đặt vấn đề tìm hiểu văn hóa và con người miền Trung qua sáng tạo nghệ thuật trong truyện của nhà văn Nguyễn Minh Châu là để làm sáng tỏ thêm những giá trị văn hóa và con người miền Trung. Qua đó, khẳng định sức sống, sự phong phú của văn hóa Việt Nam từ con người của vùng đất thân yêu của Tổ quốc: con người miền Trung.2 Vài nét về vùng văn hoá miền Trung 1.1 Vùng văn hoá miền Trung Vùng văn hoá là một khái niệm dùng để chỉ một vùng lãnh thổ, trên đó các cộng đồng cư dân có những nét tương đồng về văn hoá hình thành do những tương đồng về môi trường tự nhiên cũng như về lịch sử - xã hội. Từ nhiều chục năm nay, các nhà nghiên cứu đã đi đến nhận thức ngày càng rõ rằng trên đất nước ta, trên cơ sở một nền văn hoá Việt Nam thống nhất quả thật có tồn tại những “vùng văn hoá” khác nhau, mỗi vùng mang những sắc thái riêng, được hình thành do hoạt động của con người trong những điều kiện tự nhiên và lịch sử riêng biệt lâu dài. Vùng văn hoá miền Trung (hay còn gọi là Trung Bộ) là một vùng đất rộng lớn, có nhiều nét khác biệt về địa hình và lịch sử, bao gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Phan Rang, Ninh Thuận, Bình Thuận hiện nay.
Nói đến miền Trung người ta thường nhắc đến hình ảnh đất nước ta như một người gánh thóc, mà hai đầu là hai thúng thóc đầy, còn ở giữa là chiếc đòn gánh. Miền Trung là chiếc đòn gánh oằn vai tảo tần một nắng hai sương của đất nước. Địa hình miền Trung hẹp theo chiều ngang Đông - Tây, nếu quay mặt về Đông thì trước mặt mỗi người dân Trung Bộ sẽ là biển Đông, sau lưng là dãy Trường Sơn. Địa hình miền Trung chia cắt theo chiều dọc Bắc - Nam bởi các đèo là những dãy núi đồi tách từ Trường Sơn đâm ngang ra biển.
Đây có thể xem như một điểm độc đáo về địa hình của miền Trung, đúng như lời thơ nữ sĩ Hồ Xuân Hương “một đèo, một đèo, lại một đèo”. Những tên đèo như đèo Hoàng Mai, đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cù Mông, v.v…đã đi vào lịch sử, đi vào tâm hồn mỗi người dân đất Việt. Suốt dải đất Trung Bộ, đường bờ biển Việt Nam “ưỡn cong”, “lồi” ra phía sau biển Đông, đối mặt với hướng gió bão và sóng thần. Chính với đặc điểm này, miền Trung thường xuyên phải hứng chịu những trận bão lụt nặng nề.
Sát bờ biển, từ Quảng Bình trở vô Nam, Ngãi, Bình, Phú có các dải cồn cát chạy dọc dài Bắc - Nam ghi dấu những đường biển cũ. Ở giữa các dải cồn cát là một vùng trũng nổi, phân bố xóm làng và ruộng lúa ngày nay. Chân cồn là những bàu nước ngọt. Khí hậu miền Trung cực kì khắc nghiệt: gió Lào khô nóng, nắng thì chói gắt như đổ lửa…Ám ảnh bởi những cơn gió Tây khô rang, bỏng rát, nhà thơ Chế Lan Viên từng thốt lên chua xót: Ôi gió Lào ơi, Ngươi đừng thổi nữa Những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ Những đồi sim không đủ quả nuôi người.
Trên trang thơ Hàn Mặc Tử, trong nguồn cảm xúc dạt dào, da diết của kẻ tha hương, nỗi nhớ quê được đong đầy bởi hình ảnh khó nhọc, lam lũ: Chị ấy năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang. Có thể nói, địa hình và khí hậu miền Trung được xem như những dấu hiệu khu biệt miền Trung với các vùng miền khác. Về lịch sử, miền Trung cũng trải qua không ít thăng trầm. Năm 1059, vùng Quảng Bình thuộc về nhà Lí.
