Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu về ngôn ngữ trần thuật Ngôn ngữ trần thuật (tiếng Anh: narrative discourse, tiếng Pháp: Discours naratif) là một khái niệm hết sức trừu tượng, phức tạp, liên quan đến rất nhiều yếu tố trong việc trần thuật. Nếu đứng từ góc độ khác nhau (từ Ngôn ngữ học, Văn học, Tự sự học, hay Văn bản học,…) để tiếp cận ngôn ngữ trần thuật thì sẽ có những đánh giá và nhận xét khác nhau về yếu tố nội hàm, ngoại diên, cấu thành hay vai trò của nó.
Tuy nhiên, trong các tài liệu chúng tôi tham khảo, các tác giả không ai đưa ra định nghĩa cụ thể về ngôn ngữ trần thuật. Bắt đầu những năm 80 của thế kỷ XX, khái niệm ngôn ngữ trần thuật được nhiều ngành, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và bàn luận từ nhiều khía cạnh khác nhau với nội dung ngày một phong phú hơn. Trên thế giới Việc nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật đã được nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới quan tâm như: Lý luận tự sự đương đại (Recent Theories of Narrative) của Wallace Martin (1986) [208 ], Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể (Introduction to the Structural Analysis of Narratives) của Roland Barthes (1977) [196], Ngôn ngữ trần thuật - ngôn ngữ trần thuật mới (Narrative Discourse - New Narrative Discourse) của G.Genette (1986) [203], Trần thuật học: Dẫn luận lý luận tự sự (Narratology: Introduction to the Theory of Narrative) của Mieke Bal (1985, 1997) [195], Lý luận tự sự của hậu hiện đại (Postmodern Narrative Theory) của Mark Curre (1998) [202], Hướng dẫn lý luận tự sự đương đại (A Companion to Narative Theory) do James Phelan và Peter J. Rabinnowitz chủ biên (2005) [210],.
Mỗi tác giả nghiên cứu một phương diện khác nhau của lý thuyết ngôn ngữ trần thuật.Genette trong cuốn Ngôn ngữ trần thuật - Tân diễn ngôn trần thuật đã khu biệt ba hàm nghĩa của tự sự, định nghĩa ba khái niệm truyện, tự sự và trần thuật.Genette cũng đã vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học của F.de Saussure để giải thích truyện kể, tự sự và trần thuật. Ông cho rằng tất cả những hành động 6 trần thuật mang tính sáng chế (sản xuất ra những văn bản nghệ thuật có nội dung truyện kể) và kể cả những tình cảnh thực hay ảo mà hành động trần thuật xảy ra trong ấy đều là trần thuật. Ông khu biệt hình thức cấu tạo cơ bản của ngôn ngữ tự sự như sau: tất cả ngôn ngữ xuất hiện trong một văn bản tự sự dều là ngôn ngữ do người trần thuật nói ra.Genette cũng cho rằng ngôn ngữ trần thuật chủ yếu là nghiên cứu các mối quan hệ giữa tự sự và truyện kể, tự sự và trần thuật, chuyện kể và trần thuật [203]. Trần thuật học: Dẫn luận lý luận tự sự (Narratology: Introduction to the Theory of Narrative) của Mieke Bal là công trình quan trọng về lý luận Trần thuật học, tập trung giới thiệu các thành phần chủ yếu về lý luận tổng hợp của văn bản trần thuật/tự sự từ các khía cạnh văn bản, câu chuyện, giải thích lý thuyết cơ bản về lý luận tự sự như người hành động, thời gian, địa điểm, sự kiện, người trần thuật,… Mieke Bal cho rằng, ngôn ngữ trần thuật nghiên cứu quan hệ giữa trạng thái thời gian và sự kiện trong các mô thức ngôn ngữ của văn bản tự sự, tập trung vào các mối quan hệ có thể giữa truyện kể và văn bản tự sự, quá trình trần thuật và văn bản trần thuật/tự sự [195],.
Trong Lý luận tự sự của hậu hiện đại của Mark Curre, ông tập trung nghiên cứu những thay đổi của hậu hiện đại, giải thích các yếu tố lý luận tự sự như khách thể, thời gian, không gian, chủ thể tự sự. Hai chủ đề quan trọng được thể hiện trong cuốn sách là quan hệ giữa tự sự với thân phận, vai trò của thời gian trong việc trần thuật [202],… Nhìn chung, các tác giả nước ngoài đã đề cập đến vấn đề ngôn ngữ trần thuật ở bình diện lí thuyết trần thuật, nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật, chứ chưa đi vào tìm hiểu biểu hiện của ngôn ngữ trần thuật qua tác phẩm. Ở Việt Nam Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu trong nước cũng đã đi sâu tìm hiểu vấn đề ngôn ngữ trần thuật như: Dẫn luận thi pháp của Trần Đình sử (1998) [150], Tự sự học, một số vấn đề lý luận và lịch sử do Trần Đình Sử chủ biên (2004) [151], Những vấn đề thi pháp truyện của Nguyễn Thái Hòa (2000) [78], Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại của Thái Phan Vàng 7 Anh [2], Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 của Hoàng Dĩ Đình (2014) [45],. Trong công trình Những vấn đề thi pháp truyện, Nguyễn Thái Hòa [78] đã khảo sát và nghiên cứu những yếu tố quan trọng trong truyện là lời kể, lời thoại, không gian, thời gian và giọng văn từ nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau.
Cũng nghiên cứu về thời gian trong tác phẩm văn học, Lê Thị Tuyết Hạnh đã khẳng định vai trò quan trọng của thời gian trong các yếu tố cấu trúc nên một văn bản tự sự của văn học. Trong công trình, tác giả đi sâu khảo sát quan hệ giữa thời gian với sự kiện cũng như thời gian với tâm lý nhân vật. Thời gian được xem như là một trung tâm trong việc tổ chức một tác phẩm văn học. Tác giả quan niệm rằng, thời gian có “chức năng như một thủ pháp, một tín hiệu có giá trị nghệ thuật riêng” [67].
