Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tô Hoài là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam với sức sáng tạo dồi dào, bền bỉ và đa dạng, để lại khối lượng tác phẩm đồ sộ với hơn 200 đầu sách thuộc nhiều đề tài và thể loại khác nhau. Trong toàn bộ sự nghiệp của ông, hồi ký là thể văn sở trường, in đậm cảm quan nghệ thuật và công phu chữ nghĩa. Nghiên cứu văn chương của Tô Hoài đòi hỏi việc tiếp cận thể loại hồi ký như một đối tượng trọng tâm, trong đó trần thuật là phương thức đặc trưng và ngôn ngữ trần thuật giữ vai trò chủ đạo.

Trước thời điểm luận án được thực hiện, các công trình khoa học khảo sát hồi ký Tô Hoài chủ yếu tiếp cận từ góc độ phê bình văn học hoặc chỉ dừng lại ở các nhận định khái quát, tản mạn về phong cách nghệ thuật, hoặc chỉ khảo sát trên phạm vi hẹp ở một hay hai tác phẩm cụ thể. Chưa có một công trình nào nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký Tô Hoài một cách độc lập, toàn diện và có hệ thống từ góc nhìn ngôn ngữ học. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống này, làm rõ sự đa dạng và tính phức điệu của ngôn từ trần thuật qua các chặng đường sáng tác hồi ký của tác giả.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:

  1. Qua khảo sát ngôn ngữ cụ thể (từ ngữ, câu) được Tô Hoài sử dụng trong ngôn ngữ trần thuật hồi ký, chỉ ra các đặc điểm về mặt sử dụng ngôn ngữ trên phương diện từ, câu của nhà văn.
  2. Góp phần làm rõ hơn đặc điểm ngôn ngữ của thể loại hồi ký.
  3. Góp phần chứng minh những đóng góp của Tô Hoài đối với sự phát triển từ vựng tiếng Việt thế kỷ XX.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án bao gồm:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về ký nói chung và hồi ký nói riêng; xác định cơ sở lý thuyết của đề tài, ngôn ngữ thể loại và các khái niệm liên quan.
  2. Khảo sát, thống kê, phân loại, miêu tả một số lớp từ, một số trường nghĩa đặc sắc trong lời văn trần thuật ở các tác phẩm hồi ký của Tô Hoài, thể hiện sự lựa chọn của tác giả và phân tích vai trò, hiệu quả của chúng.
  3. Khảo sát, miêu tả câu trên phương diện cấu tạo, chức năng cũng như các biện pháp tu từ cú pháp, từ đó phân tích hiệu quả của cách tổ chức cú pháp đó.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Ngôn ngữ trong lời trần thuật hồi ký Tô Hoài (bao gồm từ ngữ, câu và các biện pháp tu từ cú pháp nổi bật).
  • Phạm vi ngữ liệu khảo sát: 5 tác phẩm hồi ký tiêu biểu của Tô Hoài:
    1. Cỏ dại (1944)
    2. Tự truyện (1978)
    3. Những gương mặt (1988)
    4. Cát bụi chân ai (1992)
    5. Chiều chiều (1999)
  • Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn ở việc khảo sát từ ngữ và câu trong ngôn ngữ trần thuật hồi ký Tô Hoài từ góc nhìn ngôn ngữ học.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại

Luận án đã hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan theo các nhóm nội dung chính:

1. Nghiên cứu về ngôn ngữ trần thuật và lý luận tự sự

  • Trên thế giới: Các công trình lý thuyết nền tảng gồm Recent Theories of Narrative của Wallace Martin (1986); Introduction to the Structural Analysis of Narratives của Roland Barthes (1977); Narrative Discourse - New Narrative Discourse của G. Genette (1986) với việc phân biệt ba khái niệm truyện, tự sự và trần thuật dựa trên lý thuyết ngôn ngữ học của F. de Saussure; Narratology: Introduction to the Theory of Narrative của Mieke Bal (1985, 1997) nghiên cứu quan hệ giữa trạng thái thời gian, sự kiện và mô thức ngôn ngữ tự sự; Postmodern Narrative Theory của Mark Currie (1998); A Companion to Narrative Theory do James Phelan và Peter J. Rabinowitz chủ biên (2005). Các tác giả quốc tế tiếp cận ngôn ngữ trần thuật chủ yếu ở bình diện lý thuyết tự sự học đại cương.
  • Tại Việt Nam: Các công trình Dẫn luận thi pháp của Trần Đình Sử (1998); Tự sự học, một số vấn đề lý luận và lịch sử do Trần Đình Sử chủ biên (2004); Những vấn đề thi pháp truyện của Nguyễn Thái Hòa (2000); công trình của Lê Thị Tuyết Hạnh về thời gian nghệ thuật; Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại của Thái Phan Vàng Anh; Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 của Hoàng Dĩ Đình (2014).

