Chương 1 của luận văn tôi tập trung đến các vấn đề lí luận cơ bản của ẩn dụ ý niệm, trong đó nhấn mạnh đến thi pháp học tri nhận dựa trên lịch sử nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Với cách làm này, giúp tôi có cách nhìn bao quát, toàn diện hơn về các công trình nghiên cứu đã có và tiếp thu những thành tựu khoa học của các nhà nghiên cứu đi trước. Từ đó, tôi đã xây dựng cơ sở lí luận làm định hướng cho việc khảo sát ẩn dụ ý niệm trong thơ Nguyễn Bính trong các chương tiếp theo. Khái quát về ẩn dụ 1.
Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống N.Golovin cho rằng: “Sự chuyển đổi của các từ từ một đối tượng này sang một đối tượng khác trên cơ sở sự giống nhau của chúng được gọi là ẩn dụ” [10]. Trong Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, O. Akhmanova đã định nghĩa ẩn dụ là “Phép chuyển nghĩa dùng các từ và ngữ ở ý nghĩa bóng trên cơ sở sự tương tự, sự giống nhau. Nếu Golovin cho rằng ẩn dụ là sự chuyển nghĩa của các từ thì Akhmanova cho rằng ẩn dụ không chỉ diễn ra ở từ mà diễn ra ở cả “ngữ”, tức là ẩn dụ tồn tại ở cả từ và cụm từ.
Nhưng nhìn chung, cả hai nhà nghiên cứu đều cho rằng ẩn dụ có cơ sở là sự giống nhau giữa hai đối tượng. Trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (1999), Đỗ Hữu Châu đã đưa ra quan niệm cụ thể hơn về ẩn dụ: “Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là những ý nghĩa biểu vật. A vốn là tên gọi của X (tức X là ý nghĩa biểu vật chính của A). Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của X để gọi tên Y (để biểu thị Y), nếu như X và Y có nét nào đó giống nhau” [3, tr.
9 Cùng quan điểm với Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau”. Tựu chung lại, theo ngôn ngữ học truyền thống, ẩn dụ có thể xảy ra ở từ hoặc cụm từ, được xem là phương thức dùng tên của sự vật, hiện tượng này để gọi tên sự vật, hiện tượng khác dựa trên sự tương đồng giữa chúng. Ẩn dụ theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận Với sự xuất hiện của cuốn Metaphors We Live By (1980) của George Lakoff và Mark Johnson, quan niệm về ẩn dụ đã có sự thay đổi. Trước đây, ẩn dụ được nhiều người hiểu là một hiện tượng ngôn ngữ hay sử dụng trong tác phẩm văn học, người bình thường không cần có ẩn dụ vẫn sống tốt.
Nhưng thực tế, “ẩn dụ thẩm sâu vào trong cuộc sống thường ngày, không chỉ thẩm vào trong ngôn ngữ mà thẩm vào trong cả tư duy và hành động. Hệ thống ý niệm mà thông thường chúng ta dùng để suy nghĩ và hành động, bản chất đều mang tính ẩn dụ. “Bản chất của ẩn dụ là hiểu và trải nghiệm một loại sự vật này từ góc độ của sự vật khác” [31, tr. Ẩn dụ lúc này không chỉ đơn thuần là một hiện tượng ngôn ngữ chỉ có trong các tác phẩm văn học mà ẩn dụ còn là một hiện tượng tri nhận, được nhìn nhận và giải thích thông qua sự hiểu và trải nghiệm thế giới xung quanh.
Ẩn dụ phản ánh phương thức tư duy của con người qua hệ thống các ý niệm, vì vậy Lakoff và Johnson gọi nó bằng thuật ngữ “ẩn dụ tri nhận” hay “ẩn dụ ý niệm”. Theo hai tác giả này, “trong một phép ẩn dụ, có hai miền: miền đích - chính là chủ thể của vấn đề, và miền nguồn mà miền trong đó lập luận ẩn dụ được diễn ra và cung cấp các ý niệm nguồn được sử dụng trong lập luận đó. Trong miền nguồn, ngôn ngữ ẩn dụ có nghĩa đen. Thêm vào đó, hai tác giả này cũng khẳng định tức là “ẩn dụ cho phép chúng ta hiểu một miền trải nghiệm này từ góc độ của một miền trải nghiệm khác” [15, tr.
Như vậy, ẩn dụ ý niệm gồm có hai miền là miền đích và miền nguồn, miền đích sẽ được hiểu thông qua kinh nghiệm của con người về miền nguồn. 10 Kovecses (2010) cho rằng: “Theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ được định nghĩa là việc hiểu một miền ý niệm này dựa trên một miền ý niệm khác” [29, tr. Như vậy, quan điểm về ẩn dụ của Kovecses cũng giống quan điểm của Lakoff và Johnson, nhưng ông đã bổ sung thêm mô hình của ẩn dụ ý niệm. Theo Kovecses, “A là B” chính là một ẩn dụ ý niệm.
Ẩn dụ ý niệm này gồm có hai miền ý niệm là A và B, trong đó miền A được hiểu dựa trên miền B. Ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần Văn Cơ quan niệm ẩn dụ ý niệm là “một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới. ẩn dụ được xem như là cách nhìn một đối tượng này thông qua một đối tượng khác. Quan điểm này được ông xây dựng dựa trên quan điểm về ẩn dụ của Lakoff và Johnson.