Trong Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975, Hoàng Dĩ Đình cũng đã giới thuyết và đưa ra các quan niệm về trần thuật và ngôn ngữ trần thuật. Theo tác giả, ngôn ngữ trần thuật là hành động kể của từng cá nhân, là hành động cá nhân về ý chí, trí tuệ, mang tính chất dị biệt. Ngôn ngữ trần thuật là tất cả những hình thức ngôn ngữ dùng trong việc trần thuật [45]. Qua những ý kiến trên, chúng tôi thấy trần thuật, ngôn ngữ trần thuật là những phạm trù mỹ học cơ bản của tự sự học.
Trần thuật là kể lại, thuật lại câu chuyện, sự việc, sự tình, biến cố của con người/ nhân vật theo diễn trình thời gian. Nói đến trần thuật là nói đến người thuật (kể) và lời kể (ngôn ngữ trần thuật). Nghiên cứu về hồi ký Thuật ngữ hồi ký (tiếng Latinh: Memoria; tiếng Anh Memoir; tiếng Pháp Mémoires) ra đời muộn nhưng tiền thân của hồi ký vốn xuất hiện từ rất sớm. Qua tiến trình lịch sử, đến nay hồi ký đã hiện diện với tính chất một thể tài có vị trí quan trọng trong đời sống văn học.
Hồi ký là thể tài phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nước trên thế giới. Đã có nhiều ý kiến bàn về hồi ký về khái niệm và đặc trưng của thể loại này. Mặc dù có những quan điểm không tách bạch trên phương diện lý thuyết thể loại giữa hồi ký và các thể tài khác trong ký, nhưng dù muốn hay không hồi ký với tư cách là một thể tài vẫn tồn tại như một thực tế được thừa nhận. Đáng chú ý là số lượng hồi ký trên thế giới và ở Việt Nam vô cùng phong phú nhưng lại không dễ 8 đưa ra một định nghĩa thống nhất, cho phép khái quát hết các đặc điểm của thể loại.
Trong lịch sử văn học, khái niệm hồi ký và những vấn đề lý thuyết thể loại luôn là vấn đề gây tranh cãi. Không những với người nghiên cứu mà với người sáng tác, các ý kiến, định nghĩa hồi ký không chỉ thay đổi theo thời gian mà còn có nhiều điểm khác biệt tùy vào quan điểm mỹ học của từng tác giả. Nước ngoài Từ những năm đầu thế kỷ XIX, lý thuyết hồi ký đã được nghiên cứu ở Nga. Belinsky đã đưa ra định nghĩa về hồi ký mà nhiều nhà nghiên cứu đương đại vẫn tham khảo vào đó: “…Hầu hết các cuốn hồi ký hoàn toàn xa lạ về ý nghĩa, chỉ có giá trị về mức độ truyền đạt chính xác và đáng tin cậy các sự kiện thực tế, hầu hết các cuốn hồi ký nếu được viết một cách điêu luyện thì sẽ tạo nên một mặt cuối cùng trong lĩnh vực tiểu thuyết khi tự nó kết thúc” [215, tr.
Nhà phê bình đã coi hồi ký là một phần cấu thành của thể loại văn học sử thi. Ông đã xem “các sự kiện lịch sử có trong các nguồn không hơn những hòn đá hay những viên gạch: chỉ người nghệ sĩ mới có thể dựng nên một tòa nhà sang trọng từ vật liệu này”. Belinsky cho rằng quan trọng không phải đơn giản chỉ là việc liệt kê các sự kiện, mà là việc lựa chọn chúng, việc tác giả biết xây dựng từ chúng một bức tranh biểu cảm [215, tr. Khi đề xuất hình mẫu của sự kiện được miêu tả với tư cách là dấu hiệu bắt buộc của hồi ký, Belinsky vì thế đã công nhận hồi ký là một thể loại văn học có đầy đủ thẩm quyền mà trong đó có sự lựa chọn và tổ chức các sự kiện theo ý định của tác giả, xây dựng hình mẫu nghệ thuật.Chernyshevsky cho rằng các tác phẩm hồi ký thường dựa trên các sự kiện đã xảy ra vào thời gian nào đó “về các sự kiện này, hoặc là chúng được kể lại một cách không thỏa đáng, hoặc chúng được tác giả lựa chọn một cách thiếu kinh nghiệm, dù sao bạn cũng có thể biết được các tập tục của thế kỷ, với những gì đã xảy ra trong thế giới khi đó” [221, tr.
Như vậy, chính Belinsky và Chernyshevsky ngay trong thế kỷ XIX đã xác định rằng các cuốn hồi ký của các nhà văn cũng có những chất lượng nhu các tác phẩm văn học khác: trong đó có sự điển hình hóa thực tế, có quan điểm lịch sử đối với những sự kiện được miêu tả và sự lựa chọn các sự kiện. Sự đặc biệt của chúng được quy định bởi quan điểm cá nhân đối với những sự kiện được miêu tả, khả năng thể hiện dưới hình thức 9 cá nhân những sự kiện đã trải qua và đã nhìn thấy. Những ý kiến của các nhà phê bình đã xác định vị trí của các cuốn hồi ký trong tiến trình văn học. Nhưng chính mức độ phát triển của phê bình văn học, sự ưu thế của phương pháp tiếp cận lịch sử đã dẫn đến việc trong hầu hết các công trình, các vấn đề về phân loại các thể loại chưa được xem xét một cách đầy đủ.
Cuối thế kỷ XIX, quan điểm của Ts.