2. Nghiên cứu về thể loại hồi ký

  • Nghiên cứu quốc tế: Các quan điểm từ thế kỷ XIX của V. G. Belinsky và N. G. Chernyshevsky về tính xác thực lịch sử và sự lựa chọn sự kiện có tính nghệ thuật; Ts. Volpe (Nghệ thuật của sự khác biệt, cuối thế kỷ XIX); các nhà nghiên cứu thế kỷ XX như Kuznetsov, M. Bilinkis, Levitsky, Petlyakov bàn về thể loại văn học hồi ký, mối quan hệ giữa hồi ký và tự truyện.
  • Nghiên cứu trong nước: Giáo trình Lý luận văn học của Phương Lựu; Lý luận văn học của Hà Minh Đức; Ký báo chí và ký văn học của Đức Dũng; Năm bài giảng về thể loại của Hoàng Ngọc Hiến; Ký và giảng dạy Ký của Hoàng Như Mai; cùng các định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên), 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân, Từ điển văn học (Đỗ Đức Hiểu chủ biên).

3. Nghiên cứu về phong cách nghệ thuật và hồi ký Tô Hoài

Luận án phân loại các nghiên cứu về Tô Hoài thành ba hướng chính:

  • Hướng 1: Nghiên cứu về phong cách nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật chung: Các công trình của Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Trần Hữu Tá, Trần Đình Nam, Phong Lê, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Đăng Điệp, Mai Thị Nhung. Các tác giả ghi nhận vốn từ phong phú, khả năng quan sát sắc sảo, chất dân gian nhuần nhuyễn trong văn phong Tô Hoài.
  • Hướng 2: Nghiên cứu từng tác phẩm hồi ký cụ thể: Bài viết, công trình của Vân Thanh, Võ Xuân Quế, Xuân Sách, Trần Đức Tiến, Nguyễn Văn Bổng, Nguyễn Văn Thọ, Trần Đình Thọ, Lê Thị Biên bàn về tính chân thực, điểm nhìn trần thuật cự ly gần trong Cát bụi chân ai, Chiều chiều.
  • Hướng 3: Nghiên cứu hồi ký Tô Hoài nói chung: Các bài viết của Đặng Tiến, Đoàn Thị Thúy Hạnh, Vương Trí Nhàn, Trương Thị Thu Huyền, Trần Thị Mai Phương, Lê Thị Thủy.

4. Nghiên cứu về ngôn ngữ hồi ký Tô Hoài

Các nhận xét của Phan Cự Đệ, Vân Thanh, Phong Lê khẳng định ngôn ngữ Tô Hoài gần gũi với khẩu ngữ nhân dân lao động, được nâng cao và nghệ thuật hóa. Về nghiên cứu chuyên biệt, có bài báo của Lê Thị Thủy về ngôn ngữ người kể chuyện và luận văn thạc sĩ của Trần Đình Thọ về ngôn ngữ trần thuật nhưng chỉ giới hạn khảo sát trong 2 tác phẩm (Cát bụi chân ai và Chiều chiều).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước phần lớn tiếp cận từ góc độ văn học sử, lý luận hoặc phê bình văn học, đưa ra những nhận định chung hoặc chỉ nghiên cứu đơn lẻ từng tác phẩm. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: tiến hành khảo sát định lượng kết hợp miêu tả định tính một cách hệ thống, toàn diện toàn bộ 5 tác phẩm hồi ký của Tô Hoài trên trục thời gian (1944–1999) từ bình diện ngôn ngữ học, tập trung vào hai cấp độ tổ chức ngôn từ là từ ngữ và câu trần thuật.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm cơ bản sau:

  • Khái niệm ngôn ngữ trần thuật: Ngôn ngữ trần thuật là ngôn ngữ của người kể chuyện dùng để xây dựng câu chuyện, bộc lộ ý thức tổ chức ngôn từ, cách lý giải đời sống và cá tính sáng tạo của tác giả. Luận án phân biệt ngôn ngữ trần thuật (lời người kể chuyện) với ngôn ngữ nhân vật (lời trực tiếp của nhân vật gồm đối thoại và độc thoại). Lời người kể chuyện bao gồm lời kể, lời tả và lời bình luận trữ tình ngoại đề.
  • Người kể chuyện trong hồi ký: Hồi ký là tác phẩm phi hư cấu mang tính xác thực, do đó người trần thuật chính là tác giả (xưng "tôi" hoặc không xưng "tôi"). Ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký Tô Hoài được tổ chức chủ yếu ở hai dạng: lời kể của chính tác giả và lời kể phi sở hữu (kể lại lời người khác nhưng không đổi vai kể).
  • Lý thuyết về từ và câu tiếng Việt:
    • Định nghĩa từ tiếng Việt dựa theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu: từ là đơn vị có sẵn, gồm một hoặc một số âm tiết (hình vị) cố định bất biến, mang ý nghĩa nhất định, là đơn vị lớn nhất trong hệ thống từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu. Khung phân loại từ loại dựa theo Đỗ Thị Kim Liên.
    • Phân biệt từ trong hệ thống ngôn ngữ (trạng thái tĩnh, trừu tượng) và từ trong văn bản nghệ thuật (hành chức cụ thể, giàu tính hình tượng, tính biểu cảm và có khả năng chuyển nghĩa).
    • Phân loại cấu tạo từ gồm từ đơn, từ ghép (phân nghĩa và hợp nghĩa), từ láy (hoàn toàn, bộ phận gồm láy âm và láy vần) theo Đỗ Hữu Châu.
    • Lý thuyết về câu xét theo cấu tạo (câu đơn, câu ghép), câu xét theo mục đích nói và các biện pháp tu từ cú pháp trong văn bản nghệ thuật.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chuyên ngành:

  1. Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phương pháp chủ đạo để phân tích cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ cảnh của từ ngữ, trường nghĩa, câu và các biện pháp tu từ cú pháp trong lời văn trần thuật.
  2. Phương pháp miêu tả: Dựa trên các dữ liệu ngữ liệu khảo sát để miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp và các nhân tố chi phối hoạt động chức năng của ngôn ngữ trần thuật.
  3. Thủ pháp thống kê phân loại: Khảo sát, thống kê tần số và tỷ lệ phần trăm của các lớp từ ngữ (theo cấu tạo, phong cách, trường nghĩa), các kiểu câu và biện pháp tu từ cú pháp trên ngữ liệu 5 tác phẩm hồi ký, làm cơ sở định lượng cho các nhận định.
  4. Thủ pháp so sánh: So sánh đặc điểm ngôn ngữ trần thuật của Tô Hoài với ngôn ngữ đời sống và với một số tác giả cùng thời nhằm làm nổi bật nét riêng trong phong cách của nhà văn.

Nguồn tư liệu

Toàn bộ ngữ liệu khảo sát được trích xuất trực tiếp từ 5 cuốn hồi ký của Tô Hoài: Cỏ dại (1944), Tự truyện (1978), Những gương mặt (1988), Cát bụi chân ai (1992), Chiều chiều (1999).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

Chương 1 tập trung hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về ngôn ngữ trần thuật, thể loại hồi ký và phong cách nghệ thuật Tô Hoài ở cả trong và ngoài nước. Tác giả luận án xác lập hệ thống khái niệm công cụ phục vụ nghiên cứu:

  • Phân tích ranh giới và mối quan hệ tương tác giữa ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm tự sự.
  • Xác định chức năng của người kể chuyện (chức năng trần thuật và chức năng kiểm soát). Trong hồi ký Tô Hoài, chủ thể trần thuật là tác giả ở ngôi thứ nhất ("tôi"), giữ vai trò dẫn dắt, bình luận, kết nối các sự kiện có thực trong quá khứ.
  • Luận giải đặc trưng thể loại ký và hồi ký: tính xác thực, tôn trọng sự thật khách quan, không hư cấu, kết hợp hài hòa giữa tài liệu lịch sử xã hội và hồi ức cá nhân.
  • Khẳng định ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký Tô Hoài là sự kết tinh giữa phương thức tự sự linh hoạt, vốn sống phong phú và ý thức vận dụng triệt để các tiềm năng của tiếng Việt.

Chương 2: Từ ngữ trong lời trần thuật hồi ký Tô Hoài

Chương 2 đi sâu phân tích đặc điểm từ ngữ trong lời trần thuật hồi ký Tô Hoài trên các bình diện cấu tạo, từ loại, phong cách và ngữ nghĩa thông qua các số liệu thống kê cụ thể.