Năm 1336, Châu Ô, Châu Lí (tức vùng Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế ngày nay) thuộc về nhà Trần. Năm 1470, vùng đất từ núi Thạch Bi (nay thuộc Phú Yên) trở ra thuộc nhà Lê. Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn phủ xứ Thuận Hoá. Từ đó, sự nghiệp khai phá miền Trung được đẩy lên một bước mới.
Rồi 200 năm chiến tranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài, miền Trung trở thành lãnh địa được các chúa Nguyễn tạo ra với ý thức đối kháng với Đàng Ngoài. Kinh đô của vương triều này là vùng Phú Xuân. Phong trào nông dân khởi nghĩa thế kỉ XVIII làm lung lay chế độ phong kiến. Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi vua ở Phú Xuân, đất nước được thống nhất trên cơ bản.
Năm 1802, dựa vào thế lực của phương Tây, Nguyễn Ánh chiến thắng vương triều Tây Sơn, cai quản một đất nước thống nhất. Từ 1802 đến 1945, nhà Nguyễn đặt kinh đô ở Huế. Như vậy là miền Trung đã có một thời ít nhất với ba vương triều: các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn, có xứ Huế là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của cả nước. Trải qua tiến trình lịch sử, miền Trung Bộ là trạm trung chuyển, đất đứng chân để người Việt tiến về phía Nam mở cõi, lại là vùng biên viễn của Đại Việt, nơi diễn ra sự giao lưu trực tiếp giữa người Việt và người Chăm.
Do Trung Bộ trong một thời kì dài là vùng đất của vương quốc Champa, nên đây là một vùng văn hoá chứa nhiều dấu tích văn hoá Champa. Đó là các tháp Chàm như tháp Bình An, tháp Khương Mĩ, các tháp ở khu di tích Mĩ Sơn, khu di tích Đồng Dương (Quảng Nam – Đà Nẵng), tháp Bánh Ít, tháp Cánh Tiên ( Bình Định), tháp Hưng Thạnh (Qui Nhơn), tháp Nhạn (Phú Yên), tháp Pônagar (Khánh Hoà), cụm tháp Hoà Lai, cụm tháp Núi Trầu (Ninh Thuận), tháp Phú Hài (Bình Thuận)…Đó là các tượng Chàm như tượng bà Pônagar, các tượng Linga, Yoni, các phù điêu, các trụ đá, bia đá…Đó là các địa danh Việt mà gốc tích chắc hẳn là các địa danh Chăm như Cồn Ràng, Cồn Lồi, Cồn Mọi… Truyền thống văn hoá của cư dân vương quốc Champa cổ vẫn còn tồn tại một cách sống động trong đời sống cư dân miền Trung. Đó là những truyền thống văn hoá của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước khai thác vùng đồng bằng ven biển và các thung lũng chân núi ở miền Trung. Các yếu tố núi, đồng bằng và biển đều có mặt trong văn hoá Chăm.
Yếu tố đồng bằng thể hiện rõ trong các nghi lễ nông nghiệp như các nghi lễ gắn với chu kì sinh trưởng của cây lúa, các nghi lễ có liên quan đến hoạt động thuỷ lợi như lễ khai mương đắp đập, lễ chặn đầu nguồn nước. Yếu tố núi hiện còn được thể hiện trong tục thờ cúng tổ tiên dòng Núi là dòng cổ xưa nhất của người Chăm. Yếu tố biển thể hiện trong truyền thống đánh bắt hải sản, trong tục thờ cúng tổ tiên theo dòng biển, trong tín ngưỡng thờ cá voi, thờ thần Biển, trong một số kiến trúc có motip hình thuyền. Chất biển trong văn hoá Chăm ngày trước, văn hoá các vùng Trung bộ Việt Nam ngày nay rất mặn mòi, như chượp, mắm nêm, mắm ruốc, nước mắm, các loại đặc sản miền Trung.