Nhà ngôn ngữ Lý Toàn Thắng thì cho rằng ẩn dụ ý niệm “là sự chiếu xạ giữa một miền nguồn (source domain) cụ thể hơn và một miền đích (target domain) trừu tượng hơn, nghĩa là chúng ta thường dựa vào kinh nghiệm của mình về những con người, những sự vật và hiện tượng cụ thể thường nhật để ý niệm hóa các phạm trù trừu tượng. Quan điểm của ông có phần cụ thể hơn quan điểm của Trần Văn Cơ. Dựa trên quan điểm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới và ở Việt Nam, có thể thấy, ẩn dụ tri nhận (ý niệm) là một phương thức để tạo nên những ý niệm trong tâm trí con người, phương thức này chính là một hình thức ý niệm hóa. An dụ ý niệm có mô hình A là B, trong đó A là miền đích trừu tượng, B là miền nguồn cụ thể.
Dựa trên cơ sở kinh nghiệm của con người, những thuộc tính của miền nguồn B sẽ được ánh xạ (tức chiếu xạ, phóng chiếu) lên miền đích A; từ đó, con người tri nhận về miền đích A thông qua sự hiểu biết và trải nghiệm về nguồn B. Tóm lại, hệ thống lại các quan điểm trên, chúng tôi đi đến khái lược khái niệm ẩn dụ tri nhận như sau: ẩn dụ tri nhận/ẩn dụ ý niệm 11 (cognitive/conceptual metaphor) chính là một quá trinh tri nhận gồm miền nguồn (source) mang tính cụ thể và miền đích (target) mang tính trừu tượng; dựa trên cơ sở kinh nghiệm của con người, những thuộc tính của miền nguồn sẽ được chiếu xạ (ánh xạ, phóng chiếu) lên miền đích, miền địch được hiểu dựa trên việc hiểu và trải nghiệm miền nguồn. Kết quả của việc hiểu miền đích chính là hình thành nên một ý niệm mới trong tâm trí con người, ẩn dụ ý niệm chính là một hình thức ý niệm hóa nên ý niệm đó. Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ tri nhận 1.
Ý niệm và sự ý niệm hóa Nếu ngôn ngữ học truyền thống coi ý nghĩa là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất thì với ngôn ngữ học tri nhận, đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất chính là ý niệm. Xung quanh thuật ngữ “ý niệm” có nhiều quan điểm khác nhau. Năm 1997, Stepanov - một nhà Ngôn ngữ học Nga đưa ra quan niệm: “Ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hóa trong ý thức con người; dưới dạng của nó, nền văn hóa đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người. Theo định nghĩa mà ông đưa ra, thì ý niệm chính là văn hóa trong tâm thức mỗi con người, văn hóa ấy có tác động tới sự tư duy của con người.
Lý Toàn Thắng khẳng định “Ý niệm trước hết không phải và không chỉ là kết quả của quá trình tư duy, quá trình phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người; mà nó là sản phẩm của hoạt động tri nhận, nó là cái chứa đựng tri thức hay sự hiểu biết của con người về thế giới trên cơ sở kinh nghiệm từ đời này qua đời khác, nó vừa mang tính nhân loại phổ quát, vừa mang tính đặc thù dân tộc. Nếu như Stepanov cho rằng ý niệm có liên quan tới tư duy của con người thì Lý Toàn Thắng cụ thể hơn, ông cho rằng ý niệm chính là kết quả của tư duy. Ngoài ra, ông còn bổ sung thêm, ý niệm cũng là kết quả của sự tri nhận về thế giới, vừa có tính phổ quát, vừa có tính dân tộc. 12 Trần Văn Cơ cũng đưa ra định nghĩa: “Ý niệm là cái chứa đựng sự hiểu biết của con người về thế giới, được hình thành trong ý thức trong quá trình tri nhận và hiện thân trong ngôn ngữ.
Trong ý niệm có cái phổ quát (khái niệm) và cái đặc thù (văn hóa được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau). Có thể thấy, dù diễn đạt khác nhưng về cơ bản, quan điểm của Trần Văn Cơ và Lý Toàn Thắng là tương tự như nhau. Sự trải nghiệm về thế giới hình thành sự hiểu biết của con người về thế giới và sự hiểu biết ấy chính là ý niệm. Ý niệm vừa mang tính phổ quát, vừa mang tính đặc thù.
Nhưng quan điểm về ý niệm mà Trần Văn Cơ đưa ra có bổ sung thêm là ý niệm được biểu đạt bằng ngôn ngữ. Do ý niệm được hình thành từ những trải nghiệm của con người về thế giới nên ý niệm mang tính nghiệm thân. Cụ thể hóa tính nghiệm thân của ý niệm, Nguyễn Thiện Giáp cho rằng “Ý niệm về những sự vật cụ thể bắt nguồn từ những trải nghiệm của các giác quan, còn ý niệm về các sự vật trừu tượng là kết quả của việc điều chỉnh, tổng hợp, xử lí thông tin trên cơ sở các ý niệm về sự vật cụ thể” [8, tr.221] Từ những quan điểm trên của các nhà ngôn ngữ học, có thể tóm lại rằng, ý niệm (concept) chính là tập hợp những hiểu biết, trải nghiệm của con người về thế giới quan thông qua quá trình tri nhận, tồn tại trong ý thức của con người và được cụ thể hóa bằng lời nói, phát ngôn. Ý niệm vừa bao hàm cái phổ quát (khái niệm) vừa bao hàm cái đặc thù (văn hóa dân tộc).
Cùng xuất phát từ thuật ngữ “concept” nhưng cần phân biệt giữa “khái niệm” và “ý niệm”.