1. Lớp từ đơn

Luận án thống kê được 871 từ đơn một tiếng (không tính một số từ đơn đa tiết phiên âm), phân chia theo 9 từ loại như sau:

TT Từ loại Số lượng Tỷ lệ phần trăm
1 Danh từ 315 36,1%
2 Động từ 236 27,0%
3 Tính từ 97 11,1%
4 Đại từ 71 8,1%
5 Số từ 52 5,9%
6 Trợ từ 36 4,1%
7 Quan hệ từ 25 2,8%
8 Tình thái từ 21 2,4%
9 Phụ từ 18 2,1%
Tổng 871 100%

Mặc dù danh từ chiếm tỷ lệ số lượng từ loại cao nhất (36,1%), nhưng về tần số xuất hiện, động từ chiếm tần số cao vượt trội với 3.906 lần xuất hiện (so với danh từ là 2.883 lần). Việc sử dụng nhiều động từ đơn tiết liên tiếp giúp câu văn trần thuật chứa đựng lượng thông tin lớn, tái hiện sinh động hoạt động của con người và bối cảnh xã hội.

  • Đại từ "tôi" có tần số xuất hiện đặc biệt cao: 8.353 lần, phản ánh đặc trưng của thể loại hồi ký nơi tác giả trực tiếp giữ vai trò nhân vật trần thuật.
  • Lớp tình thái từ (ô, ầy, ôi, quá, lắm...) xuất hiện 342 lần, thể hiện cảm xúc, thái độ trực tiếp của "cái tôi giãi bày".
  • Luận án cũng ghi nhận hệ thống từ đơn phiên âm gốc Pháp (cu li san, ghi đông, coóc sê, xi líp, xì líp, sa lông, sơ mi, xi măng, lắc lê, xúc xích, giăm bông, va-li, cà vạt, tờ-rốt-kít, canô, li-tô, đíp lôm, căng tin, mo-rát, ăng ten, si-rô, áp-phích, vét tông, cà phê, ni lông, phó mát, buýp phê, bi-đông...), góp phần tái hiện chân thực bức tranh xã hội thời kỳ Pháp thuộc.

2. Lớp từ ghép

Luận án khảo sát 1.199 từ ghép trong 5 tập hồi ký, phân loại theo hai phương thức cấu tạo:

TT Loại từ ghép Số lượng từ Tần số xuất hiện Tỷ lệ phần trăm
1 Phân nghĩa 951 18.523 79,3%
2 Hợp nghĩa 248 4.159 20,7%
Tổng 1.199 22.682 100%

Từ ghép phân nghĩa chiếm ưu thế tuyệt đối (79,3% về số lượng và 18.523 lượt xuất hiện), cho thấy xu hướng định danh cụ thể, phân biệt chi tiết các thực thể, hành vi và hiện tượng trong hồi ức của tác giả. Luận án chỉ ra nhiều từ ghép và cách kết hợp từ mới mang dấu ấn thời đại hoặc phong cách riêng của Tô Hoài: chơi chua, sở gốc, sở mới, phòng nhất, phòng nhì, lò may, cụ nội, mờ chồng, sắc đọng, nhà bàn, nhà tàu, nhà buồng...

3. Lớp từ láy

Tô Hoài sử dụng từ láy với tần số rất cao, tạo nên tính tạo hình và nhạc điệu cho câu văn trần thuật:

TT Loại từ láy Phân loại chi tiết Số lượng từ Tần số xuất hiện Tỷ lệ phần trăm
1 Láy hoàn toàn 61 1.486 3,8%
2 Láy bộ phận Láy âm đầu 1.012 6.363 55,1%
Láy vần 761 2.024 41,4%
Tổng 1.834 9.873 100%

Bên cạnh các từ láy toàn dân quen thuộc, tác giả sử dụng nhiều từ láy mới lạ, mang sắc thái khẩu ngữ dân gian độc đáo (thả lã, bùm tum, lở tở, lướn phướn, léng téng, lướp nhướp, lúc líu, lôm lam, nhịu nhảm, mờ mừ, ve vé...). Hệ thống từ láy được tổ chức theo các trường nghĩa miêu tả khung cảnh thiên nhiên (lướt thướt, nhòe nhoẹt, láp nháp, âm u, văng vắng, oi ả, long lanh, nhấp nháy, le lói, lập lòe, ngăn ngắt, rời rợi, hiu hắt, rạc rày, thấp thoáng, lưa thưa, hiu hiu...) và không gian (hun hút, bao la, con con, dài dặc, chật chội, mênh mông, dằng dặc, nho nhỏ...).

