mở đầu cho biểu thức đánh giá, kết hợp với từ “danh tiếng”, là một kết hợp thể hiện sự đánh giá theo hướng tích cực. Động từ nói năng và động từ ngữ vi Động từ nói năng: Là những động từ biểu thị, gọi tên các hành vi ngôn ngữ [19, Tr.)“Ông Vị hỏi nó: - Vậy còn tương lai của cháu?” [161,Tr. Trong ví dụ trên có động từ “hỏi” là động từ nói năng, nó cũng là động từ chỉ hành vi ở lời, hành vi có hiệu lực tại lời. Động từ ngữ vi: Là những động từ nói năng có thể được thực hiện trong chức năng ngữ vi, tức thực hiện trong chức năng ở lời (còn được gọi là động từ ngôn hành - performativeverbs).
Nó là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngữ vi, là người nói thực hiện luôn cái hành vi ở lời do chúng biểu thị [19, Tr. Động từ ngữ vi là những động từ có thể thực hiện chức năng ngữ vi ngay trong phát ngôn. Tuy vậy, theo Austin thì động từ ngữ vi chỉ được dùng trong chức năng ngữ vi khi trong phát ngôn nó được dùng ở ngôi thứ nhất (người nói SP1) thời hiện tại, thể chủ động và thực thi [19, Tr.)“Chốc nữa mời cô xuống chỗ tôi ăn cá rán nhé! .116] (2) “Hôm qua anh ấy đã mời tôi xuống ăn cá rán”. Ở câu (1), “mời” được dùng trong hiệu lực ngữ vi, còn ở câu (2) “mời” lại được dùng với ngôi thứ ba và thời quá khứ nên nó đã được dùng trong 16 z chức năng miêu tả thông thường.
b) Hành vi ở lời gián tiếp: Trong thực tế giao tiếp, một phát ngôn không phải chỉ có một đích ở lời, mà đại bộ phận là chúng thực hiện đồng thời một số hành vi [19, Tr. Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành vi ở lời này, nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành vi ở lời khác, được gọi là hiện tượng sử dụng hành vi ngôn ngữ theo lối gián tiếp. Ví dụ: Trong truyện ngắn “Nước mắt” của Nam Cao, khi nhân vật Điền ném tờ giấy bạc đã bị rách làm ba cho viên thư ký và nói: (7.) “- Thế này thì ông bảo tôi tiêu làm sao được? Lập tức người thư ký đứng phắt lên sừng sộ với Điền: - Anh muốn tù phải không?” [140,Tr. Trong ví dụ trên, người thư ký đã dùng hành vi trực tiếp là hỏi để cho nhân vật Điền hiểu được hiệu lực ở lời gián tiếp là phải từ bỏ việc đòi đổi tiền.
Các câu hỏi tu từ hầu hết là đã được dùng theo lối gián tiếp. Trong các tác phẩm văn học, loại câu hỏi như vậy cũng rất phổ biến. Để xuất hiện hành vi ở lời gián tiếp, trước hết phát ngôn đó phải có ngữ cảnh cho phép. Ngữ nghĩa của các thành phần tạo nên nội dung mệnh đề của biểu thức ngữ vi trực tiếp càng gắn với các nhân tố của ngữ cảnh bao nhiêu, thì càng có khả năng thực hiện các hành vi gián tiếp bấy nhiêu.
Muốn nhận biết hành vi ở lời gián tiếp, phải nhận biết phát ngôn qua biểu thức ngữ vi cốt lõi cho nó là do hành vi ở lời trực tiếp nào tạo ra. Bởi vì các hành vi ở lời: xác tín, miêu tả, khảo nghiệm có biểu thức ngữ vi nguyên cấp trùng với nội dung mệnh đề, cho nên có khả năng thực hiện nhiều hành vi ở lời gián tiếp.) Tôi về sớm.261] có thể là một lời trần thuyết, một lời hứa hẹn, một lời cam kết, một sự biểu lộ quyết tâm. Hành vi ngôn ngữ gián tiếp không chỉ do hành vi ngôn ngữ trực tiếp tạo ra, nó còn bị quy định bởi các lĩnh vực khác của ngữ dụng như: lý thuyết lập luận, lý thuyết hội thoại, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn. Lý thuyết lập luận Lập luận là đưa ra những lý lẽ, nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận, hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới.
