Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ văn học mang tên Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 viết về chiến tranh của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phương Thảo, chuyên ngành Lý luận văn học (mã số: 62 22 01 20), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Khánh Thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2017.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, ghi nhận nhiều tìm tòi trong việc tiếp cận hiện thực và đổi mới thi pháp thể loại. Trong đó, chiến tranh là đề tài lớn tiếp tục thu hút giới cầm bút suốt hơn bốn mươi năm. Tuy nhiên, việc sáng tác đạt tầm vóc với cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc vẫn là trăn trở đối với thế hệ nhà văn bước ra từ chiến hào lẫn thế hệ trưởng thành sau ngày hòa bình. Khoảng trống nghiên cứu thể hiện ở việc các công trình khảo sát chuyên sâu, bao quát đồng thời cả phương diện nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật của truyện ngắn đề tài này còn thiếu vắng. Phần lớn các chuyên luận, luận văn trước đây chỉ giới hạn phạm vi khảo sát từ năm 1975 đến năm 2000 hoặc 2005; giai đoạn gần mười năm tính đến thời điểm thực hiện luận án (2006–2016) chưa được điểm xuyết có hệ thống. Các bài viết thường xuất hiện rải rác trên báo chí hoặc gói gọn trong một tiểu mục hẹp, diện khảo sát tác phẩm chưa đủ rộng để đưa ra những nhận định toàn diện.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể như sau:
- Về mục đích nghiên cứu (mục 3.1): Trên cơ sở khảo sát truyện ngắn sau năm 1975 viết về chiến tranh trong sự so sánh đồng đại với truyện ngắn nói chung, với tiểu thuyết cùng đề tài và so sánh lịch đại với truyện ngắn giai đoạn trước năm 1975, luận án hướng tới việc xác định các đặc điểm và sự cách tân của thể loại khi nhìn nhận cuộc chiến từ tọa độ thời bình; khẳng định sự kế thừa, đổi mới trong phương thức biểu đạt, đóng góp tích cực vào tiến trình vận động của thể loại truyện ngắn trong nền văn học đương đại.
- Về nhiệm vụ nghiên cứu (mục 3.2):
- Làm sáng rõ những vấn đề lý luận cơ bản về sự thay đổi quan niệm nghệ thuật, một số yếu tố thi pháp đặc trưng thể loại truyện ngắn và phân tích cụ thể qua văn bản sáng tác về chiến tranh.
- Phân tích, đánh giá các xu hướng nghiên cứu văn học về chiến tranh, nghiên cứu thể loại truyện ngắn và truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 viết về chiến tranh.
- Phác thảo sự thay đổi quan niệm nghệ thuật, hướng tiếp cận đề tài chiến tranh trong truyện ngắn đương đại đặt trong bối cảnh chung của nền văn học từ sau năm 1975 đến nay.
- Khảo sát, phân loại, phân tích một số kiểu loại nhân vật chủ yếu được thể hiện nổi bật; chỉ ra những thay đổi, cách tân từ quan niệm sáng tác được cụ thể hóa qua thế giới nhân vật so với thời kỳ trước năm 1975.
- Khảo sát, thống kê, phân tích các yếu tố thi pháp đặc trưng gắn liền với thể loại: đổi mới nghệ thuật trần thuật (ngôi kể và điểm nhìn), nghệ thuật tổ chức cốt truyện, tạo dựng tình huống truyện và ngôn ngữ nghệ thuật.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu (mục 2.1): Đặc điểm, tiến trình phát triển của truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 viết về chiến tranh, tập trung vào sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người, các khuynh hướng sáng tác, hệ thống nhân vật đa chiều và những đặc sắc trong phương thức biểu hiện nghệ thuật.
- Phạm vi nghiên cứu (mục 2.2): Khảo sát các tác phẩm được tuyển chọn trong những tuyển tập truyện ngắn có uy tín về chiến tranh, truyện ngắn biên giới Tây Nam, các truyện ngắn đoạt giải và đăng tải trên Tạp chí Văn nghệ quân đội từ năm 1975 đến năm 2016. Bên cạnh đó, tác giả khảo sát tác phẩm của một số cây bút tiêu biểu được dư luận chú ý. Về nội dung lịch sử, phạm vi phản ánh bao gồm kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tiến hành rà soát, hệ thống hóa một khối lượng tư liệu nghiên cứu phong phú liên quan đến lý thuyết thể loại và mảng sáng tác về chiến tranh:
| Hướng nghiên cứu |
Tác giả và công trình tiêu biểu được trích dẫn trong luận án |
Nội dung chính được tác giả điểm lại |
| Lý thuyết thể loại truyện ngắn |
- Verley, Daniel Grojnowski, Pautopxki, Tolstoy, Truman Capote, Ian McEwan, Kobo Abe, U. Xaroyan. - Bùi Việt Thắng (Truyện ngắn, những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại, Bình luận truyện ngắn). - Vương Trí Nhàn (Sổ tay truyện ngắn). - Lê Huy Bắc, Phương Lựu, Thanh Lãng. |
- Xác định đặc trưng tự sự cỡ nhỏ, tính súc tích, dung lượng dồn nén, khả năng nắm bắt khoảnh khắc bản chất của đời sống. - Tranh luận về vị trí độc lập của truyện ngắn so với tiểu thuyết và tiến trình hoàn thiện thể loại từ trung đại đến hiện đại ở Việt Nam. |
| Văn học đề tài chiến tranh tại Việt Nam |
- Đinh Xuân Dũng (Văn học, Văn hóa, Tiếp nhận và suy nghĩ). - Tôn Phương Lan (Văn chương và cảm nhận). - Nguyễn Minh Châu (Viết về chiến tranh, Người lính chiến tranh và nhà văn). - Các bài viết của Lê Thành Nghị, Ngô Thảo, Xuân Thiều, Chu Lai, Nguyễn Văn Long, Khuất Quang Thụy... |
- Đinh Xuân Dũng phân chia văn học chiến tranh thành hai giai đoạn (trong và sau chiến tranh), chỉ ra ba khuynh hướng sau 1975 (tả thực ca ngợi; khai thác mất mát đau thương; mổ xẻ hiện thực đa chiều và số phận cá nhân). - Nguyễn Minh Châu chỉ ra hạn chế của hiện thực một chiều thời chiến và nhấn mạnh yêu cầu đi sâu vào số phận con người đời thường, phức tạp. - Hơn 70 bài viết trên tạp chí Văn nghệ quân đội bàn về trách nhiệm người viết, sự dịch chuyển từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, nhân bản. |
| Nghiên cứu truyện ngắn sau 1975 nói chung |
- Lê Thị Hường (luận án Những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Việt Nam 1975 – 1995). - Lê Thị Hương Thủy (luận án Truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay (nhìn từ góc độ thể loại)). - Nguyễn Thị Năm Hoàng (luận án Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 - nhìn từ góc độ thể loại). - Kỷ yếu Hội thảo Đại học Vinh (2012) với các bài của Hỏa Diệu Thúy, Lê Thị Sao Chi... |
- Nhận diện sự biến đổi thi pháp thể loại, các hình thức kết cấu, nghệ thuật trần thuật, điểm nhìn và lời độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới. |
| Nghiên cứu truyện ngắn sau 1975 viết về chiến tranh |
- Tôn Phương Lan (Truyện ngắn chiến tranh nhìn từ sự vận động của thể loại, 2004). - Lê Dục Tú (Truyện ngắn đương đại về đề tài chiến tranh – những đổi mới trong tư duy thể loại, 2012). - Các bài phê bình tác giả cụ thể: Hồ Hồng Quang (về Nguyễn Minh Châu), Nguyễn Huy Thông (về Xuân Thiều), Trần Phỏng Diều (về Vũ Hồng), Đoàn Ánh Dương, Mai Quốc Liên (về Bảo Ninh), Hoàng Thụy Anh (về Từ Nguyên Tĩnh). |
- Đánh giá xu hướng giải sử thi, giải thiêng huyền thoại, mô típ góa phụ, bi kịch con người cô đơn, vùng vô thức, bản năng tự nhiên. - Nhìn nhận tính đa diện, phức tạp của số phận người lính sau ngày rời quân ngũ. |
