CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TƯ TƯỞNG HÒ CHÍ MINH VỀ LIÊM CHÍNH CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Khái niệm và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về liêm chính của cán bộ, công chức 1. Khai niệm can bộ, công chức Thuật ngữ “cán bộ”, “công chức” đã được sử dụng rât lâu và rât rộng ở 99 cC nước ta. Cụm từ “cán bộ”,”công chức” là thuật ngữ được sử dụng phô biên trong lĩnh vực công vụ, hành chính công, và thường xuât hiện một cách dày dac trong moi linh vuc cua doi song, xã hội.
Thuật ngữ “cán bộ” 99 66 “công chức” đã xuất hiện rất nhiều lần trong hệ thống pháp luật nước ta. Trong Hiến Pháp 1992 đã có nhiều điều khoản quy định sử dụng nhiều lần các thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”, nhưng chưa giải thích cụ thể các thuật ngữ này. Cho đến khi Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 và sau đó là Nghị định SỐ 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của Chính phủ ban hành “Về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước” thì khái niệm “cán bộ” “công chức” mới được đề cập đến”, nhưng khái niệm này giải thích khá ngắn gọn răng cán bộ, công chức là những người làm việc trong các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên cách gọi này không giải quyết được vấn đề trong việc phân định rõ khái niệm cán bộ, công chức, Chỉ đến khi Luật cán bộ, công chức 2008 được ban hành thì thuật ngữ “cán bộ” “công chức” mới 99 66 được phân định rõ ràng, cụ thể: 1.
Khải niệm cản bộ Khoản I Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bau cử, phê chuẩn, b6 nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [22]. Theo quy định nay thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bau cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhân mạnh: “Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thê thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ đở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” [16].
Quan điểm bao trùm và xuyên suốt trong sử dụng, bố trí cán bộ của Người là phải đảm bảo sáu nguyên tắc căn bản: Thứ nhất, phải hiểu biết rõ cán bộ. Thường xuyên xem xét, đánh giá cán bộ dé phát hiện, sử dung nhân tài va loại bỏ người thoái hóa, biến chất. Thứ hai, phải cất nhắc cán bộ cho đúng. Không dùng đúng tài của người có tài thì cũng không được việc.
Phải tránh sai lầm trong cất nhắc cán bộ. Thứ ba, phải khéo dùng cán bộ. Không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Nên phải biết tùy tài mà dùng người cho đúng.
Thứ tư, phân phối cán bộ cho đúng, dùng người đúng chỗ, đúng việc. Thứ năm, phải tạo điều kiện, cơ hội cho họ phát huy hết khả năng vào thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Phải luôn luôn kiểm tra, giám sát, kiểm soát cán bộ, giúp họ sửa chữa những chỗ sai lầm. Khen ngợi lúc họ làm được việc.
Chăm sóc, động viên họ khi họ hoặc người thân trong gia đình họ ốm đau, gặp khó khăn, hoạn nạn. Thứ sáu, phải thương yêu, g1ữ gìn, bảo vệ cán bộ. Trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt cán bộ trong sự tổng hòa các mối quan hệ. Trước hết, Người coi "cán bộ là cái gốc của mọi công việc" [16, tr.
Theo quan niệm cua Chủ tịch Hồ Chí Minh, cây thì phải có gốc, không có gốc thì cây héo, sông thì phải có nguồn, không có nguồn thì sông cạn. Vì vậy trong mọi việc mà không có cán bộ thì không thể hoan thành. Người nhận định “muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” [16, tr. Bởi cán bộ là một mắt xích quan trọng trong chuỗi liên kết giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân.
Trong tác pham Stra đổi lối làm việc 10/1947 Bac đã nhận định “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ để hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [16, tr. Có thé thay rang cán bộ có vai trò rất quan trọng đối với sự thành bại của bộ máy nhà nước, là những người sẽ góp phần thực hiện được những mục tiêu xây dựng đất nước được nhân dân tin tưởng gửi gam vào những cán bộ ưu tú nhất, có đủ khả năng gánh vác trách nhiệm to lớn nay. Xây dựng đội ngũ cán bộ vững chắc về cả tài và đức là một trong những mục tiêu quan trọng được Đảng ta đặt lên hàng đầu trong suốt thời gian qua.
Bởi chỉ có đội ngũ cán bộ trong sạch vững mạnh mới có thé giúp Nhà nước ta vững mạnh, sánh ngang với cường quốc năm châu. Khái niệm công chức Giống với thuật ngữ “cán bộ”, thuật ngữ “công chức” đã xuất hiện rất lâu trong xã hội nước ta. Tuy nhiên trước đó chưa có văn bản nào giải thích cụ thê thuật ngữ này. Cho đến khi Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10- 2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước mới gọi tắt cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước là công chức được công bó, thì khái niệm này mới được giải thích nhưng vẫn còn khá đơn giản, văn tăn.
Đề đáp ứng điều này bộ Luật 10 cán bộ, công chức 2008 đã ra đời, tại đó thuật ngữ “công chức” lần đầu tiên được giải thích rõ ràng và phân định rõ ràng với thuật ngữ “cán bộ”. Trong Luật cán bộ, công chức năm 2008, tại khoản 2 điều 4 đã nhận định”. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyên dụng, bố nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tô chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng: trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tô chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quan lý cua đơn vi sự nghiệp công lập thì lương được bao đảm từ quỹ lương của đơn vi sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [22, Điều 4, Khoản 2]. Theo như điều khoản trên thì đội ngũ công chức bao gồm cả "công chức trong bộ máy lãnh đạo, quan lý trong đơn vi sự nghiệp công lap".
Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới đặt ra trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xây dựng một nên hành chính trong sạch, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với xu hướng chuyền đôi sang nén hanh chinh phuc vu, thuc hién tốt nhiệm vu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, một số quy định của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV, ngày 225/11/2019 đã có những thay đổi tích cự dé phù hợp với nhu cầu thực tế:Cụ thê khái niệm công chức được sử đôi như sau: 11 Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vi trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng: trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyên dụng, bố nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyên vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vi sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyên dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức. Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính nhất định được cơ quan có thâm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tô chức có thâm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyên hạn được giao”. Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy có thé thay là rất phù hợp với điều kiện cụ thé và thể chế chính trị ở Việt Nam bởi giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính tri của nước ta luôn có sự gan bó chặt chẽ.Đặc biệt việc quy định công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập là hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp của Việt Nam.
Theo như khái niệm "công chức" được quy định trong Luật sửa đôi, bổ sung đã không còn đối tượng "công chức là công dân Việt Nam, được tuyén dụng, b6 nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong bộ máy lãnh đạo, quản 12 lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội".