Luận án tiến sĩ về truyện ngắn Việt Nam sau 1975 từ góc độ thể loại

Luận án tiến sĩ nghiên cứu truyện ngắn việt nam sau 1975 nhìn từ góc độ thể loại, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

188
24
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975

2. CHƯƠNG 2: TÌNH HUỐNG VÀ KẾT CẤU TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975

3. CHƯƠNG 3: NHÂN VẬT TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975

4. CHƯƠNG 4: NGÔN NGỮ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Nghiên cứu về truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình và công chúng. Các công trình nghiên cứu có thể được phân chia thành bốn nhóm chính. Nhóm đầu tiên là các công trình lý luận về thể loại truyện ngắn. Nhóm thứ hai bao gồm các khảo sát tổng quát về văn học Việt Nam trong giai đoạn này. Nhóm thứ ba tập trung vào các vấn đề cụ thể như tác giả, chủ đề và khuynh hướng. Cuối cùng, nhóm thứ tư là các bài viết phân tích các tác phẩm cụ thể. Những nghiên cứu này không chỉ giúp làm rõ đặc điểm của truyện ngắn mà còn phản ánh sự phát triển của văn học hiện đại Việt Nam.

1.1. Nhóm công trình lý luận

Các công trình lý luận về truyện ngắn đã đề cập đến những khó khăn trong việc định nghĩa thể loại này. M. Bakhtin đã chỉ ra rằng việc xác định một dấu hiệu thể loại chính xác là rất khó khăn. Nhiều định nghĩa đã được đưa ra, nhưng không có một định nghĩa nào có thể bao quát hết mọi trường hợp. Truyện ngắn được coi là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, thường mô tả một mảnh của cuộc sống. Các nhà lý luận đã phân tích truyện ngắn từ nhiều góc độ khác nhau, từ ngôn ngữ học đến thi pháp học, nhằm làm rõ những đặc điểm riêng của thể loại này.

1.2. Nhóm khảo sát tổng quát

Nhóm công trình khảo sát tổng quát về truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đã cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển của thể loại này. Các tác giả đã chỉ ra rằng truyện ngắn không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn thể hiện những biến chuyển trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn. Những tác phẩm tiêu biểu đã được phân tích để làm nổi bật những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn trong bối cảnh văn học đương đại. Sự đa dạng trong phong cách và chủ đề của truyện ngắn đã cho thấy sự phong phú của văn học Việt Nam trong giai đoạn này.

1.3. Nhóm nghiên cứu vấn đề cụ thể

Nhóm nghiên cứu này tập trung vào các tác giả và nhóm tác giả tiêu biểu trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiều tác phẩm đã tạo nên dấu ấn mạnh mẽ trong lòng độc giả và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thể loại. Những tác phẩm này không chỉ thể hiện sự đổi mới trong cách tiếp cận nhân vật và cốt truyện mà còn phản ánh những vấn đề xã hội nóng bỏng của thời đại. Sự giao thoa giữa các thể loại cũng được đề cập, cho thấy sự tương tác giữa truyện ngắn và các thể loại khác trong văn học Việt Nam.

1.4. Nhóm bài viết phân tích tác phẩm cụ thể

Nhóm bài viết này tập trung vào việc phân tích các tác phẩm cụ thể trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng mỗi tác phẩm đều mang trong mình những đặc điểm riêng, phản ánh tâm tư, tình cảm và những vấn đề xã hội của con người trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Những phân tích này không chỉ giúp làm rõ giá trị nghệ thuật của từng tác phẩm mà còn góp phần vào việc hiểu rõ hơn về sự phát triển của thể loại truyện ngắn trong văn học hiện đại.

II. Đặc điểm thi pháp của truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Đặc điểm thi pháp của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 thể hiện sự đa dạng và phong phú trong cách xây dựng nhân vật, cốt truyện và ngôn ngữ. Các nhà văn đã không ngừng tìm tòi, sáng tạo để làm mới thể loại này. Sự co giãn về dung lượng tác phẩm cho phép các tác giả tự do thể hiện ý tưởng và cảm xúc của mình. Nội dung truyện ngắn thường tập trung vào những vấn đề xã hội, tâm lý con người trong bối cảnh lịch sử mới. Điều này đã tạo nên một bức tranh đa chiều về cuộc sống và con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.

2.1. Sự co giãn về dung lượng

Sự co giãn về dung lượng trong truyện ngắn cho phép các tác giả linh hoạt trong việc lựa chọn hình thức và nội dung. Một số tác phẩm có dung lượng ngắn gọn, súc tích, trong khi những tác phẩm khác lại có chiều sâu và phức tạp hơn. Điều này không chỉ giúp tác giả thể hiện ý tưởng một cách rõ ràng mà còn tạo điều kiện cho độc giả tiếp cận và cảm nhận tác phẩm một cách dễ dàng. Sự đa dạng này đã làm phong phú thêm cho thể loại truyện ngắn trong văn học Việt Nam.