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình đi trước thường xem xét truyện ngắn trong diện mạo chung của văn xuôi hoặc chỉ khảo sát một tác giả, tác phẩm riêng lẻ, hoặc bị giới hạn về mốc thời gian (dừng lại ở năm 1995, 2000 hoặc 2005). Luận án của Nguyễn Thị Phương Thảo định vị mình là công trình chuyên khảo đầu tiên tiếp cận một cách chuyên sâu, có hệ thống đối với truyện ngắn Việt Nam viết về chiến tranh sau năm 1975 kéo dài đến năm 2016, kết hợp cả bề sâu lý luận văn học lẫn diện khảo sát văn bản phong phú nhằm làm sáng tỏ đồng thời cả hai trục: sự đổi mới quan niệm hiện thực - con người và sự cách tân các phương thức thi pháp nghệ thuật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết và khái niệm:
- Cơ sở lý thuyết của luận án dựa trên hệ thống thi pháp học thể loại tự sự, đặc biệt là lý thuyết truyện ngắn hiện đại. Tác giả vận dụng các định nghĩa từ Từ điển thuật ngữ văn học (nhóm Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên), Từ điển văn học, cuốn Đọc truyện ngắn của Daniel Grojnowski, chuyên luận của Bùi Việt Thắng, Vương Trí Nhàn, cùng phát biểu của các nhà văn Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc. Luận án xác định truyện ngắn là thể loại tự sự cỡ nhỏ bằng văn xuôi, có tính hàm súc, dồn nén, tập trung khám phá một hiện tượng đời sống hoặc một nét bản chất trong tâm hồn con người qua một lát cắt, một tình huống có ý nghĩa biểu tượng.
- Luận án sử dụng khái niệm "quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người" theo định nghĩa của lý luận văn học: nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người nội tại của hình thức nghệ thuật, quyết định giới hạn và chiều sâu chiếm lĩnh đời sống của tác phẩm. Đồng thời, văn bản vận dụng các khái niệm về cảm hứng nghệ thuật (chuyển đổi từ cảm hứng sử thi, lãng mạn sang cảm hứng thế sự, đời tư, nhân bản), lý thuyết về nhân vật, nghệ thuật trần thuật (ngôi kể, điểm nhìn), tổ chức cốt truyện, tình huống truyện và các bình diện ngôn ngữ văn xuôi.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế:
Là một công trình nghiên cứu định tính thuộc chuyên ngành Lý luận văn học, luận án không áp dụng các công cụ thống kê toán học hay phần mềm xử lý dữ liệu định lượng, mà vận dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu văn học chuyên ngành:
- Phương pháp lịch sử – xã hội: Đặt các tác phẩm truyện ngắn vào bối cảnh vận động của xã hội Việt Nam từ sau năm 1975, trải qua các cuộc chiến tranh biên giới và bước vào công cuộc Đổi mới sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) cùng Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị, từ đó giải thích các tác động xã hội đến ý thức nghệ thuật của nhà văn.
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng xuyên suốt theo cả trục lịch đại (so sánh truyện ngắn sau năm 1975 với truyện ngắn giai đoạn 1945–1975) và trục đồng đại (so sánh truyện ngắn với tiểu thuyết cùng đề tài; so sánh truyện ngắn chiến tranh Việt Nam với sáng tác văn học chiến tranh của các tác giả Mỹ như Jeffrey Walsh, Larry Heinemann, Robert Olen Butler, Gustav Hasford, Robert Stone).
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Phân tích cấu trúc tác phẩm thông qua các yếu tố hình thức mang tính quan niệm: quan niệm nghệ thuật, kiểu kết cấu cốt truyện, tình huống kịch tính, sự dịch chuyển điểm nhìn trần thuật và các tầng ngôn ngữ đối thoại, độc thoại, phương ngữ.
- Phương pháp loại hình: Ứng dụng để khảo sát, phân nhóm, khu biệt các kiểu loại nhân vật trung tâm trong tác phẩm.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp góc nhìn văn học với xã hội học, tâm lý học và phân tâm học để giải mã các hiện tượng tâm lý, chấn thương tinh thần, bản năng vô thức của nhân vật thời hậu chiến.
- Thao tác phân tích – tổng hợp: Triển khai xuyên suốt văn bản để đi từ các phân tích văn bản cụ thể đến những khái quát mang tính quy luật thể loại.
Về nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu:
Tư liệu khảo sát trực tiếp của luận án là văn bản các truyện ngắn viết về chiến tranh được công bố từ sau năm 1975 đến năm 2016, tập trung vào:
- Các tuyển tập truyện ngắn chọn lọc về chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang do các nhà xuất bản uy tín ấn hành.
