Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu về thương mại miền Trung thế kỷ XVI - XIX Miền Trung Việt Nam từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XIX phần lớn nằm trọn vẹn trong thời kỳ cầm quyền của chúa Nguyễn Đàng Trong (1558 - 1774) và triều đại nhà Nguyễn (1802-1945). Chứa đựng những đặc điểm địa lý độc đáo với đầy đủ các dạng địa hình Núi - Đèo - Sông - Biển (chữ dùng của GS.
Trần Quốc Vượng) đã tạo nên đặc điểm kinh tế đa dạng cùng nhiều nét đặc sắc riêng biệt của xứ Nam Hà. Trong vài thập kỷ gần đây, với nhiều thành tựu nghiên cứu về lịch sử ngoại thương Việt Nam nói chung và thương mại thời chúa Nguyễn nói riêng đã cho thấy vị thế quan trọng của ngoại thương đối với quá trình định hình thể chế và tồn tại của Đàng Trong. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, tiềm lực kinh tế của quốc gia được đánh giá không phải dựa trên nguồn thu từ nông nghiệp mà thông qua số lượng thuyền buôn đến và đi. Bờ biển Đàng Trong là nơi tụ hội của đông đảo thương nhân các nước, đa dạng chủng loại hàng hóa và sự giao lưu mạnh mẽ về mặt văn hóa.
Thương phẩm của các nước từ phương bắc xuống, phương nam lên, từ biển vào, hòa vào dòng chảy thương mại từ tây sang đông của thị trường bản địa là điều kiện cho các hoạt động trao đổi, buôn bán, trung chuyển của xứ Thuận Quảng với khu vực và quốc tế. Với những điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại và thực tế ngay từ thời kỳ của nhà nước Chămpa, người Chăm đã là những thương nhân đi biển cừ khôi và thiết lập được mạng lưới buôn bán rộng khắp vùng biển Đông Nam Á. Mặc dù vậy, thương mại Việt Nam cho đến những năm 1960 mới bắt đầu được chú ý, với công trình tiêu biểu của Thành Thế Vỹ, Ngoại thương Việt Nam hồi đầu thế kỷ XVII, XVIII và đầu XIX, (Nxb. Đây là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về vị thế của ngoại thương bên cạnh kinh tế nền tảng - nông nghiệp trong lịch sử Việt Nam.
Trước công trình của Thành Thế Vỹ thì chỉ có một số ít bài viết đăng tải trên Nam Phong Tạp chí đề cập đến những vấn đề chung về ngoại 13 thương Việt Nam dưới thời chúa Nguyễn và nhà Nguyễn. Đây là tờ nguyệt san do Phạm Quỳnh làm Chủ nhiệm và Chủ bút, tồn tại trong 17 năm, từ năm 1917-1934, với 210 số. Nối tiếp Nam Phong là Tri Tân - một tạp chí văn hóa xuất bản hàng tuần ở Hà Nội từ năm 1941 đến năm 1945, cũng không có nhiều bài viết chuyên sâu đề cập đến hoạt động kinh tế thương mại Việt Nam, thay vào đó là một số bài nghiên cứu về các vấn đề chung của Đại Việt dưới thời chúa Nguyễn và có một số ít công trình chuyên san về vua Gia Long. Số lượng ít ỏi công trình khoa học về thương mại Việt Nam nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung giai đoạn này, dần được bổ sung với sự ra đời của Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa, vốn có tên đầu tiên là Tập san nghiên cứu Sử ký - Địa lý - Văn học do Ban nghiên cứu Sử Địa Văn xuất bản số đầu tiên vào tháng 6 - 1954, và số cuối cùng ra vào 1 - 1959, với tất cả 48 số.