2.2. Tình huống và kết cấu

Tình huống trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 thường được xây dựng dựa trên những vấn đề xã hội và tâm lý con người. Các nhà văn đã khéo léo tạo ra những tình huống bất ngờ, gây cấn để thu hút sự chú ý của độc giả. Kết cấu của tác phẩm cũng rất đa dạng, từ những câu chuyện tuyến tính đến những câu chuyện phi tuyến tính, tạo nên sự mới mẻ và hấp dẫn. Điều này cho thấy sự sáng tạo không ngừng của các tác giả trong việc xây dựng truyện ngắn.

2.3. Nhân vật và ngôn ngữ

Nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 thường được xây dựng với chiều sâu tâm lý, phản ánh những xung đột nội tâm và những vấn đề xã hội. Ngôn ngữ được sử dụng trong các tác phẩm này cũng rất phong phú, từ ngôn ngữ đời thường đến ngôn ngữ nghệ thuật, tạo nên sự sinh động và hấp dẫn cho câu chuyện. Sự kết hợp giữa nhân vật và ngôn ngữ đã tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, góp phần làm phong phú thêm cho văn học Việt Nam.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, quá trình đổi mới tƣ duy, quan niệm thẩm mỹ và thi pháp thể loại trong truyện ngắn, không cần đợi đến năm 1986, mà đã bắt đầu và xác lập đƣợc một số thành tựu ngay sau năm 1975, tiêu biểu là nhiều sáng tác quan trọng của Nguyễn Minh Châu. Luận án của chúng tôi, bên cạnh việc lấy năm 1975 làm lát cắt cho việc phân kỳ quá trình phát triển của thể loại – cũng tức là nới rộng đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, sẽ có những cách thức triển khai, lựa chọn tƣ liệu và kiến giải vấn đề của mình, để vừa kế thừa những kết quả nghiên cứu của công trình kể trên, vừa góp phần tạo nên một cái nhìn khái quát về đối tƣợng nghiên cứu từ góc độ thể loại. Nghiên cứu các hệ vấn đề trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Bên cạnh các công trình nghiên cứu tổng quan về truyện ngắn Việt Nam sau 1975 để đánh giá thành tựu, lý giải các tiền đề, nguyên nhân của sự phát triển, phân chia các khuynh hƣớng, kiểu loại, các chặng đƣờng phát triển và giới thiệu những tên tuổi tiêu biểu cho thể loại trong giai đoạn này nhƣ chúng tôi vừa kể trên, đã có những công trình đi vào tìm hiểu một khía cạnh, một phƣơng diện, một vấn đề cụ thể nào đó của truyện ngắn sau 1975. Có thể kể đến những công trình nghiên cứu thành tựu và phong cách của các tác giả hay nhóm tác giả tiêu biểu; nghiên cứu các đề tài, chủ đề, khuynh hƣớng cảm hứng của truyện ngắn giai đoạn này; nghiên cứu thành tựu đổi mới nghệ thuật truyện ngắn giai đoạn này; nghiên cứu các kiểu truyện ngắn cụ thể; và nghiên cứu sự tƣơng tác của truyện ngắn với các thể loại khác trong giai đoạn này.

Nghiên cứu thành tựu và phong cách của các tác giả, nhóm tác giả tiêu biểu Sự phát triển mạnh mẽ của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 là thành quả của một đội ngũ hùng hậu các nhà văn ở nhiều thế hệ, nhiều vùng miền, đa dạng về phong cách, bút pháp. Trong đội ngũ đó, có những tác giả mà sáng tác của họ đặt ra những vấn đề tiêu biểu cho sự vận động của thể loại trong giai đoạn này. Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã đi sâu tìm hiểu quan điểm sáng tác, thế giới nghệ thuật và phong cách của những tác giả tiêu biểu đó. Các nhà văn từ Nguyễn Minh Châu, Đỗ Chu, Ma Văn Kháng, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Y Ban, Võ Thị Hảo, Trần Thùy Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Sƣơng Nguyệt Minh đến Nguyễn Ngọc Tƣ, Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa… cùng với thành tựu truyện ngắn của mình, đều đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều chuyên luận, bài viết, luận án, luận văn.