- Tuyển tập truyện ngắn viết về chiến tranh biên giới Tây Nam.
- Các tác phẩm truyện ngắn đăng tải, đoạt giải thưởng trong các cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ quân đội qua các thời kỳ từ năm 1975 đến năm 2016.
- Các tập truyện ngắn tiêu biểu của những tác giả viết về chiến tranh được ghi nhận trên văn đàn như Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Chu Lai, Bảo Ninh, Ma Văn Kháng, Nguyễn Trọng Oánh, Lê Lựu, Trung Trung Đỉnh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Quang Thiều, Sương Nguyệt Minh, Doãn Dũng, Lưu Sơn Minh, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Thị Kim Hòa.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tập trung hệ thống hóa hai phương diện lý luận và thực tiễn nghiên cứu: đặc trưng thể loại truyện ngắn và bức tranh nghiên cứu văn học về đề tài chiến tranh tại Việt Nam.
Ở phần đặc trưng thể loại, tác giả luận giải truyện ngắn hiện đại như một hình thức nghệ thuật có quy chuẩn độc lập, không lệ thuộc vào tiểu thuyết về mặt kỹ thuật. Tác giả phân tích các quan niệm từ phương Tây của Verley, Daniel Grojnowski, Ian McEwan, cùng quan điểm của các nhà văn Nga (Tolstoy, Pautopxki) và các nhà nghiên cứu trong nước (Lê Huy Bắc, Bùi Việt Thắng, Vương Trí Nhàn). Luận án nhấn mạnh truyện ngắn hiện đại có sức chứa lớn, có khả năng cô đúc toàn bộ số phận hay bản chất đời sống vào một lát cắt nhỏ, tương tự như hình ảnh "khoanh gỗ tròn trên thân cây cổ thụ" mà Nguyễn Minh Châu từng ví von.
Ở phần nghiên cứu văn học chiến tranh, tác giả rà soát các chặng đường đánh giá của giới phê bình. Tác giả tổng hợp hơn 70 bài viết trên Tạp chí Văn nghệ quân đội, các công trình của Đinh Xuân Dũng, Tôn Phương Lan, Lê Thành Nghị và biên bản các cuộc tọa đàm học thuật các năm 2005, 2013, 2015, 2016. Qua đó, chương 1 chỉ ra xu hướng vận động tất yếu của việc tiếp cận chiến tranh: chuyển dịch từ khuynh hướng miêu tả sự kiện, ca ngợi mang âm hưởng sử thi sang phân tích số phận cá nhân, đào xới các tầng vỉa phức tạp của hiện thực; đồng thời chỉ rõ khoảng trống về một công trình chuyên luận nghiên cứu toàn diện mảng truyện ngắn từ năm 1975 đến năm 2016.
Chương 2: Những hướng tiếp cận mới về hiện thực chiến tranh
Chương 2 làm sáng tỏ sự chuyển biến căn bản trong quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người của các nhà văn sau năm 1975, chia tách qua hai giai đoạn bản lề: giai đoạn 1975–1985 và giai đoạn từ sau Đổi mới năm 1986 đến nay.
Thứ nhất, văn học đã từ bỏ lối nhìn nhận "hiện thực một chiều", thoát khỏi lớp "men trữ tình" của thời kỳ 1945–1975 vốn chủ yếu phản ánh hiện thực mơ ước và lý tưởng hóa. Thay vào đó là cảm hứng "nhìn thẳng vào sự thật", tiếp cận chiến tranh như một hiện thực đa diện với cả những góc khuất, bi kịch, mất mát và sự tàn phá dai dẳng đối với đời sống thể xác lẫn tinh thần con người. Hiện thực chiến tranh được mở rộng biên độ, không dừng lại ở hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ mà bao quát cả cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam và nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia qua hàng loạt sáng tác của Văn Lê, Mai Ngữ, Nguyễn Chí Trung, Ma Văn Kháng, Trần Thùy Mai, Thùy Linh, Doãn Dũng.
