CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH THỜI ĐẠI 1. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ KỈ XVIII, ĐẦU THẾ KỈ XIX 1. Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII Thế kỉ XVIII là giai đoạn rất phức tạp trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sau khi phát triển đến đỉnh cao dưới thời Lê Thánh Tông (1460 – 1498), chế độ phong kiến Việt Nam dần lộ ra những mâu thuẫn và bất ổn của nó mà các cuộc nội chiến tranh giành quyền lực và lãnh thổ sau đó đã chứng minh.
Nội chiến phong kiến Lê – Mạc (1545 – 1592), Trịnh – Nguyễn (1627 – 1672) đã khiến đất nước rơi vào tình trạng bị chia rẽ. Sự chia cắt lãnh thổ làm thay đổi bộ mặt đất nước mà từ đây các bộ phận của nó có điều kiện để phát triển về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa theo một hướng khác. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra trong thế kỉ XVIII, nhất là từ cuối những năm 30. Ở Đàng Ngoài, tính trong vòng hơn 30 năm đã có hàng chục cuộc nổi dậy, trong đó nhiều cuộc khởi nghĩa kéo dài trong nhiều năm.
Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu mà chính quyền Đàng Ngoài phải đối phó là khởi nghĩa ở Thanh Nghệ, Hưng Hóa do Lê Duy Mật lãnh đạo, bắt đầu từ năm 1738 và kéo dài cho đến 1770; khởi nghĩa do Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ tổ chức ở Hải Dương, Kinh Bắc vào những năm từ 1739 đến 1741; khởi nghĩa do Hoàng Công Chất lãnh đạo từ 1739 đến 1769 ở Sơn Nam, Hưng Hóa; khởi nghĩa do Vũ Đình Dung, Đoàn Danh Chấn lãnh đạo năm 1740 ở Sơn Nam hạ; khởi nghĩa do Nguyễn Danh Phương khởi xướng ở Sơn Tây, Tam Đảo từ 1740 đến 1751; khởi nghĩa do Nguyễn Hữu Cầu lãnh đạo từ 1741 đến 1751 ở Đồ Sơn, Vân Đồn và Kinh Bắc nêu cao khẩu hiệu “Lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo”… Mặc dù thất bại, phong trào nông dân Đàng Ngoài đã buộc chính quyền Lê – Trịnh phải có những điều chỉnh nhất định trong chính sách cai trị. Song cùng với những thất bại ấy, nhân dân Đàng Ngoài đã phải gánh chịu những khó khăn của một nền sản xuất z 14 kinh tế bị ngừng trệ và tàn phá. Người dân phải đối mặt hàng ngày với nạn đói và tình trạng nông nghiệp bị đình đốn. Sau cuộc Nam tiến của Nguyễn Hoàng, lãnh thổ Việt Nam đã được mở rộng về phía nam.
Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược Đông Phố, đặt phủ Gia Định, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn. Chính quyền Đàng Trong đã có những thắng lợi nhất định trong việc mở rộng lãnh thổ và bảo vệ nó trước những cuộc chiến tranh với các chính quyền Chân Lạp và Xiêm La. Từ 1732, chính quyền Đàng Trong lấy Gia Định làm đại bản doanh trong các hoạt động quân sự và từng bước củng cố thế lực của mình. Chính vì vậy, tình hình kinh tế xã hội cũng như sự phát triển văn hóa ở khu vực Gia Định – Tân Bình được đẩy mạnh.
Nông nghiệp ở miền Nam được chú trọng phát triển bởi đất đai và sức lao động của con người là tất cả những gì các lưu dân có được khi bắt đầu cuộc sống ở vùng đất mới. Nhưng do lợi thế về địa lý và do những nguyên nhân kinh tế xã hội khác, kinh tế nông nghiệp ở đây đã mang yếu tố sản xuất hàng hóa khá rõ nét. Hoạt động thương nghiệp được chú trọng đã thúc đẩy sự phát triển đến độ phồn thịnh của Gia Định như một thương cảng trung tâm ở phía nam tổ quốc và của các thương cảng khác như Hội An, Hà Tiên vào giữa thế kỷ XVIII, mặc dù sau đó hai thương cảng này đã bị tàn phá bởi chiến tranh. Sự góp mặt của các cộng đồng dân cư khác nhau ở miền Nam lúc bấy giờ cũng làm tăng thêm sắc thái đô thị trong đời sống xã hội ở Nam kỳ.
