CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số vấn đề lý luận về phép điệp ngữ Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm của nhiều tác giả, bộ môn khác nhau: Phép điệp ngữ được chúng tôi hiểu theo quan điểm của bộ môn Phong cách học, trên cơ sở là sự lặp lại cả về ngữ âm, từ vựng và cấu trúc của câu nhằm nhấn mạnh nội dung thông báo, tạo nghĩa mới bất ngờ, tạo ra tính nhạc cho lời thơ, lời văn, đem lại giá trị thẩm mĩ cho người đọc người nghe. Phép điệp ngữ dưới góc nhìn của Phong cách học Nhóm tác giả Võ Bình - Lê Anh Hiền - Cù Đình Tú - Nguyễn Thái Hòa, trong cuốn sách Phong cách học tiếng Việt (1982) thì cho rằng: Điệp từ ngữ chính là một phương thức của ngữ nghĩa, điệp ngữ được sử dụng nhằm lặp lại có ý thức một, hai hay nhiều từ ngữ như nhau trong các câu, đoạn văn như nhau, ở cả các kiểu câu khi sử dụng, sử dụng cách phô diễn cũng như nhau [4. Các tác giả cũng phân chia điệp ngữ thành: Điệp nối tiếp; điệp cách quãng; điệp vòng tròn; điệp kiểu câu và điệp phô diễn.
Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt, cho rằng: Điệp ngữ hay còn gọi là lặp, là sự lặp lại những ý thức có từ ngữ, mục đích của điệp ngữ là mở rộng nghĩa, nhấn mạnh ý, mở ra những xúc cảm trong lòng người đọc người nghe và gây ấn tượng mạnh. Dưới góc nhìn của Phong cách học, điệp ngữ cũng được xem là một trong những phương thức sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt ý nghĩa một cách tế nhị, lịch sự và mềm dẻo. Phép điệp ngữ không chỉ đơn thuần là một cách biến đổi từ ngữ, mà nó mang trong mình một ý nghĩa xã hội và văn hóa sâu sắc. Phép điệp ngữ thể hiện sự ảnh hưởng của các giá trị, quan điểm, và quy tắc xã hội đối với việc sử dụng ngôn ngữ.
Nó phản ánh một cách trực tiếp hoặc gián tiếp các quy tắc, chuẩn mực và niềm tin xã hội về việc giao tiếp và diễn đạt ý kiến. 8 Phép điệp ngữ có thể được sử dụng để giấu giếm, làm mờ hoặc thay thế những từ ngữ trực tiếp, thẳng thắn mà trong ngữ cảnh xã hội được coi là không lịch sự hoặc không phù hợp. Điệp ngữ có thể giúp mềm dẻo hóa và làm dịu một thông điệp để tránh xúc phạm, tranh cãi hay gây hiểu lầm. Nó có thể tạo ra sự lịch sự và tình cảm trong giao tiếp và giúp duy trì mối quan hệ tốt với người khác.
Với góc nhìn của Phong cách học, phép điệp ngữ không chỉ là một cách biểu đạt ngôn ngữ, mà nó còn phản ánh các giá trị xã hội và văn hóa, tạo ra sự tương tác phức tạp giữa ngôn ngữ và xã hội. Ví dụ: (1) Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắng, đứng đắn, điều gì không thẳng thắn, đứng đắn tức là tà. Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa quả, mới là cây hoàn toàn.
Một người cần, kiệm, liêm nhưng còn phải có chính nữa mới là hoàn toàn. (Hồ Chí Minh) Trong chương trình Ngữ văn, Sách Giáo khoa tiếng Việt lớp 7, tập 1, bài 13 trình bày: Khi nói hoặc viết, người ta có thể dùng biện pháp lặp lại từ ngữ (hoặc cả một câu) để làm nổi bật ý, gây cảm xúc mạnh, cách lặp như vậy gọi là phép điệp ngữ, từ ngữ được lặp lại gọi là điệp ngữ. Trong quá trình giảng dạy trong trường phổ thông, bậc trung học cơ sở, phép điệp ngữ được coi là một biện pháp tu từ được dùng để lặp lại một yếu tố diễn đạt về cụm từ, câu, hoặc vần, nhịp qua đó nhấn mạnh, biểu đạt về ý nghĩa, cảm xúc và từ đó khơi gợi khả năng về hình tượng nghệ thuật. Điệp ngữ được sử dụng để diễn đạt dụng ý của tác giả, thông qua hiệu quả tu từ như nhấn mạnh, khẳng định về nội dung được nhắc đến.