Đặc biệt, trong số đó, Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp là những tác giả từng thu hút sự chú ý đặc biệt của công chúng và giới nghiên cứu, phê bình. Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 đã tạo nên một cuộc thảo luận sôi nổi với nhiều ý kiến đa dạng, phức tạp. Tôn Phƣơng Lan, Lại Nguyên Ân khi biên soạn cuốn Nguyễn Minh Châu – con người và tác phẩm đã nhận xét: “Các truyện ngắn từ đầu những năm 80 dƣờng nhƣ trình diện một Nguyễn Minh Châu khác trƣớc. Những sáng tác này lại trở thành một trong những tiêu điểm chú ý của dƣ luận.

Bắt đầu xuất hiện những cách hiểu khác nhau. Ấy là chƣa kể đến loại dƣ luận không thành văn” [78, tr. Theo thống kê của Tôn Phƣơng Lan, từ 1976 đến 1991 có tới 82 bài viết bàn về Nguyễn Minh Châu đƣợc đăng tải trên các báo, tạp chí, trong đó phần lớn là các bài viết về truyện ngắn của ông. Năm 1999, một chuyên luận công phu của Tôn Phƣơng Lan ra đời mang tên Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu.

Năm 2001, Mai Hƣơng tuyển chọn và biên soạn 59 bài viết trong sách Nguyễn Minh Châu tài năng và sáng tạo nghệ thuật, trong đó bộ phận truyện ngắn sau 1975 của ông đƣợc bàn luận, nghiên cứu từ nhiều góc độ. Các phƣơng diện cụ thể về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nhƣ quan niệm nghệ thuật về con ngƣời, thế giới nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, tình huống truyện… cũng đƣợc nhiều 22 z luận văn lựa chọn làm đối tƣợng nghiên cứu. Bên cạnh Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp với hàng loạt truyện ngắn bắt đầu xuất hiện vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX cũng là một hiện tƣợng văn học phức tạp, gây xôn xao dƣ luận và tốn không ít giấy mực của các nhà nghiên cứu, phê bình. Giáo trình Văn học Việt Nam sau 1975 của Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: “Từ khoảng giữa năm 1987 đến 1989 đã có khoảng 70 bài viết về sáng tác của nhà văn này.

Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đƣợc dịch ra tiếng Anh, Pháp và nhiều hơn cả là ở các nƣớc châu Âu” [81, tr. Những vấn đề đặt ra trong các truyện ngắn của nhà văn tài năng và phức tạp này tạo ra những luồng dƣ luận rất đa dạng, thậm chí nhiều ý kiến trái chiều nhau, cả ngợi ca suy tôn lẫn phê phán đều rất mạnh mẽ. Cuốn sách Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp (2001) do Phạm Xuân Nguyên sƣu tầm, biên soạn, với 54 bài viết của giới nghiên cứu, phê bình, sáng tác trong và ngoài nƣớc, đã cho thấy sức nóng, sức hấp dẫn của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đối với văn đàn lúc bấy giờ. Và cho đến nay, truyện ngắn của ông vẫn tiếp tục là đối tƣợng khảo sát, nghiên cứu của những ngƣời quan tâm đến văn học đƣơng đại Việt Nam, và đến thể loại này.

Hai tác giả Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp cũng đƣợc các giáo trình, các công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam sau 1975 giới thiệu đến ngƣời học và công chúng nhƣ là hai đại diện tiêu biểu hàng đầu trong thể loại truyện ngắn nói riêng, văn học nói chung giai đoạn này. Cùng với những công trình nghiên cứu chuyên sâu về các tác giả tiêu biểu, còn có nhiều công trình đi vào khảo sát, phân tích các nhóm tác giả truyện ngắn quan trọng theo những tiêu chí lựa chọn nhất định. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Bích đi vào nghiên cứu Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng). Theo tác giả luận án, ba nhà văn đƣợc lựa chọn là “những đại biểu tinh anh của phong trào đổi mới văn học sau 1975.

Họ là những cây bút trƣởng thành trong chiến tranh và trở về từ chiến tranh nhƣng trong bối cảnh đổi mới, họ vẫn là những tác giả có nhiều bạn đọc” [20, tr. Lựa chọn hƣớng tiếp cận từ tự sự học, luận án đã phân 23 z tích đặc điểm sáng tác của ba tác giả này trên các phƣơng diện: ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật, để thấy đƣợc sự chuyển động của thể loại truyện ngắn trong hành trình của các nhà văn tiêu biểu thế hệ “3X”. Thành tựu, hạn chế, những đặc điểm trong sáng tác của một loạt nhà văn nữ cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình. Cuối năm 1996, Phƣơng Lựu thuật lại: “Chỉ trong mấy tháng cuối năm 92 đầu 93, nhà phê bình Nguyễn Văn Lƣu đã liên tiếp viết về sáng tác của Nguyễn Thị Ấm, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ v.v… Rồi Tạp chí Văn học số 6 năm nay đã công bố nội dung buổi tọa đàm Phụ nữ và sáng tác văn chương của một số nhà phê bình nhƣ Văn Tâm, Vƣơng Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Phạm Xuân Nguyên, với một số nhà thơ nhà văn nhƣ Ngô Thế Oanh, Đặng Minh Châu, trong đó có cả các cây bút nữ, phê bình lẫn sáng tác: Đặng Anh Đào, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo v.