Trên tạp chí này, trong số các bài viết về miền Trung thời trung đại thì công trình tiêu biểu là Tìm hiểu giá trị tập “Sãi Vãi” của Nguyễn Cư Trinh (Số 25, tháng 10/ 1957) của tác giả Đặng Việt Thanh. Đây mặc dù là một tác phẩm thơ, một cuộc đối thoại giữa các nhà sư tại Đàng Trong vào cuối thế kỷ XVIII, nhưng qua đó đã mang đến nhiều thông tin thú vị về bối cảnh chính trị, xã hội, văn hóa của Đàng Trong trước khi khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra, đặc biệt là mối quan hệ giữa vùng cao và đồng bằng ở vùng Quảng Ngãi. Một trong những đóng góp đáng kể nhất trong nghiên cứu về ngoại thương Việt Nam thời trung đại là các bài viết được công bố tên Tạp chí Đại Học. Tạp chí do Viện Đại Học Huế thành lập vào tháng 2/1958.
Số báo đầu tiên được xuất bản vào tháng 2- 1958 và số cuối (số 40) vào tháng 8-1964. Trong đó đặc biệt là các công trình nghiên cứu của tác giả Trần Kinh Hòa về các cảng thị của miền Trung dưới thời chúa Nguyễn, cũng như vị thế của người Hoa trong các thế kỷ này, như: Làng Minh hương và phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên, Tạp chí Đại học (Tạp chí nghiên cứu viện Đại học Huế, số 3 (năm thứ IV) (Tháng 7/ 1971). Như vậy, trong các thập niên 60, 70 của thế kỷ XX, khuynh hướng nghiên cứu về vị thế của thương mại, hoạt động bán trong lịch sử Việt Nam vẫn chưa thu hút được sự chú ý của các học giả trong và ngoài nước. Sau đóng góp của Thành Thế Vỹ, nghiên cứu về xứ Thuận - Quảng trong những năm 1970 phải kể đến công trình Quảng Nam qua các thời đại (Quyển thượng) của tác 14 giả Phan Du (1974).
Ông đã dành nhiều dung lượng phân tích, lý giải nguyên nhân đưa tới sự hưng thịnh của thương cảng Hội An dưới thời chúa Nguyễn, trong đó tác giả nhấn mạnh đến vai trò của nguồn hàng xung quanh Hội An, đặc biệt là thương phẩm từ vùng núi phía tây: “Hội An phát triển được là nhờ nằm ở dinh trấn Thanh Chiêm thuộc phủ Điện Bàn, nơi đây có nguồn thương phẩm đa dạng về mọi mặt: như vàng ở huyện Hà Đông; lụa, sa, sô ở huyện Hà Đông, Diên Phước, Duy Xuyên, Bình Sơn, Mộ Đức, Tuy Viễn, Bồng Sơn, lãnh đen ở huyện Diên Phước, Tuy Viễn; tổ yến ở đảo Đại Chiêm và phủ Hoài Nhân; quế ở nguồn Chiêu Đàn huyện Hà Đông, nguồn Thu Bồn huyện Quế Sơn, nguồn Thanh Cù, Thanh Bồng (Quảng Ngãi); thuốc lá ở Xuân Phường, Cẩm Lệ, Hoa Viên ở nguồn Hà Thanh huyện Tuy Viễn. Tiếp đến những năm 1980 - 1990, nghiên cứu về lịch sử ngoại thương thu hút được sự chú ý của các học giả trong và ngoài nước. Nhiều vấn đề về thương mại truyền thống Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu về các cảng thị ở miền Trung đã đạt được nhiều nhận thức mới trong giai đoạn này, tiêu biểu là các công trình, Biển với người Việt cổ, của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (1996); Phố Quảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII – XVIII, của tác giả Đỗ Bang (1996). Đặc biệt khi nhắc đến ngoại thương Việt Nam dưới thời chúa Nguyễn, phải kể đến đóng góp của học giả Li Tana.
