phần Mở đầu, quá trình đổi mới tƣ duy, quan niệm thẩm mỹ và thi pháp thể loại trong truyện ngắn, không cần đợi đến năm 1986, mà đã bắt đầu và xác lập đƣợc một số thành tựu ngay sau năm 1975, tiêu biểu là nhiều sáng tác quan trọng của Nguyễn Minh Châu. Luận án của chúng tôi, bên cạnh việc lấy năm 1975 làm lát cắt cho việc phân kỳ quá trình phát triển của thể loại – cũng tức là nới rộng đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, sẽ có những cách thức triển khai, lựa chọn tƣ liệu và kiến giải vấn đề của mình, để vừa kế thừa những kết quả nghiên cứu của công trình kể trên, vừa góp phần tạo nên một cái nhìn khái quát về đối tƣợng nghiên cứu từ góc độ thể loại. Nghiên cứu các hệ vấn đề trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Bên cạnh các công trình nghiên cứu tổng quan về truyện ngắn Việt Nam sau 1975 để đánh giá thành tựu, lý giải các tiền đề, nguyên nhân của sự phát triển, phân chia các khuynh hƣớng, kiểu loại, các chặng đƣờng phát triển và giới thiệu những tên tuổi tiêu biểu cho thể loại trong giai đoạn này nhƣ chúng tôi vừa kể trên, đã có những công trình đi vào tìm hiểu một khía cạnh, một phƣơng diện, một vấn đề cụ thể nào đó của truyện ngắn sau 1975. Có thể kể đến những công trình nghiên cứu thành tựu và phong cách của các tác giả hay nhóm tác giả tiêu biểu; nghiên cứu các đề tài, chủ đề, khuynh hƣớng cảm hứng của truyện ngắn giai đoạn này; nghiên cứu thành tựu đổi mới nghệ thuật truyện ngắn giai đoạn này; nghiên cứu các kiểu truyện ngắn cụ thể; và nghiên cứu sự tƣơng tác của truyện ngắn với các thể loại khác trong giai đoạn này.
Nghiên cứu thành tựu và phong cách của các tác giả, nhóm tác giả tiêu biểu Sự phát triển mạnh mẽ của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 là thành quả của một đội ngũ hùng hậu các nhà văn ở nhiều thế hệ, nhiều vùng miền, đa dạng về phong cách, bút pháp. Trong đội ngũ đó, có những tác giả mà sáng tác của họ đặt ra những vấn đề tiêu biểu cho sự vận động của thể loại trong giai đoạn này. Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã đi sâu tìm hiểu quan điểm sáng tác, thế giới nghệ thuật và phong cách của những tác giả tiêu biểu đó. Các nhà văn từ Nguyễn Minh Châu, Đỗ Chu, Ma Văn Kháng, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Y Ban, Võ Thị Hảo, Trần Thùy Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Sƣơng Nguyệt Minh đến Nguyễn Ngọc Tƣ, Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa… cùng với thành tựu truyện ngắn của mình, đều đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều chuyên luận, bài viết, luận án, luận văn.
Đặc biệt, trong số đó, Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp là những tác giả từng thu hút sự chú ý đặc biệt của công chúng và giới nghiên cứu, phê bình. Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 đã tạo nên một cuộc thảo luận sôi nổi với nhiều ý kiến đa dạng, phức tạp. Tôn Phƣơng Lan, Lại Nguyên Ân khi biên soạn cuốn Nguyễn Minh Châu – con người và tác phẩm đã nhận xét: “Các truyện ngắn từ đầu những năm 80 dƣờng nhƣ trình diện một Nguyễn Minh Châu khác trƣớc. Những sáng tác này lại trở thành một trong những tiêu điểm chú ý của dƣ luận.
Bắt đầu xuất hiện những cách hiểu khác nhau. Ấy là chƣa kể đến loại dƣ luận không thành văn” [78, tr. Theo thống kê của Tôn Phƣơng Lan, từ 1976 đến 1991 có tới 82 bài viết bàn về Nguyễn Minh Châu đƣợc đăng tải trên các báo, tạp chí, trong đó phần lớn là các bài viết về truyện ngắn của ông. Năm 1999, một chuyên luận công phu của Tôn Phƣơng Lan ra đời mang tên Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu.
Năm 2001, Mai Hƣơng tuyển chọn và biên soạn 59 bài viết trong sách Nguyễn Minh Châu tài năng và sáng tạo nghệ thuật, trong đó bộ phận truyện ngắn sau 1975 của ông đƣợc bàn luận, nghiên cứu từ nhiều góc độ. Các phƣơng diện cụ thể về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nhƣ quan niệm nghệ thuật về con ngƣời, thế giới nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, tình huống truyện… cũng đƣợc nhiều 22 z luận văn lựa chọn làm đối tƣợng nghiên cứu. Bên cạnh Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp với hàng loạt truyện ngắn bắt đầu xuất hiện vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX cũng là một hiện tƣợng văn học phức tạp, gây xôn xao dƣ luận và tốn không ít giấy mực của các nhà nghiên cứu, phê bình. Giáo trình Văn học Việt Nam sau 1975 của Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: “Từ khoảng giữa năm 1987 đến 1989 đã có khoảng 70 bài viết về sáng tác của nhà văn này.
Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đƣợc dịch ra tiếng Anh, Pháp và nhiều hơn cả là ở các nƣớc châu Âu” [81, tr. Những vấn đề đặt ra trong các truyện ngắn của nhà văn tài năng và phức tạp này tạo ra những luồng dƣ luận rất đa dạng, thậm chí nhiều ý kiến trái chiều nhau, cả ngợi ca suy tôn lẫn phê phán đều rất mạnh mẽ. Cuốn sách Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp (2001) do Phạm Xuân Nguyên sƣu tầm, biên soạn, với 54 bài viết của giới nghiên cứu, phê bình, sáng tác trong và ngoài nƣớc, đã cho thấy sức nóng, sức hấp dẫn của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đối với văn đàn lúc bấy giờ. Và cho đến nay, truyện ngắn của ông vẫn tiếp tục là đối tƣợng khảo sát, nghiên cứu của những ngƣời quan tâm đến văn học đƣơng đại Việt Nam, và đến thể loại này.
Hai tác giả Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp cũng đƣợc các giáo trình, các công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam sau 1975 giới thiệu đến ngƣời học và công chúng nhƣ là hai đại diện tiêu biểu hàng đầu trong thể loại truyện ngắn nói riêng, văn học nói chung giai đoạn này. Cùng với những công trình nghiên cứu chuyên sâu về các tác giả tiêu biểu, còn có nhiều công trình đi vào khảo sát, phân tích các nhóm tác giả truyện ngắn quan trọng theo những tiêu chí lựa chọn nhất định. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Bích đi vào nghiên cứu Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng). Theo tác giả luận án, ba nhà văn đƣợc lựa chọn là “những đại biểu tinh anh của phong trào đổi mới văn học sau 1975.
Họ là những cây bút trƣởng thành trong chiến tranh và trở về từ chiến tranh nhƣng trong bối cảnh đổi mới, họ vẫn là những tác giả có nhiều bạn đọc” [20, tr. Lựa chọn hƣớng tiếp cận từ tự sự học, luận án đã phân 23 z tích đặc điểm sáng tác của ba tác giả này trên các phƣơng diện: ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật, để thấy đƣợc sự chuyển động của thể loại truyện ngắn trong hành trình của các nhà văn tiêu biểu thế hệ “3X”. Thành tựu, hạn chế, những đặc điểm trong sáng tác của một loạt nhà văn nữ cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình. Cuối năm 1996, Phƣơng Lựu thuật lại: “Chỉ trong mấy tháng cuối năm 92 đầu 93, nhà phê bình Nguyễn Văn Lƣu đã liên tiếp viết về sáng tác của Nguyễn Thị Ấm, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ v.v… Rồi Tạp chí Văn học số 6 năm nay đã công bố nội dung buổi tọa đàm Phụ nữ và sáng tác văn chương của một số nhà phê bình nhƣ Văn Tâm, Vƣơng Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Phạm Xuân Nguyên, với một số nhà thơ nhà văn nhƣ Ngô Thế Oanh, Đặng Minh Châu, trong đó có cả các cây bút nữ, phê bình lẫn sáng tác: Đặng Anh Đào, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo v.
Bích Thu viết về Văn xuôi của phái đẹp trên Tạp chí Sông Hương, số 3 – 2001. Rất nhiều tuyển tập truyện ngắn của các nhà văn nữ đã ra đời. Bùi Việt Thắng tuyển chọn, biên soạn nhiều tuyển tập truyện ngắn của các tác giả nữ nhƣ Truyện ngắn bốn cây bút nữ, Mùa thu vàng rực rỡ, Có một thời yêu, và ở mỗi tuyển tập, ông đều có những bài giới thiệu khái quát về thành tựu, đặc điểm của truyện ngắn các nhà văn nữ. Theo ông, “Thực tiễn văn học, đặc biệt trong lĩnh vực truyện ngắn, những cây bút nữ đã góp phần quan trọng làm cho văn đàn sôi nóng lên, hấp dẫn hơn nhờ vào sự đa hƣơng sắc của tác phẩm”.
Gần đây, lý thuyết Nữ quyền đƣợc nhiều nhà nghiên cứu, phê bình từng bƣớc áp dụng để tìm hiểu truyện ngắn của các nhà văn nữ. Cuối năm 2012, Viện Văn học tổ chức tọa đàm Văn xuôi nữ trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại. Gần 30 tham luận của tọa đàm đã đề cập và phân tích một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn sáng tác của các cây bút nữ trong văn học đƣơng đại, trong đó có bộ phận quan trọng là truyện ngắn. Bên cạnh việc khẳng định đóng góp của các nhà văn nữ vào đời sống văn học, một số tham luận đã đề cập đến “vấn đề nữ quyền”, đề xuất việc áp dụng lý thuyết nữ quyền trong nghiên cứu bộ phận sáng tác này.
24 z Một số công trình đã nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn của một nhóm tác giả theo địa bàn, khu vực. Trần Mạnh Hùng trong luận án Khảo sát đặc điểm truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến nay đã phác thảo khái quát đội ngũ tác giả truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long, sự vận động của truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến nay, sau đó khảo sát những đặc điểm của bộ phận truyện ngắn này trên hai phƣơng diện: cảm hứng và một số phƣơng diện nghệ thuật. Sáng tác của các nhà văn hải ngoại cũng bƣớc đầu đƣợc chú ý. Nhà xuất bản Phụ nữ giới thiệu 25 truyện ngắn của 21 tác giả nữ trong tuyển tập Khung trời bỏ lại với thiện ý “Mặc dù còn xa cách nhƣng cố gắng tạo nên một cuộc gặp gỡ, một sự giao lƣu thân tình giữa bạn đọc, bạn viết trong nƣớc với chị em cầm bút đang sống ở nƣớc ngoài”, tập truyện đã đƣợc đề cập đến trong sách Truyện ngắn Việt Nam, Lịch sử - Thi pháp – Chân dung cùng với sáng tác truyện ngắn của một loạt cây bút hải ngoại khác cho thấy đóng góp của các nhà văn đang ở nƣớc ngoài vào sự phát triển chung của thể loại.