a) Các chỉ dẫn lập luận Các tác tử lập luận (opérateurs) thường là những hư từ, những tiểu từ tình thái, mà khi được đưa vào nội dung miêu tả nào đó, nó sẽ làm thay đổi tiềm năng lập luận của nội dung miêu tả ấy [19, Tr. Những tác tử thường gặp là: đã, mới, thôi, chỉ, cứ, những là ít, là nhiều… Ví dụ: (9.) - Mẹ mày ngày xưa cũng chỉ theo không tao đấy. Giả sử bớt đi các tác tử cũng, chỉ, đấy ở phát ngôn trên, nó sẽ trở thành: Mẹ mày ngày xưa theo không tao. Thông tin miêu tả của phát ngôn không đổi, nhưng phát ngôn trong văn bản với các tác tử cũng, chỉ, đấy sẽ hướng về kết luận: không nên thách cưới, bày vẽ lôi thôi.
Các dấu hiệu giá trị học (marques axiologiques): Các yếu tố của hiện thực được lựa chọn tạo thành nội dung miêu tả cũng là một dấu hiệu có giá trị lập luận. Trong phát ngôn, các yếu tố này trở thành cái biểu đạt làm thay đổi giá trị lập luận của các nội dung miêu tả.) Mãi đến mười giờ Điền mới tới trạm Quỳnh Nha, nắng rất gắt đã từ lâu(1). Mặt hắn đỏ gay, đẫm mồ hôi và chân hắn thì bụi (2). Ba chi tiết miêu tả nhân vật Điền trong câu (2) sẽ dẫn tới kết luận là việc đi bộ dưới trời nắng, đã khiến cho Điền quá mệt mỏi, nóng bức.
Cách sắp xếp, tổ chức nội dung miêu tả cũng có giá trị lập luận.) Nam học không hơn gì Minh. (1) Minh học không hơn gì Nam. (2) Cả hai câu đều có nội dung là so sánh về học lực của Nam và Minh. Nhưng ở câu (1), Nam được đặt ở vị trí đầu câu, thì có ý đánh giá thấp học lực của Nam so với Minh, còn ở câu (2), Minh được đặt lên vị trí đầu câu, thì lại có ý đánh giá thấp học lực của Minh so với Nam.
18 z Các thực từ được dùng để miêu tả cũng có giá trị lập luận.) Giăng là cái liềm vàng giữa đồng sao(1). Đối với thị, giăng chỉ là. đỡ tốn hai xu dầu. Những thực từ liềm vàng, hai xu sẽ dẫn tới kết luận: Điền - người coi trăng là cái liềm vàng, là người có tâm hồn, biết thưởng thức cái đẹp.
Còn vợ Điền - người mà thấy giá trị của trăng chỉ đáng hai xu, là người có tâm hồn cằn cỗi. Kết tử lập luận (connecteurs) là những yếu tố như liên từ đẳng lập, liên từ phụ thuộc, các trạng từ và các trạng ngữ. phối hợp hai hoặc một số phát ngôn thành một lập luận duy nhất [19, Tr.) Hôm nay trời đẹp nên chúng tôi đi chơi. b) Lập luận và hiện tượng đa thanh (polyphony) Đa thanh là hiện tượng mả ở đó các nhân vật tự thể hiện chính mình mà không được đánh giá theo quan điểm của tác giả.
Do đó, trong tác phẩm xuất hiện sự xung đột của các giọng, các quan điểm của nhân vật. Ý nghĩa thực sự của tác phẩm chính là ở sự xung đột của các giọng, các quan điểm của nhân vật. Còn giọng của tác giả, khi thì đồng hướng, khi thì nghịch hướng với những giọng đó, quan điểm đó. Theo lý thuyết đa thanh của O.
