chương 1: 19 tháng 12 năm 1946 đã tái hiện một cách chỉ tiết, cụ thể về giai đoạn 1945 - 1946, đặc biệt là những khó khăn của cách mạng Việt Nam những ngày đầu giành độc lập về: kinh tế, tài chính, quân sự, ngoại giao. Thù trong, giặc ngoai đã đặt vận mệnh dân tộc trước tình thế cực kì hiểm nghèo. Cũng là hồi ức của tác giả Võ Nguyên Giáp còn có cuốn: “Những chặng đường lịch sử" [53]. Cuỗn sách gồm hai tập: “Từ nhân dân mà ra và Những năm 18 tháng không thể nào quên”.
Với hơn 600 trang, cuốn sách đã đề cập đến hai thời kỳ đấu tranh cách mạng có quan hệ đến sự tồn vong của dân tộc đó là: chuẩn bị giành chính quyền và năm đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám 1945 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng ở thời điểm ay, tác giả đã tai hiện giai đoạn lịch sử đầy khó khăn, thử thách dân tộc, một giai đoạn cách mạng mà có lúc vận nước như “ngàn cân treo sợi tóc”, nền độc lập dân tộc vừa gianh được đã phải bước vào cuộc đấu tranh quyết liệt cho sự tồn tại của mình. Cuốn: “Công cuộc bảo vệ và xây dựng chính quyền nhân dân ở Việt Nam trong những năm 1945 - 1946” [199] của Nguyễn Tố Uyên. Tác giả di sâu phân tích tình hình đất nước sau ngày độc lập trên cả phương diện thuận lợi và khó khăn.
Trong đó, tác giả đặc biệt nhắn mạnh về những khó khăn chồng chất của cách mạng Việt Nam trên các mặt: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và đối ngoại. Chính điều này đã làm cho tình hình đất nước trở nên căng thăng hơn bao giờ hết, tác động trực tiếp đến nền độc lập của dân tộc. Cuốn: “Kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc bảo vệ các thành quả cách mạng giai đoạn 1945 - 1946 [176] của Hoang Thi Kim Thanh. Dành một dung lượng khá lớn trong cuốn sách, tác giả đã khái quát tình hình Việt Nam sau cách mạng tháng Tám năm 1945.
Bên cạnh chỉ ra những thuận lợi cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này, tác giả cũng phân tích, làm rõ muôn van khó khăn, thử thách đe dọa trực tiếp tới nền độc lập dan tộc vừa giành được, đó là: các thé lực dé quốc de dọa trực tiếp đến nền độc lập dân tộc, sự chống phá của các đảng phái phản động trong nước, những khó khăn gay gắt về kinh tế - tài chính, chưa có lực lượng vũ trang chính quy, cách mạng Việt Nam chưa có sự ủng hộ và giúp đỡ của cách mạng thế giới, hoàn toàn tự vệ. Những khó khăn trên đặt chính quyền cách mạng và vận nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Cuốn: “Hòa hoãn với kẻ thù, sách lược sáng tạo của Đảng thời kỳ 1945- 1946” [123] của Vũ Như Khôi. Tác giả cũng làm rõ tình thế hiểm nghèo của cách mạng Việt Nam sau khi cách mạng Tháng Tám (1945) thành công.
Không chỉ phải 19 chống với kẻ thù dé quốc và các lực lượng phan động đông và mạnh, với những âm mưu chống phá cách mạng điên cuồng mà cách mạng còn gặp phải những khó khăn chồng chất như: chính quyền cách mạng còn non trẻ, khối đại đoàn kết dân tộc chưa được củng cố, lực lượng vũ trang còn ít, trang bi thiếu thốn, nền kinh tế vốn đã nghẻo nàn lạc hậu lại bị chiến tranh và thiên tai tàn phá, tệ nạn xã hội do chế độ cũ đề lại. Theo tác giả, một cuộc cách mạng nào khi mới thành công cũng đều gặp phải những khó khăn to lớn. Nhưng những khó khăn của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này là khó khăn, thử thách đặc biệt nghiêm trọng, gây cản trở cho việc bảo vệ thành quả cách mạng [123, tr. Cuốn: “Đại cương lịch sử Việt Nam, tập IIT’ [60] do tác giả Lê Mau Han chủ biên.
Cuốn sách được kết cầu thành 3 phần với 10 chương, tương ứng với ba giai đoạn của cách mạng Việt Nam (1945 - 1954, 1954 - 1975, 1975 - 2006). Trong đó, phần I với nội dung: Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và xây dựng nền Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1954), tác giả đã tái hiện một cách day đủ, chi tiết về tình hình cách mạng Việt Nam sau năm 1945. Đặc biệt, công cuộc giữ vững độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam được diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước có nhiều khó khăn, phức tạp. Từ những phân tích đó, tác giả đã khang định: “giặc trong, thù ngoài, khó khăn chồng chất khó khăn dé nặng lên đất nước ta, đặt chính quyền cách mạng non trẻ trước một tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.
Vận mệnh độc lập, tự do của dân tộc vừa mới giành được đang đứng trước nguy cơ mat còn” [60, tr. Cuốn: “Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1950 (tập 10) [25] do tác giả Đinh Thị Thu Cúc chủ biên. Cuốn sách đã trình bày một cách tương đối toàn diện, phác họa rất rõ nét lịch sử Việt Nam trong những năm 1945 - 1950. Trong chương I: Việt Nam từ thành lập nền Dân chủ Cộng hòa đến Kí hiệp định Sơ bộ Việt - Pháp, tác giả làm rõ những khó khăn, thử thách khiến cho nền độc lập dân tộc có nguy cơ bị phá hoại.
Từ đó, tác giả khăng định: rõ ràng tất cả các lĩnh vực quan trọng nhất của một dat nước: chính tri, quân sự, kinh tê, văn hóa - xã hội, ngoại giao đêu dang 20 gặp những lực cản lớn. Cách mạng Việt Nam đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng [25, tr. Cuốn: Quan hệ chính trị quốc tế giai đoạn 1945-1946 và tác động đến Việt Nam [126] của Phùng Chí Kiên. Cũng với cách tiếp cận chính trị học quốc tế, tác giả làm rõ khó khăn của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn 1945 - 1946 do tác động bắt lợi từ tình hình chính trị trong nước và quốc tế mang lại.
Có thé thấy ở một số khó khăn như: nền độc lập dân tộc bị đe dọa bởi thế lực ngoại bang; tình hình chính trị đất nước trở nên phức tạp với nhiều đảng phái chính trị cùng tồn tại, trong đó có nhiều Đảng đối lập với Đảng Cộng sản, việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước gặp nhiều khó khăn, khối đại đoàn kết dân tộc phải đối mặt với nhiều thử thách, tình hình an ninh - trật tự với nhiều bất 6n đe dọa tới sự tồn vong của chế độ. Tất cả đã đây dân tộc Việt Nam vào một khoảng thời gian khó khăn, phức tạp nhất trong lịch sử dân tộc [126, tr. Cuốn: “Nghệ thuật tập hop lực lượng cua Đảng và Chủ tịch Hà Chí Minh thời kỳ 1945 - 1946” [195] của tác giả Nguyễn Văn Trường. Dé làm rõ nội dung thé hiện rõ nét nghệ thuật tập hợp lực lượng của Dang va Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm tạo ra sức mạnh to lớn thực hiện thăng lợi sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc, tác giả di sâu phân tích tình hình trong nước và thái độ của các giai tầng sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Theo tác giả, “cùng với những thuận lợi, thì cách mạng Việt Nam đang phải đối mặt với một tình thế hết sức hiểm nghèo như”ngàn cân treo sợi tóc” với những khó khăn chồng chất, đe dọa trực tiếp đến sự ton tại của chính quyền” [195, tr. Bên cạnh đó bài viết, “Bác Hồ với Hà Nội năm 1946, năm thế nước “ngàn cân treo sợi tóc” [129] của tác giả Vũ Kỳ đăng trên tạp chí Lịch sử Đảng cũng là nguồn tư liệu tham khảo, bổ sung và hỗ trợ quan trọng cho quá trình tiếp cận nghiên cứu vấn đề thực lực của cách mạng Việt Nam (1945 - 1946) trong luận án. Qua việc khảo cứu các tài liệu giai đoạn 1945 - 1946, các công trình nói trên đã góp phần xác định hệ vấn đề độc lập dân tộc của Việt Nam. Có thé thay, su de dọa trực tiép của các thé lực đê quôc, thực luc quôc gia còn non yêu với những khó 21 khăn trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, ngoại giao.
là những vấn đề tác động trực tiếp đến nền độc lập ở Việt Nam. Đặt ra yêu cầu cần giải quyết dé giữ vững thành quả cách mạng đó. Công trình nghiên cứu nội dung và gid tri của những giải pháp chính tri của Hồ Chí Minh đối với van dé độc lập dan tộc ở Việt Nam giai đoạn 1945 - 1946 1. Công trình nghiên cứu về nội dung và thành tựu những giải pháp chính trị của Hồ Chi Minh Giai đoạn 1945 - 1946 là giai đoạn rất đặc biệt của cách mạng Việt Nam, với những hoạt động không mệt mỏi của Hồ Chí Minh nhằm giữ vững độc lập dân tộc.
Nghiên cứu về nội dung cũng như thành tựu những giải pháp chính trị của Hồ Chí Minh trong giai đoạn này, có một số công trình nghiên cứu như sau: Công trình nghiên cứu về nội dung và thành tựu giải pháp về ngoại giao (1945-1946) Cuốn: “Ngoại giao Việt Nam phương sách và nghệ thuật đàm phán” [105] của tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh. Qua khảo sát, tác giả đưa ra nhận xét chung về biện pháp ngoại giao (1945 - 1946) là: Đề cao chủ quyền, thế hợp pháp và sức mạnh của chính quyền cách mạng. Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ các lực lượng thù địch, kiềm chế, hòa hoãn với Tưởng, tập trung sức chống Pháp. Tác giả đặc biệt nhắn mạnh tới van đề pháp lý quốc gia trong đấu tranh và đặt sức mạnh hợp pháp này lên hàng đầu trước khi nói về các biện pháp ngoại giao khác.
Tác giả Bùi Dinh Phong trong cuốn: “Ban lĩnh chính trị Hồ Chi Minh” [158] khẳng định, ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh những năm 1945 - 1946 là: thêm bạn bớt thù, “hòa dé tiễn”; phân hóa kẻ thù; đưa cách mạng Việt Nam vượt qua thử thách hiểm nghèo; tiếp tục tiền lên; “kiên quyết đi đôi với êm dịu”; kiên trì quyền độc lập dân tộc, sự thống nhất toàn vẹn lãnh thé của Tổ quốc. Day là những quan điểm phân tích khá chi tiết về những biện pháp ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn này. Tác giả Nguyễn Phúc Luân trong cuốn: “Wgoại giao Hồ Chí Minh lấy chí nhân thay cường bao” [140] đã làm rõ hoạt động đối ngoại của Hồ Chí Minh trong suốt 22 giai đoạn 1945 - 1946.