Có thể thấy không khí sinh hoạt, buôn bán tấp nập mang tính đô thị ở Gia Định thời đó trong Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức: “Hai huyện Bình Long, Tân Long dân cư đông đúc, chợ phố san sát, nhà cửa liên tiếp nối nhau… Tàu thuyền từ biển lui tới buôn bán, cột buồm san sát, thật là đô hội lớn ở thành Gia Định cả nước không đâu sánh bằng. Dân quen nghề buôn bán, có người chuyên sống ở chợ búa. Có kẻ ở trên thuyền, gọi là dân sông nước; có nhiều kẻ từ các nơi đến tụ họp, gọi là dân tứ chiếng…”. Để phục vụ mục đích quân sự (mua thuốc đạn, khí giới), Nguyễn Ánh thu hút thương nhân nước ngoài đến buôn bán các sản phẩm nông lâm z 15 nghiệp được sản xuất với một khối lượng lớn như gạo, đường, tiêu, gỗ, sa nhân… Nhiều tài liệu còn ghi chép lại việc mở rộng buôn bán với nước ngoài của chính quyền Đàng Trong cho thấy sự phát triển của kinh tế khu vực phía nam thời này.
Chẳng hạn, giáo sĩ dòng Tên người Việt Nam là Philipphê Bỉnh đã viết trong cuốn Truyện nước An Nam Đàng Trong như sau: “Người thành Macao có kính chuộng nhà Nguyễn cùng sang buôn bán, mà đong gạo, cùng mua cá khô nước ngọt, vì hai giống ấy thì trong Đồng Nai dư dật. Lại giống gỗ thơm, ngà voi, hồ tiêu, lông chim thì lắm… Chẳng những là các tàu Macao chở đày những gạo, mà lại nhiều tàu Đại Minh cùng nước khác cũng đến buôn bán. Song Đàng Ngoài chẳng có nhiều mà buôn bán như vậy, cũng chẳng được chở gạo đi…”1. Như vậy, bên cạnh những phức tạp về mặt chính trị, đời sống kinh tế ở miền Nam Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đã được đẩy mạnh, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của nông lâm nghiệp và thương nghiệp.
Ở Đàng Trong, cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất trong lịch sử Việt Nam diễn ra vào năm 1771, đó là khởi nghĩa Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ khởi xướng. Sau khi xây dựng căn cứ Tây Sơn ở miền thượng Tây Nguyên, từ 1771, nghĩa quân tiến xuống đánh chiếm vùng hạ đạo. Hoạt động chủ yếu của nghĩa quân trong giai đoạn đầu là tấn công vào bộ máy chính quyền ở các làng xã, đốt sổ thuế và các văn tự vay nợ, lấy của người giàu chia cho người nghèo. Năm 1773, quân Tây Sơn chiếm được phủ thành Quy Nhơn, sau đó tiến ra Bắc giải phóng Quảng Ngãi, Quảng Nam, cắt đứt kinh thành Phú Xuân với Gia Định.
Quân Trịnh lợi dụng tình hình rối ren đó ở Đàng Trong, cho Hoàng Ngũ Phúc đem quân vào tấn công. Đến năm 1775, Nguyễn Phúc Thuần cùng triều thần bỏ trốn vào phía nam, sau đó 2 năm (1777) thì bị Tây Sơn bắt giết. Sau khi Phúc Thuần bỏ trốn, quân Trịnh chiếm Phú Xuân, đánh vào Quảng Nam. Cuối năm 1775, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã chiếm được Phú Yên, sau đó Nguyễn Lữ thắng trận ở Gia Định.