Bích Thu viết về Văn xuôi của phái đẹp trên Tạp chí Sông Hương, số 3 – 2001. Rất nhiều tuyển tập truyện ngắn của các nhà văn nữ đã ra đời. Bùi Việt Thắng tuyển chọn, biên soạn nhiều tuyển tập truyện ngắn của các tác giả nữ nhƣ Truyện ngắn bốn cây bút nữ, Mùa thu vàng rực rỡ, Có một thời yêu, và ở mỗi tuyển tập, ông đều có những bài giới thiệu khái quát về thành tựu, đặc điểm của truyện ngắn các nhà văn nữ. Theo ông, “Thực tiễn văn học, đặc biệt trong lĩnh vực truyện ngắn, những cây bút nữ đã góp phần quan trọng làm cho văn đàn sôi nóng lên, hấp dẫn hơn nhờ vào sự đa hƣơng sắc của tác phẩm”.

Gần đây, lý thuyết Nữ quyền đƣợc nhiều nhà nghiên cứu, phê bình từng bƣớc áp dụng để tìm hiểu truyện ngắn của các nhà văn nữ. Cuối năm 2012, Viện Văn học tổ chức tọa đàm Văn xuôi nữ trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại. Gần 30 tham luận của tọa đàm đã đề cập và phân tích một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn sáng tác của các cây bút nữ trong văn học đƣơng đại, trong đó có bộ phận quan trọng là truyện ngắn. Bên cạnh việc khẳng định đóng góp của các nhà văn nữ vào đời sống văn học, một số tham luận đã đề cập đến “vấn đề nữ quyền”, đề xuất việc áp dụng lý thuyết nữ quyền trong nghiên cứu bộ phận sáng tác này.

24 z Một số công trình đã nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn của một nhóm tác giả theo địa bàn, khu vực. Trần Mạnh Hùng trong luận án Khảo sát đặc điểm truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến nay đã phác thảo khái quát đội ngũ tác giả truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long, sự vận động của truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến nay, sau đó khảo sát những đặc điểm của bộ phận truyện ngắn này trên hai phƣơng diện: cảm hứng và một số phƣơng diện nghệ thuật. Sáng tác của các nhà văn hải ngoại cũng bƣớc đầu đƣợc chú ý. Nhà xuất bản Phụ nữ giới thiệu 25 truyện ngắn của 21 tác giả nữ trong tuyển tập Khung trời bỏ lại với thiện ý “Mặc dù còn xa cách nhƣng cố gắng tạo nên một cuộc gặp gỡ, một sự giao lƣu thân tình giữa bạn đọc, bạn viết trong nƣớc với chị em cầm bút đang sống ở nƣớc ngoài”, tập truyện đã đƣợc đề cập đến trong sách Truyện ngắn Việt Nam, Lịch sử - Thi pháp – Chân dung cùng với sáng tác truyện ngắn của một loạt cây bút hải ngoại khác cho thấy đóng góp của các nhà văn đang ở nƣớc ngoài vào sự phát triển chung của thể loại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về truyện ngắn Việt Nam sau 1975 từ góc độ thể loại" của tác giả Nguyễn Thị Năm Hoàng, dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Văn Lân và TS. Hà Văn Đức, được thực hiện tại Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2016. Bài viết tập trung vào việc phân tích thể loại truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975, khám phá những đặc điểm nổi bật và sự phát triển của thể loại này trong bối cảnh văn học hiện đại. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách mà các tác giả đã thể hiện tư tưởng, cảm xúc và phong cách nghệ thuật qua các tác phẩm truyện ngắn, từ đó mở rộng hiểu biết về văn học Việt Nam đương đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Khám Phá Đặc Điểm Thi Pháp Trong Truyện Ngắn Của Nguyễn Quang Sáng", nơi phân tích sâu sắc về thi pháp trong truyện ngắn của một tác giả nổi bật. Ngoài ra, bài viết "Đóng Góp Của Văn Xuôi Tự Lực Văn Đoàn Từ Góc Nhìn Thể Loại" cũng sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về sự phát triển của văn học Việt Nam qua các thể loại khác nhau. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Khám Phá Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Của Võ Hồng", một nghiên cứu về nghệ thuật trong truyện ngắn của một tác giả quan trọng trong văn học Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về thể loại truyện ngắn và sự phát triển của nó trong văn học Việt Nam.