Khi người Việt đến sinh sống ở vùng đất này, họ đã tiếp nhận những di sản văn hoá Chăm và Việt hoá nhiều yếu tố văn hoá Chăm. Một thí dụ tiêu biểu là hiện tượng chuyển hoá các nữ thần Chăm thành các nữ thần Việt, như nữ thần Mưjưc của người Chăm chuyển hoá thành Bà Chúa Ngọc. Tục thờ cá voi (cá Ông) của người Việt ở vùng duyên hải kết hợp tín ngưỡng của người Việt với tín ngưỡng của người Chăm. Trong văn hoá của cư dân Việt ở vùng đất đồng bằng và ven biển Trung Bộ có những yếu tố nằm trong cội nguồn văn hoá Bắc Bộ, như tục thờ thần thành hoàng, những nghi lễ nông nghiệp như lễ động thổ, tục cúng thổ công, thổ địa…Nhưng cũng lại có những yếu tố văn hoá mới nảy sinh trong những điều kiện tự nhiên và xã hội mới.
Như bên cạnh làng nông nghiệp có sự tồn tại đan xen các làng của ngư dân, bên cạnh lễ hội đình của làng nông nghiệp có lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ cá Ông của các làng làm nghề đánh cá; như lễ cúng đất ở Khánh Hoà, lễ tá thổ ở Phú Yên mà đối tượng là các vị thần Đất của Champa xưa kia, phản ánh một khía cạnh tâm linh trong cách ứng xử của người Việt di cư đến lập nghiệp tại một vùng đất khách, quê người. Văn hoá miền Trung như đã trình bày là một vùng văn hoá vừa có tính thống nhất vừa có tính đa dạng. Tính đa dạng khiến liền một dải “khúc ruột miền Trung” có thể được phân vùng thành vùng văn hóa đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ (từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên – Huế), vùng văn hóa duyên hải Trung Bộ (từ Quảng Nam đến Bình Thuận) [dẫn theo77, tr. Như ở phần giới hạn đề tài đã trình bày, khái niệm miền Trung trong tác phẩm Nguyễn Minh Châu chủ yếu được giới hạn trong vùng văn hoá Bắc Trung Bộ với tâm điểm là văn hoá xứ Nghệ nên ở đây chúng tôi chú ý trình bày về vùng văn hoá xứ Nghệ.
Văn hoá xứ Nghệ Nằm trong tổng thể văn hoá miền Trung, xứ Nghệ hay còn gọi là Nghệ Tĩnh, vừa có dấu ấn chung của văn hoá vùng, vừa có nét riêng đầy ấn tượng. Đây là một vùng đất cổ, một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ thuộc khu vực phía Nam nhà nước Văn Lang và Âu Lạc xưa. Xa hơn, Nghệ Tĩnh thuộc đất Việt Thường thời cổ. Vùng đất này có những đặc điểm riêng về thiên nhiên, lịch sử, tiếng nói, con người, về sinh hoạt văn hoá rất dễ dàng phân biệt với những vùng văn hoá khác trên đất nước.
Những điều kiện địa lí, lịch sử, những thăng trầm đau thương và anh dũng đã hun đúc cho người xứ Nghệ những tính cách riêng biệt. Là một phần máu thịt của Việt Nam, Nghệ Tĩnh gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh với 16 ngàn cây số vuông diện tích, cùng chung một dải đất liền với các địa phương khác. Trước hết, về địa hình, địa mạo, Nghệ Tĩnh có núi rừng trùng điệp, mênh mông, chiếm ngót hai phần ba diện tích. Núi trải dài và dày đặc ở phía tây, bốn mùa mây phủ, được nhân dân quen gọi là dãy Trường Sơn, núi đâm thẳng ra biển gọi là Đèo Ngang (hay Hoành Sơn).
Sách Đại Nam nhất thống chí gọi Nghệ An là “đất tứ đắc” ý nói bốn bề hiểm trở, có lẽ cũng vì thế. Gần như đây là một vùng chỉ choáng ngợp những núi và biển, nhiều sông ngòi.