Thứ hai, cảm hứng lãng mạn cách mạng dần nhường chỗ cho cảm hứng thế sự, đời tư và cảm hứng nhân bản, nhân văn. Con người không còn xuất hiện như một thực thể tập thể trùng khít với nghĩa vụ công dân, mà được nhìn nhận ở tính chất cá thể đa chiều: con người tự nhiên, con người tâm linh và con người với những giằng xé đời thường. Tác giả phân tích các biểu hiện của sự yếu hèn, toan tính cá nhân hoặc hành vi phi nhân bản thời chiến như các nhân vật trong tác phẩm của Bùi Thanh Minh, Nguyễn Minh Châu, cũng như soi chiếu bi kịch dục vọng, bản năng bị kìm nén, căn bệnh "thiếu đàn ông" giữa rừng già trong Người sót lại của Rừng Cười (Võ Thị Hảo) hay Truyền thuyết về Quán Tiên.
Thứ ba, sự thay đổi trong cách nhìn nhận người lính phía bên kia chiến tuyến. Luận án chỉ ra tính chất nhân văn sâu sắc khi nhiều tác giả đương đại phá vỡ thế phân tuyến rạch ròi trước đây để miêu tả những người lính bên kia (lính Mỹ, lính Pháp, lính Pôn Pốt, lính Việt Nam Cộng hòa) như những con người có tâm lý, có sự thức tỉnh lương tri hoặc rơi vào bi kịch lịch sử (Ranh giới một vùng của Nguyễn Bảo, Lá thư từ Quý Sửu của Bảo Ninh, Cây số 42 của Dũng Hà, Đỉnh khói của Nguyễn Thị Kim Hòa, Hoa oải hương ven sông Sương của Nguyễn Thu Hằng). Tác giả so sánh hiện tượng này với trào lưu phản chiến trong văn học Mỹ của Larry Heinemann, Robert Olen Butler, Gustav Hasford; đồng thời khẳng định sự khác biệt cốt lõi: văn học Việt Nam luôn xác lập rõ tính chất chính nghĩa của sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ.
Chương 3: Các loại hình nhân vật chủ yếu
Dựa trên cấu trúc mục lục được công bố, Chương 3 đi sâu nghiên cứu việc phân loại và khắc họa thế giới nhân vật trong truyện ngắn sau năm 1975, tập trung vào hai hình tượng trung tâm:
- Nhân vật người lính: Khác với hình tượng anh hùng mang vóc dáng sử thi thuần nhất giai đoạn 1945–1975, người lính trong truyện ngắn sau năm 1975 hiện lên đa diện. Đó là những con người bước ra khỏi chiến hào đối mặt với bi kịch "lạc thời", mang trên mình thương tật thể xác cùng chấn thương tâm lý nặng nề; những con người phải vật lộn mưu sinh trong cuộc sống hòa bình, có lúc bất lực trước sự biến đổi đạo đức xã hội; đồng thời cũng có những khoảnh khắc lầm lạc, dao động, biểu hiện đầy đủ các phẩm chất người vừa cao cả vừa đời thường.
- Nhân vật người phụ nữ: Được khám phá sâu sắc qua mô típ góa phụ, những người vợ mòn mỏi chờ chồng, những nữ thanh niên xung phong hy sinh tuổi thanh xuân nơi chiến trường khốc liệt. Luận án đi sâu vào bi kịch khát khao hạnh phúc gia đình, thiên chức làm mẹ bị chiến tranh và di chứng chất độc hóa học tước đoạt, những nỗi đau âm thầm kéo dài suốt thời hậu chiến (Mười ba bến nước, Hai người đàn bà xóm Trại, Đi thăm chồng).
Chương 4: Những phương thức nghệ thuật đặc sắc
Chương 4 hoàn thiện bức tranh thi pháp truyện ngắn chiến tranh qua việc khảo sát bốn thành tố nghệ thuật:
- Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật: Sự chuyển đổi linh hoạt giữa người kể chuyện ngôi thứ ba với điểm nhìn khách quan, đa diện và người kể chuyện ngôi thứ nhất với điểm nhìn bên trong mang đậm tính tự thú, trải nghiệm cá nhân, phân tích nội tâm sâu sắc.
- Nghệ thuật tổ chức cốt truyện: Khảo sát các dạng cốt truyện tiêu biểu của truyện ngắn hiện đại như cốt truyện tâm lý, cốt truyện đồng hiện đan xen quá khứ và hiện tại, cốt truyện phân mảnh phá vỡ trật tự thời gian tuyến tính truyền thống.