Khi vào năm 1992, tác giả đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, với nhan đề: “The Inner Region: A Social and Economic History of Nguyen Vietnam in the 17th and 18th Centuries”, tại Đại học quốc gia Úc. Công trình của Li Tana sau đó được Nguyên Nghị dịch ra tiếng Việt vào năm 1999 (tái bản năm 2013), với tên gọi “Xứ Đàng Trong lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18”. Nghiên cứu của Li Tana, vào thời điểm đó đã cung cấp nhiều luận điểm rất mới mẻ về vị thế của thương mại đối với sự phát triển của chúa Nguyễn vào thế kỷ XVI - XVIII. Trong đó, tác giả nhấn mạnh vai trò của vùng cao trong hệ thống kinh tế của chúa Nguyễn.
Từ việc làm rõ các mặt hàng xuất khẩu của Đàng Trong có nguồn gốc từ vùng nội địa phía tây, Li Tana cho rằng: “Việc buôn bán giữa người Việt Nam và các dân tộc vùng cao nguyên ở Đàng Trong vào thế kỷ 17 và 18 có một tầm quan trọng hơn ngày nay chúng ta tưởng nhiều. Các sản phẩm miền núi quả là quan trọng 15 đối với nền kinh tế của Đàng Trong đến độ người Việt đã nghi thức hóa tiến trình trao đổi hàng hóa này trong một nghi lễ gọi là “đi nguồn”. Kết quả nghiên cứu của Li Tana sau đó được rất nhiều học giả trong và ngoài nước kế thừa, phát triển trong khuynh hướng nghiên cứu về lịch sử thương mại Việt Nam, vốn vẫn còn ít được chú trọng trong giai đoạn này. Tiếp theo Li Tana, phải kể đến các công trình của Charles Wheeler như: Cross - Culture Trade and Trans- Regional Networks in the Port of Hoi An Maritime Vietnam in the Early Modren Era, luận án tiến sĩ được bảo vệ tại Đại học Yale năm 2001; cùng hàng loạt các công trình khác của tác giả như: Charles Wheeler (2006), One region, two histories; Re-thinking the Sea in Vietnamese History: Littoral society in the integration of Thuận - Quảng Seventeenth - Eighteenth centuries.
Lí giải cho sự phát triển mạnh mẽ của hải thương Đàng Trong, cả Li Tana và Charles Wheeler đều khẳng định vai trò của nguồn thương phẩm từ vùng núi phía Tây trong việc mang lại nguồn tài chính đáng kể cho chính quyền họ Nguyễn. Dành nhiều sự quan tâm về mạng lưới buôn bán Đông - Tây, Charles Wheeler đã lấy cơ cở đó để luận giải cho sự phát triển mạnh mẽ của Hội An trong Kỷ nguyên thương mại ở Đông Nam Á. Theo tác giả, nguồn thương phẩm từ vùng nội địa phía Tây của Hội An đã được vận chuyển qua nhiều điểm buôn bán, trao đổi trước khi được mang đi xuất khẩu. Khẳng định tầm quan trọng của kết nối giữa biển và lục địa tại xứ Thuận - Quảng, Charles Wheeler lại không tập trung khảo sát về sự quản lý, kiểm soát hoạt động buôn bán xuôi - ngược, hay cách thức chính quyền chúa Nguyễn thu thuế ở vùng cao… mặc dù những điều này ít nhiều đã được công trình của Li Tana gợi mở.
Ngoài các công trình trên thì nghiên cứu của học giả quốc tế như: Danny Tze Ken Wong với The Nguyen and Champa During 17th and 18th Century: A Study of Nguyen Foreign Relations; hay Liam C. Kelley (2020), Taxation and Military Conscription in Early Modern Vietnam: Nguyễn Đàng Trong in Comparative Perspective cũng cung cấp thêm nguồn tư liệu, kết quả thú vị về các khía cạnh khác nhau về lịch sử Việt Nam thời kỳ cầm quyền của chúa Nguyễn Đàng Trong. Như một sự bổ sung cho các nghiên cứu của học giả nước ngoài, khuynh hướng nghiên cứu về vai trò của thương phẩm đối với sự vận hành và hưng thịnh của 16 hải thương Đàng Trong cũng sớm xuất hiện ở trong nước.