Ducrot, thì trong cùng một phát ngôn, có mặt những người nói khác nhau với những c- ương vị nói năng khác nhau: thuyết ngôn, chủ ngôn. Thuyết ngôn là người phát ra phát ngôn, diễn ngôn nghe được, đọc được. Còn chủ ngôn là người nói ra nội dung được nhắc lại trong phát ngôn của thuyết ngôn [19,Tr. c) Lẽ thường cơ sở của lập luận.
Lẽ thường là những chân lý thông thường có tính kinh nghiệm, không có tính tất yếu, bắt buộc như các tiên đề logic [19, Tr. Nó có tính khái quát, tính có thang độ và tính chất chung. Với đặc trưng riêng của thể loại, ngôn ngữ trong truyện ngắn đòi hỏi sự cô đọng, hàm súc. Các vấn đề của lập luận, đặc biệt là hiện tượng đa thanh đã 19 z được các nhà văn sử dụng thường xuyên nhằm tạo ra những lời văn chứa đựng hàm ngôn và có giá trị thẩm mỹ.
Lý thuyết hội thoại a) Ngữ cảnh Những lời được nói ra hoặc viết ra khi giao tiếp gọi là diễn ngôn (discourse). Trong một hoạt động giao tiếp, loại trừ diễn ngôn ra, các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp được gọi chung là ngữ cảnh, nó gồm các nhân tố: Nhân vật giao tiếp;Hiện thực được nói tới; Hoàn cảnh giao tiếp; Hệ thống tín hiệu ngôn ngữ. Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ liên cá nhân giữa người nói SP1 và người nghe SP2. Quan hệ liên cá nhân được xét theo hai trục: Quan hệ ngang và quan hệ dọc.
Quan hệ ngang (Relation horizontale) còn gọi là quan hệ thân - sơ. Nó có nhiều dấu hiệu để nhận biết. Cụ thể là, dấu hiệu bằng lời gồm hệ thống các từ xưng hô. Dấu hiệu phi lời gồm những cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt; dấu hiệu phi lời thì có các dấu hiệu cường độ, âm lực phát âm, tốc độ nói năng, tốc độ nối tiếp và sự chồng chéo lượt lời Quan hệ dọc hay còn gọi là quan hệ vị thế xã hội (trục quyền uy - power).
Quan hệ này tạo thành các vị thế trên, dưới. Nó cũng được nhận biết qua những dấu hiệu bằng lời gồm những cặp từ xưng hô, những nghi thức xưng hô, hệ thống các đại từ… Cách điều hành các lượt lời về phương diện số lượng và chất lượng cũng giúp ta nhận biết các vai giao tiếp có quan hệ trên, dưới ra sao. Ngoài ra, người ta còn dựa vào cách tổ chức cuộc thoại: ai mở đầu cuộc thoại, ai hồi đáp, ai kết thúc… cũng phản ánh vị thế của SP1, SP2. Bên cạnh đó, các hành vi ngôn ngữ, hành vi hội thoại, sự thể hiện phép lịch sự cũng phản ánh quan hệ vị thế.
Người có quyền lực cao thường hay thản nhiên hay vô tình đe dọa thể diện người đối thoại. Những dấu hiệu phi lời như cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt và những dấu hiệu kèm lời như cường độ âm lực, âm lượng, cũng góp phần phản ánh vị thế của các vai trong hội thoại. 20 z Trong tác phẩm văn học, các nhà văn lại tạo ra những cuộc hội thoại lệch chuẩn, làm xuất hiện hàm ẩn: Ví dụ, trong truyện ngắn Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu) có cuộc hội thoại giữa lão Khúng và chủ tịch huyện Bời. Quan hệ giữa hai nhân vật này là quan hệ tôn ti xã hội giữa một người có vị thế cao (chủ tịch huyện Bời) với một người có vị thế thấp - một người nông dân (lão Khúng).