- Nghệ thuật tạo dựng tình huống truyện: Khảo sát các tình huống nhận thức, tình huống éo le bi kịch và tình huống thử thách đạo đức làm bật lên chiều sâu bản thể nhân vật trong những bối cảnh sinh tử hoặc va đập thời bình.
- Ngôn ngữ nghệ thuật: Sự phân hóa đa dạng của ngôn ngữ với phong cách giàu chất đời thường, phương ngữ thô mộc; ngôn ngữ giàu tính triết lý, suy tưởng; cấu trúc ngôn ngữ mang tính đối thoại dân chủ và sự mở rộng tối đa của các lớp ngôn ngữ độc thoại nội tâm.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận và thực tiễn, luận án tự xác định các đóng góp mới cụ thể sau:
- Luận án bổ sung một góc nhìn hệ thống về sự vận động của thể loại truyện ngắn Việt Nam đương đại từ giác độ phản ánh một đề tài trọng đại xuyên suốt lịch sử dân tộc.
- Trên cơ sở gắn kết lý luận thi pháp với thực tiễn văn bản, luận án đánh giá một cách toàn diện tác động của sự thay đổi bối cảnh lịch sử, xã hội và sự chuyển biến của tư duy nghệ thuật đối với truyện ngắn viết về chiến tranh. Luận án làm sáng tỏ việc mở rộng biên độ phản ánh hiện thực không gian - thời gian và việc tái hiện thế giới nhân vật trong tính chất đa diện, phức tạp, lưỡng diện.
- Luận án chỉ ra các đặc trưng kế thừa và cách tân trên các phương diện hình thức nghệ thuật của thể loại: sự đổi mới điểm nhìn và nghệ thuật trần thuật, việc tổ chức cốt truyện phá vỡ khuôn mẫu truyền thống, nghệ thuật xây dựng tình huống kịch tính giàu ý nghĩa nhân sinh, cùng hệ thống ngôn ngữ đa thanh, giàu chất đời thường và chiều sâu triết lý.
Về kiến nghị và giải pháp đề xuất:
Văn bản không đưa ra các kiến nghị mang tính quản lý hành chính, mà đề xuất định hướng tiếp cận mang tính học thuật và sáng tạo:
- Khẳng định người cầm bút cần tiếp tục đổi mới tư duy, mở rộng biên độ phản ánh, đưa ngôn ngữ nghệ thuật tiệm cận hơn với đời sống thường nhật để phù hợp với tâm lý tiếp nhận của công chúng hiện đại.
- Lưu ý thái độ tiếp cận khi đổi mới: cần tỉnh táo phê phán khuynh hướng cách tân cực đoan, tránh cái nhìn sai lệch làm biến dạng bản chất chính nghĩa của các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ biên cương; kiên quyết bác bỏ thái độ "hạ bệ, giải thiêng" tùy tiện đối với các giá trị lịch sử thiêng liêng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Tác giả luận án tự nhận định việc tuyển chọn văn bản khảo sát chủ yếu dựa trên các tác phẩm đoạt giải, các tuyển tập tiêu biểu và trong phạm vi tác giả cập nhật được từ năm 1975 đến năm 2016. Do đó, việc lựa chọn này không tránh khỏi tính chủ quan của người nghiên cứu, bởi có thể dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu khác, sẽ có những tác giả hoặc tác phẩm khác được đánh giá là tiêu biểu hơn.
- Số lượng truyện ngắn phân bố ở mỗi cuộc chiến tranh (kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc) mang tính chất ngẫu nhiên dựa trên các tuyển tập được khảo sát, chứ không phản ánh tỷ lệ cân bằng cơ học giữa các cuộc chiến.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng diện khảo sát sang các tác phẩm truyện ngắn viết về chiến tranh của các cây bút trẻ xuất hiện sau năm 2016.
- Thực hiện các so sánh chuyên sâu hơn giữa truyện ngắn chiến tranh Việt Nam với các nền văn học khác trong khu vực và trên thế giới ở bình diện thi pháp thể loại và chấn thương tâm lý hậu chiến.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ rệt đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Văn học: Cung cấp một khung lý thuyết hệ thống về thi pháp thể loại truyện ngắn, tiêu chí phân loại nhân vật và mô hình chuyển đổi quan niệm nghệ thuật trong tiến trình văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.