Từ đó thể hiện sự đặc sắc trong ý nghĩa, cũng bộc bạch được tâm tư, tình cảm hay trạng thái cảm xúc, suy nghĩ được dồn nén… 9 1. Phép điệp ngữ dưới góc nhìn của bộ môn Ngữ pháp học Theo tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn sách Ngữ pháp tiếng Việt, phép điệp ngữ có thể được xem như một hình thức biến đổi ngôn ngữ, nơi một từ hoặc cụm từ được thay thế bằng một từ ngữ khác mang ý nghĩa tương tự nhưng mềm dẻo hơn. Thông qua việc thay thế này, người sử dụng ngôn ngữ có thể tạo ra sự tế nhị, lịch sự hoặc tránh những từ ngữ không phù hợp trong ngữ cảnh xã hội [3. Dưới góc nhìn của bộ môn Ngữ pháp học, Phép điệp ngữ là một dạng phương thức liên kết, thể hiện ở câu sau lặp lại một số yếu tố từ vựng (từ thực, cụm từ) hoặc ngữ pháp (mô hình cấu trúc) của câu đi trước.
Các từ lặp này thường tạo sự liên kết câu trước và câu sau trong văn bản. Có thể sử dụng lặp lại một cụm từ, lặp một bộ phận từ hay lặp lại cú pháp. Cùng hướng nghiên cứu các phép liên kết câu trong văn bản, Diệp Quang Ban (2005) đã đưa ra năm phép liên kết cơ bản: - Phép quy chiếu. - Phép tỉnh lược.
- Phép liên kết từ vựng. Trong đó, phép liên kết từ vựng gồm ba phép nhỏ: Lặp từ ngữ dùng từ đồng nghĩa, gần nghĩa và trái nghĩa, phối hợp từ ngữ. Diệp Quang Ban cho rằng: “Lựa chọn những từ ngữ có quan hệ như thế nào đó với những từ ngữ đã có trước, và trên cơ sở đó làm cho câu chứa từ ngữ có trước với câu chứa từ ngữ mới được chọn này liên kết với nhau”.386] Trong đó, phép từ ngữ là: “Việc sử dụng trong câu những từ ngữ đã được dùng ở câu trước theo kiểu nhắc lại y nguyên như vốn có, trên cơ sở đó liên kết những câu chứa đựng chúng với nhau”. 386] 10 Trong cuốn giáo trình này, Diệp Quang Ban đã xác định mối quan hệ giữa từ ngữ được lặp (vốn có trước) với những từ ngữ dùng để lặp (vốn có sau) với những từ ngữ dùng để lặp (xuất hiện sau) theo hai hướng: - Đồng nhất trong quy chiếu.
- Không đồng nhất trong quy chiếu. Từ góc nhìn của bộ môn Phong cách học, chúng tôi quan niệm: Phép điệp ngữ là một biện pháp tu từ nghệ thuật, trong đó tác giả có thể lặp lại về ngữ âm, từ vựng, cấu trúc ngữ pháp với một dụng ý cụ thể nhằm tăng tính biểu cảm cho đoạn văn, bài thơ. Nhận diện phép điệp ngữ trong tiếng Việt 1. Phương thức cấu tạo của phép điệp ngữ * Điệp ngữ âm Các phương tiện ngữ âm như âm tiết, âm vị là những đơn vị mang tính một mặt, nó khác với những đơn vị mang tính hai mặt như hình vị, từ, câu,.
