoạt đời thường, giàu khẩu ngữ, tự vấn đạo đức |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Vận dụng có hệ thống các lý thuyết Ngữ dụng học (chiếu vật, chỉ xuất, hành vi ngôn ngữ, lập luận, đa thanh, hội thoại, hàm ngôn), Tự sự học (cấp độ trần thuật, cấu trúc người kể chuyện, thoại dẫn) và Thi pháp học để xây dựng khung phân tích ngôn ngữ kể chuyện trong tác phẩm văn xuôi tự sự.
- Khẳng định ngôn ngữ nghệ thuật là một "hệ thống tín hiệu thứ hai được xây chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên", trong đó ngôn ngữ kể chuyện là thành tố cấu thành thi pháp, có mối quan hệ biện chứng với điểm nhìn và phương thức tự sự.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khảo sát và phân tích ngữ liệu 54 truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu, chứng minh sự vận động phong cách ngôn ngữ của hai nhà văn qua hai mốc thời gian: từ phong cách sử thi, đơn giọng trước 1975 sang phong cách đa thanh, sinh hoạt đời thường, giàu tính đối thoại sau 1975.
- Làm rõ bản chất sự chuyển đổi từ phương thức tự sự "kể lại nội dung" sang "viết nội dung" ở hai tác giả, chỉ ra sức mạnh khám phá hiện thực của ngôn ngữ văn chương thời kỳ đổi mới.
Đề xuất và giải pháp
- Đề xuất hướng tiếp cận văn bản văn xuôi tự sự từ góc độ ngôn ngữ học và ngữ dụng học cho công tác giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường phổ thông, hỗ trợ học sinh và giáo viên nâng cao năng lực giải mã văn bản qua các tín hiệu điểm nhìn, chỉ xuất ngôi xưng và cấu trúc hội thoại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Ngữ liệu nghiên cứu tập trung chuyên biệt vào thể loại truyện ngắn với 54 tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu; các thể loại khác như tiểu thuyết, ký sự, tạp văn mới chỉ được dùng ở mức độ đối chiếu bổ trợ.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang thể loại tiểu thuyết của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu để kiểm chứng tính phổ quát của các kết luận về điểm nhìn và ngôn ngữ trần thuật.
- Ứng dụng khung lý thuyết ngữ dụng – tự sự học để khảo sát ngôn ngữ kể chuyện của các tác giả văn xuôi tiêu biểu khác cùng thời kỳ đổi mới văn học Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Ngôn ngữ học: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu ngữ dụng học ứng dụng vào văn bản nghệ thuật và cách kết hợp giữa ngôn ngữ học với tự sự học.
- Đối với nhà nghiên cứu và giảng viên văn học: Cung cấp nguồn tư liệu phân tích chi tiết về sự chuyển biến thi pháp ngôn ngữ của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn 1955–1975 và sau 1975.
- Đối với giáo viên Ngữ văn phổ thông: Đóng góp phương pháp đọc hiểu văn bản tự sự dựa trên phân tích ngôn ngữ kể chuyện, điểm nhìn trần thuật và cấu trúc lời thoại, phục vụ trực tiếp việc giảng dạy các tác phẩm của hai nhà văn trong chương trình học.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án kết hợp Ngữ dụng học với Thi pháp học và Tự sự học?
Tác phẩm văn chương là một hệ thống giao tiếp nghệ thuật. Ngữ dụng học giúp phân tích quan hệ giữa ngôn ngữ và người dùng trong các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể (chiếu vật, hành vi ngôn ngữ, lập luận, hội thoại), trong khi Thi pháp học và Tự sự học cung cấp các khái niệm về điểm nhìn, cấp độ trần thuật và người kể chuyện. Sự kết hợp này giúp giải mã ngôn ngữ kể chuyện như một thành tố thi pháp hoàn chỉnh.
2. Sự khác biệt giữa hai phương thức tự sự "kể lại nội dung" và "viết nội dung" trong luận án là gì?
- "Kể lại nội dung": Nội dung và các mẫu nhân vật, cách ứng xử đã có sẵn trước khi viết; nhà văn đặt bút để tìm từ ngữ biểu đạt nội dung có sẵn đó (phổ biến ở truyện ngắn giai đoạn trước 1975 với điểm nhìn toàn tri).
- "Viết nội dung": Nội dung không có sẵn mà hình thành trong quá trình viết; ngôn ngữ không chỉ biểu đạt mà còn là công cụ nhận thức, khám phá và sản sinh ý nghĩa (phổ biến ở truyện ngắn sau 1975 với người kể chuyện hạn tri).
3. Ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Khải sau năm 1975 có những đặc điểm nổi bật nào?
Nguyễn Khải chuyển từ điểm nhìn toàn tri sang điểm nhìn của người kể chuyện không biết hết (ngôi thứ nhất xưng "tôi" hoặc ngôi thứ ba giới hạn). Ngôn ngữ mang phong cách sinh hoạt đời thường, đưa lời ăn tiếng nói thường nhật vào tác phẩm, đồng thời phát triển kiểu ngôn ngữ đa thanh với lời văn hai giọng (lời kể chuyện nhại, lời nửa trực tiếp) và tính đối thoại nội tại.
4. Tính chất đối thoại đa thanh thể hiện như thế nào trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975?
Tính chất đa thanh thể hiện qua việc phân rã tiêu cự, gia tăng độc thoại nội tâm và dòng tâm tư. Nhân vật tự phân thân để đối thoại và tự phán xét lương tâm (như nhân vật họa sĩ trong Bức tranh), ngôn ngữ truyện phản ánh sự xung đột giữa các ý thức xã hội và quan hệ liên nhân phức tạp đời thường (như trong Phiên chợ Giát, Cỏ lau).
5. Dấu hiệu hình thức để nhận biết thoại dẫn gián tiếp tự do trong văn bản là gì?
Thoại dẫn gián tiếp tự do (lời nửa trực tiếp) không có lời dẫn (không có động từ nói năng mở đầu và không có từ nối "là/rằng"), có sự nhập vai giữa lời thoại của nhân vật và lời của người kể chuyện, có tác dụng hiện tại hóa quá khứ và đưa người đọc tiếp xúc trực tiếp với ý thức nhân vật.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Hiên đã giải quyết việc khảo sát ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu bằng khung lý thuyết liên ngành Ngữ dụng học – Tự sự học – Thi pháp học. Công trình đã làm sáng tỏ quy luật vận động phong cách của hai tác giả từ điểm nhìn toàn tri, đơn giọng sử thi trước năm 1975 sang điểm nhìn hạn tri, phong cách sinh hoạt đời thường và đối thoại đa thanh sau năm 1975. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tư liệu khoa học xác thực cho lý luận ngôn ngữ, thi pháp học văn xuôi và mở ra phương thức phân tích văn bản tự sự hiệu quả trong giảng dạy Ngữ văn.