4. Các trường từ vựng và lớp từ ngữ theo phong cách

Chương 2 còn khảo sát các trường từ vựng nổi bật (từ ngữ chỉ màu sắc, hoạt động, thời gian), lớp từ Hán Việt, từ khẩu ngữ và các sáng tạo từ ngữ trong văn bản hồi ký, làm rõ sự chuyển hóa ngôn ngữ sinh hoạt đời thường thành ngôn ngữ nghệ thuật.

Chương 3: Câu trong lời trần thuật hồi ký Tô Hoài

Chương 3 triển khai nghiên cứu cấu trúc cú pháp của lời trần thuật trong hồi ký Tô Hoài qua ba nội dung chính:

  • Khảo sát cấu tạo câu: Phân tích định lượng và định tính các dạng câu đơn (câu đơn bình thường mở rộng, câu đơn có các thành phần phụ, câu đơn đặc biệt) và câu ghép (câu ghép có từ liên kết và câu ghép không có từ liên kết). Cấu trúc câu trần thuật của Tô Hoài thể hiện sự co giãn linh hoạt, phối hợp giữa các câu ngắn gọn, dứt khoát mang hơi hướng khẩu ngữ với các câu dài nhiều tầng bậc liên tưởng.
  • Phân loại câu theo mục đích nói: Thống kê các kiểu câu (câu trần thuật, câu hỏi, câu cảm thán, câu cầu khiến) trong lời kể. Câu trần thuật giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp thông tin sự kiện; bên cạnh đó, câu hỏi tu từ và câu cảm thán xuất hiện nhằm bộc lộ trạng thái phân vân, đối thoại ngầm hoặc giãi bày cảm xúc của chủ thể trần thuật.
  • Biện pháp tu từ cú pháp: Khảo sát các biện pháp tu từ cú pháp tiêu biểu như điệp cú pháp, chêm xen, đảo ngữ, liệt kê, tách câu. Các biện pháp này góp phần tạo nên giọng điệu trần thuật đa thanh, vừa hóm hỉnh, tếu táo, vừa sâu lắng và giàu chất chiêm nghiệm.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký Tô Hoài dưới góc độ ngôn ngữ học.
  • Góp phần bổ sung và làm rõ các đặc điểm ngôn ngữ của thể loại hồi ký văn học, chỉ ra cơ chế tổ chức ngôn từ trần thuật của thể loại phi hư cấu trong mối quan hệ giữa cái tôi tác giả, tính xác thực lịch sử và tính thẩm mỹ văn học.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Chỉ ra cụ thể nghệ thuật sử dụng từ ngữ và tổ chức câu văn của Tô Hoài: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ đời sống, khẩu ngữ dân gian với ngôn ngữ nghệ thuật chắt lọc; sự dung hợp giữa phong cách truyền thống và hiện đại.
  • Cung cấp nguồn cứ liệu định lượng xác thực chứng minh những đóng góp của Tô Hoài đối với sự phát triển và làm giàu vốn từ vựng tiếng Việt trong thế kỷ XX.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Vận dụng kết quả nghiên cứu vào việc phân tích, giảng dạy các tác phẩm văn xuôi của Tô Hoài và thể loại ký, hồi ký trong chương trình ngữ văn ở các bậc học.
  • Ứng dụng mô hình phân tích kết hợp giữa thống kê định lượng ngôn ngữ học và phân tích diễn ngôn ngữ nghĩa vào việc nghiên cứu phong cách học tác giả văn học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát trong 5 tác phẩm hồi ký (Cỏ dại, Tự truyện, Những gương mặt, Cát bụi chân ai, Chiều chiều) và chỉ tập trung vào hai cấp độ ngôn ngữ là từ ngữ và câu (cùng biện pháp tu từ cú pháp), chưa bao quát toàn bộ di sản sáng tác đa dạng của Tô Hoài (truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện đồng thoại).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối sánh ngôn ngữ trần thuật của Tô Hoài với các tác giả viết hồi ký cùng thời kỳ; nghiên cứu ngôn ngữ hồi ký Tô Hoài ở các bình diện ngữ dụng học, ngữ nghĩa học văn bản hoặc mở rộng sang các thể loại văn xuôi khác của ông.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngôn ngữ học, Văn học Việt Nam, Sư phạm Ngữ văn.
    • Giảng viên đại học, giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy về văn học hiện đại Việt Nam, phong cách học và lý luận thể loại ký.
    • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến lịch sử phát triển tiếng Việt hiện đại và phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn ngôn ngữ học.
  • Nội dung tham khảo giá trị:
    • Toàn bộ hệ thống bảng biểu thống kê định lượng về từ đơn, từ ghép, từ láy, cấu trúc câu tại Chương 2 và Chương 3.
    • Khung lý thuyết và phương pháp phân tích diễn ngôn ngôn ngữ trần thuật trong thể loại hồi ký.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát ngữ liệu trên những tác phẩm hồi ký nào của Tô Hoài?