Điệp ngữ âm là vỏ âm thanh hay là cơ sở vật chất của ngôn ngữ để biểu đạt ý nghĩa nào đó. Tuy vậy, thực tế hình thức của âm thanh và nội dung ý nghĩa là hai mặt luôn đi song hành với nhau, có mối quan hệ biện chứng luôn dựa vào nhau để cùng tồn tại. Trong đó hình thức âm thanh được gọi là cái biểu đạt, cái phản ánh nội dung. Các phương tiện ngữ âm thường được sử dụng làm chất liệu quan trọng trong ngôn ngữ thơ văn để biểu đạt cảm xúc, hình tượng, hay tình cảm.
Nếu như sử dụng khéo léo những phương tiện ngữ âm sẽ đem đến những hiệu quả tu từ rất lớn. Như vậy, điệp ngữ âm được sử dụng bằng cách lặp lại nhiều yếu tố hay một yếu tố ngữ âm nhất định, có thể là vần, phụ âm đầu, thanh để tạo nên sự cộng hưởng, giao hòa về ý nghĩa. Điệp ngữ âm có tác dụng nhấn mạnh, tô đậm thêm cảm xúc, gợi ra sự liên tưởng, tính hình tượng, làm cho câu thơ lời văn thêm tính nhạc, hiệu quả này được thấy rõ nét nhất là trong thơ ca. - Điệp phụ âm đầu Điệp phụ âm đầu là cách mà người sử dụng lặp lại phụ âm đầu, mục 11 đích nhằm tăng tính diễn cảm, tạo nên âm hưởng và tạo hình để tạo ra sự trùng điệp về âm hưởng cho câu văn, câu thơ.
Điệp phụ âm đầu là một hình thức của điệp ngữ, trong đó người sử dụng thay thế một phụ âm đầu của một từ hoặc cụm từ để làm dịu hoặc tránh những từ ngữ trực tiếp. Thông qua việc thay đổi phụ âm đầu, người sử dụng có thể tạo ra một cách diễn đạt tế nhị hơn trong giao tiếp. Hình thức điệp phụ âm đầu có tác dụng to lớn trong diễn đạt, khi được chọn làm phương tiện biểu đạt có thể gợi đến những liên tưởng đa dạng như. Ví dụ: (2) Nỗi niềm chi rứa Huế ơi Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên (Tố Hữu) Hai câu thơ trên đã nói lên tâm trạng của tác giả về mưa xứ Huế, mưa kéo dài thêm khi tác giả sử dụng liên tiếp các điệp phụ âm đầu: nỗi niềm; Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên.
- Điệp vần Điệp vần được sử dụng bằng việc lặp lại những âm tiết có phần giống nhau, mục đích tạo ra sự trùng điệp, tăng tính hiệu quả trong câu thơ. Hình thức điệp vần rất đa dạng và được sử dụng rộng rãi nhất trong thơ ca, tiếp đến là trong ca dao, thành ngữ, tục ngữ, thậm chí là được sử dụng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày và trong văn xuôi. Ví dụ: (3) Lá bàng đang đỏ ngọn cây Sến giang mang lạnh đang bay ngang trời (Tố Hữu) Cách điệp vần “ang” trong câu thơ trên đã thêm sức cộng hưởng, lan tỏa hình ảnh khung cảnh trời đất bao la, vô cùng, vô tận. Trong sáng tác văn học cũng như trong giao tiếp của cuộc sống hàng ngày, nếu như chúng ta biết vận dụng hình thức điệp vần một cách linh hoạt sẽ đưa đến hiệu quả là làm cho lời ăn tiếng nói, câu thơ, đoạn văn thêm tính 12 nhạc, uyển chuyển, nhịp nhàng và luôn có tính kết nối liên tục giúp người nghe, người đọc cảm nhận được sự sinh động, dễ nhớ, đồng thời còn làm tăng thêm giá trị biểu đạt, tình cảm tư tưởng của con người.
- Điệp thanh điệu Trong Điệp thanh, người ta sử dụng lặp lại một hoặc nhiều lần các thanh điệu cùng nhóm, thành bằng, hoặc thanh trắc. Đây là biện pháp tu từ ngữ âm, mục đích nhằm tăng tính nhạc cho câu thơ, tạo ra sự cộng hưởng về ý nghĩa.