- Đối với giảng viên và sinh viên các khoa Ngữ văn, Khoa học Xã hội và Nhân văn: Là tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy và học tập các học phần Văn học Việt Nam hiện đại, Lý luận văn học, Thi pháp học tác phẩm tự sự và chuyên đề về văn học đề tài lực lượng vũ trang.
- Đối với giới sáng tác và các nhà phê bình văn học: Đem lại cái nhìn tổng kết về những chặng đường thể nghiệm thể loại, gợi mở cách tiếp cận đề tài chiến tranh từ góc nhìn nhân bản hiện đại mà vẫn giữ vững bản chất chân thực của lịch sử.
Phần đáng tham khảo nhất của công trình là chương tổng quan lý luận thể loại truyện ngắn, hệ thống tư liệu tác phẩm giai đoạn 1975–2016 và những phân tích văn bản cụ thể về sự thay đổi điểm nhìn trần thuật cùng các trạng thái tâm lý nhân vật thời hậu chiến.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát truyện ngắn viết về những cuộc chiến tranh cụ thể nào trong lịch sử Việt Nam?
Văn bản xác định phạm vi phản ánh bao gồm bốn cuộc chiến: kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống đế quốc Mỹ, chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam cùng nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia.
2. Điểm khác biệt căn bản trong quan niệm nghệ thuật về con người giữa giai đoạn 1945–1975 và sau năm 1975 là gì?
Giai đoạn 1945–1975, con người được miêu tả mang tầm vóc sử thi, hòa lẫn vào tập thể và luôn trùng khít với phận vị xã hội, chính trị của mình. Sau năm 1975, đặc biệt từ năm 1986, quan niệm nghệ thuật chuyển sang con người cá thể với đời sống nội tâm đa diện, bao gồm cả con người tự nhiên, tâm linh, bản năng, xuất hiện những con người "không trùng khít" với phận vị xã hội, mang đầy đủ những mặt đối lập thiện - ác, cao cả - thấp hèn.
3. Luận án chỉ ra sự thay đổi nào trong cách xây dựng hình tượng người lính phía đối phương?
Truyện ngắn sau năm 1975 đã từ bỏ lối phân tuyến rạch ròi, sơ lược của thời chiến. Nhiều tác giả nhìn nhận người lính phía bên kia (lính Mỹ, lính Pháp, lính Pôn Pốt, lính ngụy) ở góc độ nhân bản, khắc họa những khoảnh khắc thức tỉnh lương tri, sự dằn vặt nội tâm hoặc hoàn cảnh lịch sử đưa đẩy họ vào guồng quay chiến tranh, qua đó nêu bật giá trị của lòng trắc ẩn và tính nhân văn phổ quát.
4. Khái niệm truyện ngắn được luận án xác định dựa trên những tiêu chí lý luận nào?
Tác giả dựa trên lý thuyết của Daniel Grojnowski, Verley, Bùi Việt Thắng và các từ điển chuyên ngành để khẳng định truyện ngắn là tác phẩm văn xuôi tự sự hư cấu cỡ nhỏ, thích hợp đọc liền một mạch, có cấu trúc dồn nén, tập trung khắc họa một khoảnh khắc hay một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh và đời sống tâm hồn con người.
5. Luận án có sử dụng phương pháp điều tra định lượng hoặc thống kê số liệu phần mềm không?
Không. Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuần túy thuộc chuyên ngành Lý luận văn học, chỉ sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học như lịch sử – xã hội, so sánh, thi pháp học, loại hình học, tiếp cận liên ngành tâm lý học - xã hội học và thao tác phân tích - tổng hợp văn bản.
Kết luận
Luận án Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 viết về chiến tranh của Nguyễn Thị Phương Thảo là công trình nghiên cứu chuyên sâu, bao quát tiến trình vận động của thể loại truyện ngắn đề tài chiến tranh trong hơn bốn mươi năm hòa bình. Luận án đã hệ thống hóa sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người theo hướng thế sự, đời tư và nhân bản, đồng thời phân tích sắc sảo những cách tân thi pháp về nghệ thuật trần thuật, tình huống, cốt truyện và ngôn ngữ. Công trình khẳng định sức sống lâu bền của đề tài chiến tranh trong nền văn học dân tộc, đóng góp nguồn tư liệu khoa học có giá trị cho việc nghiên cứu văn xuôi Việt Nam hiện đại.