Luận án tiến hành khảo sát ngữ liệu trên 5 tác phẩm hồi ký tiêu biểu trải dài qua các giai đoạn sáng tác của Tô Hoài: Cỏ dại (1944), Tự truyện (1978), Những gương mặt (1988), Cát bụi chân ai (1992) và Chiều chiều (1999).

2. Sự phân bố và tần số của các lớp từ đơn trong hồi ký Tô Hoài có đặc điểm gì nổi bật?

Luận án thống kê được 871 từ đơn một tiếng thuộc 9 từ loại, trong đó danh từ chiếm tỷ lệ số lượng cao nhất (315 từ, chiếm 36,1%), tiếp theo là động từ (236 từ, chiếm 27,0%). Tuy nhiên, xét về tần số xuất hiện thì động từ chiếm ưu thế vượt trội với 3.906 lần (so với danh từ là 2.883 lần). Đặc biệt, đại từ "tôi" có tần số xuất hiện lên tới 8.353 lần, phản ánh đặc trưng người trần thuật ngôi thứ nhất của thể hồi ký.

3. Tỷ lệ giữa từ ghép phân nghĩa và từ ghép hợp nghĩa trong hồi ký Tô Hoài được phân bổ ra sao?

Trong tổng số 1.199 từ ghép được thống kê với 22.682 lượt xuất hiện, từ ghép phân nghĩa chiếm tỷ lệ áp đảo với 951 từ (chiếm 79,3% về số lượng, 18.523 lượt xuất hiện), trong khi từ ghép hợp nghĩa chỉ có 248 từ (chiếm 20,7% về số lượng, 4.159 lượt xuất hiện). Điều này cho thấy tính chất định danh cụ thể, biệt loại chi tiết trong lối kể của Tô Hoài.

4. Hệ thống từ láy trong hồi ký Tô Hoài có cơ cấu như thế nào?

Luận án thống kê được 1.834 từ láy với 9.873 lượt xuất hiện. Trong đó, từ láy bộ phận chiếm đa số với láy âm đầu là 1.012 từ (55,1%, 6.363 lượt xuất hiện), láy vần là 761 từ (41,4%, 2.024 lượt xuất hiện); từ láy hoàn toàn chỉ có 61 từ (3,8%, 1.486 lượt xuất hiện).

5. Luận án sử dụng những phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chính nào?

Luận án sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn làm phương pháp chủ đạo, kết hợp với phương pháp miêu tả, thủ pháp thống kê phân loại và thủ pháp so sánh nhằm đối chiếu, làm rõ đặc trưng ngôn ngữ trần thuật của tác giả.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký Tô Hoài" là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tiếp cận di sản hồi ký của Tô Hoài một cách có hệ thống từ bình diện ngôn ngữ học. Thông qua phương pháp phân tích diễn ngôn kết hợp khảo sát định lượng trên 5 tác phẩm tiêu biểu từ năm 1944 đến 1999, luận án đã làm sáng tỏ các đặc điểm tổ chức từ ngữ và cú pháp câu trần thuật mang đậm phong cách cá nhân của nhà văn. Kết quả nghiên cứu khẳng định tài năng tổ chức ngôn từ, sự dung hợp nhuần nhuyễn giữa khẩu ngữ đời thường với ngôn ngữ nghệ thuật và ghi nhận đóng góp thực tế của Tô Hoài đối với sự phát triển của thể loại hồi ký cũng như từ vựng tiếng Việt thế kỷ XX. Công trình cung cấp nguồn dữ liệu tin cậy và cơ sở lý luận hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học và ngôn ngữ học tiếng Việt.