Quân Nguyễn tan rã, Nguyễn Ánh 1 Dẫn theo Cao Tự Thanh, “Văn học Hán Nôm ở Gia Định”, Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Tập II (Văn học), Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình chủ biên, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tr. z 16 cùng tàn quân chạy trốn ra đảo Côn Lôn rồi sang Xiêm cầu viện. Đến năm 1778, Nguyễn Ánh chiếm lại Sài Gòn. Trong chiến cuộc dai dẳng giữa Tây Sơn và chính quyền Nguyễn Ánh từ sau khi Nguyễn Phước Thuần bị giết đến tháng 9 năm 1788 khi Nguyễn Ánh chiếm Gia Định lần cuối cùng, quân Tây Sơn bên cạnh việc liên tiếp đối phó với các thế lực chống đối của Nguyễn Ánh và tập đoàn Lê Trịnh còn phải đối phó với quân xâm lược Xiêm và Mãn Thanh.
Như vậy, bắt nguồn từ Đàng Trong, cuộc khởi nghĩa đã lan rộng đến quy mô cả nước. Chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn và sự thiết lập của chính quyền Tây Sơn đã làm thay đổi bộ mặt đất nước. Trong thời trị vì của mình, Quang Trung đã có một số chính sách tích cực đối với sự phát triển xã hội. Để đối mặt với những khó khăn và hậu quả sau chiến tranh, vua đốc thúc việc xây dựng hệ thống chính quyền mới và củng cố lực lượng quốc phòng.
Ông là người biết trọng dụng nhân tài, cho nên trong bộ máy chính quyền mới không chỉ có những người từng giúp Quang Trung gây dựng sự nghiệp mà còn có mặt các nhân tài Bắc Hà từng là cựu thần nhà Lê. Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược cũng ca ngợi đức độ của vua: “Vua Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn là ông vua anh dũng, lấy võ lược mà dựng nghiệp, nhưng ngài có độ lượng, rất am hiểu việc trị nước, biết trọng những người hiền tài văn học. Khi ngài ra lấy Bắc Hà, những người như Ngô Thì Nhiệm, Phan Huy Ích đều được trọng dụng và nhất là đối với một xử sĩ như Nguyễn Thiệp thì thật là khác thường” 2. Cũng theo ghi chép của Trần Trọng Kim, vua Quang Trung là người khuyến khích dùng chữ Nôm “để gây thành cái tinh thần của nước nhà”.
Tuy nhiên, triều đại Tây Sơn phải đối phó với quá nhiều khó khăn chồng chất sau nhiều thế kỉ chiến tranh và loạn lạc của đất nước, mặt khác trong nội bộ lãnh đạo cũng xuất hiện nhiều mâu thuẫn, nên đã trở thành triều đại ngắn ngủi nhất trong lịch sử các vương triều Việt Nam. Sau khi Nguyễn Huệ mất (1792), nội bộ nhà Tây Sơn bị rạn nứt nghiêm trọng. Tháng 6 năm 1801, Nguyễn Ánh sau khi tập hợp binh sĩ đã quay trở lại chiếm được 2 Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Văn học, 2008, tr. z 17 thành Phú Xuân.
Quân Tây Sơn tan rã, Nguyễn Quang Toản – người kế vị của Quang Trung – phải bỏ chạy ra Thăng Long. Tháng 7 năm 1802, Nguyễn Ánh chiếm được thành Thăng Long, lên ngôi tôn, chấm dứt triều đại Tây Sơn. Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX Vấn đề vai trò của nhà Nguyễn trong lịch sử dân tộc cho đến nay vẫn còn là một đề tài cần phải tranh luận và tìm hiểu nhiều hơn nữa. Tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò ổn định đất nước của Nguyễn Ánh với tư cách tiếp nối sứ mạng thống nhất đất nước mà lịch sử đã đặt ra từ trước với thắng lợi của Nguyễn Huệ trong phong trào Tây Sơn.
Ngoài ra, nhà Nguyễn, bắt đầu bằng sự trị vì của Gia Long (Nguyễn Ánh), đã có một hệ thống tổ chức chính quyền với quy chế hoạt động hết sức hiệu lực. Luật pháp được Gia Long và nhà Nguyễn rất coi trọng. Năm 1815, Luật Gia Long được ban hành.