mở đầu thời đại mới khi đã đập tan xiềng xích và giáng đòn chí mạng vào chủ nghĩa đế quốc. Tiếng chuông vang trời đã thức tỉnh nhân dân châu Á khỏi cơn mê, khơi dậy và nuôi dưỡng khát vọng giải phóng dân tộc. Trước Cách mạng Tháng Mười, giáo hội Cơ đốc giữ vai trò như thành tố của bộ máy nhà nước, thần quyền và thế quyền cuộn vào nhau, siết chặt nhân dân trong đời sống vật chất khổ đau và đời sống tinh thần u mê. Công cuộc đấu tranh với thế quyền giành lại tự do, dân chủ của nhân dân gắn liền với cuộc đấu tranh chống thần quyền.
Vấn đề này trở thành một trong những nội dung cốt lõi trong các cương lĩnh, chiến lược của Đảng Dân chủ Xã hội Nga. Thay cho những điều ngăn cấm và hình phạt nghiêm khắc trong việc truyền bá các tín ngưỡng, tôn giáo khác để đảm bảo vai trò độc tôn của Nga hoàng và nhà thờ, trong các Dự thảo Cương lĩnh, các quyền bình đẳng và tự do tôn giáo đã được quy định rõ ràng. Cương lĩnh quy định mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, mỗi người có quyền theo hoặc không theo bất cứ tôn giáo nào, có quyền tự do thay đổi tín ngưỡng, tôn giáo, không ai có thể ép buộc người khác theo tín ngưỡng của mình, không tôn giáo nào được coi mình ở vị trí độc tôn, thống trị. Ngay sau Cách mạng Tháng Mười Nga, nhiều sắc lệnh đã được ban hành và thực hiện, tạo điều kiện thay đổi căn bản đời sống xã hội và đời sống tinh thần của nhân dân theo hướng tích cực.
Đặc biệt là việc ban hành sắc lệnh chung về việc tách nhà thờ ra khỏi Nhà nước, tách trường học ra khỏi khỏi nhà thờ, Nhà nước không được dùng quỹ công để tài trợ cho bất cứ tôn giáo nào, nhà thờ nào. Những nội dung và những thành quả của công cuộc cải cách đã trở thành những tiền đề quan trọng cho các bước đổi mới ở các 15 nước xã hội chủ nghĩa sau này, là bài học quan trọng trong cuộc đấu tranh chống thần quyền, thế quyền gắn liền với đấu tranh chính trị, giai cấp. Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, được tìm hiểu, chứng kiến, trải nghiệm việc giải quyết vấn đề tôn giáo của nhiều quốc gia, đặc biệt của các nước xã hội chủ nghĩa đã giúp Hồ Chí Minh đúc rút kinh nghiệm trong cách mạng Việt Nam. Gắn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với cuộc đấu tranh chống lại các thế lực lợi dụng tôn giáo để đàn áp, bóc lột tinh thần nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Cơ sở lý luận Văn hóa Việt Nam hình thành lâu đời từ cơ tầng văn hóa bản địa khu vực Đông Nam Á, biến đổi và phát triển theo chiều dài lịch sử hàng ngàn năm, trở thành cội nguồn nuôi dưỡng tinh thần của toàn dân tộc. Trong suốt quá trình đấu tranh bảo vệ Tổ quốc trước các thế lực ngoại xâm, văn hóa Việt Nam sừng sững như một trường thành kiên cố trước những âm mưu đồng hóa. Trong tiến trình giao thoa với các nền văn hóa khác, trước hết là Trung Quốc, Ấn Độ và các nền văn hóa phương Đông, sau đó là văn hóa phương Tây, văn hóa Việt Nam đã tiếp thu, chắt lọc những giá trị văn hóa phù hợp với bản sắc dân tộc. Đồng thời, gìn giữ, nuôi dưỡng bản sắc riêng vươn lên phát triển mạnh mẽ hơn, thăng hoa hơn.
Văn hóa Việt Nam là tổng hòa văn hóa của 54 dân tộc, cùng cội nguồn là bọc trăm trứng nở ra trăm người con, lên rừng và xuống biển, xây dựng đất nước. Đó là gốc rễ của truyền thống đoàn kết toàn dân tộc. Lịch sử Việt Nam là những trang sử oai hùng, oanh liệt chống giặc ngoại xâm. Một đất nước người không đông lắm, đất không rộng lắm, nằm ở vị trí địa - chiến lược, chính là địa thế mà các thế lực ngoại xâm muốn chiếm lấy.
Hàng loạt các đội quân xâm lược đã tiến hành những cuộc tấn công như quân Hán, quân 16 Nguyên, quân Thanh, thực dân,… Bên cạnh đó, tự nhiên vốn thách thức những con người nơi đây bằng chính sự khắc nghiệt và hiểm trở, người Việt luôn phải trong tâm thế sẵn sàng đối mặt với gió bão, lũ lụt, hạn hán,… Cộng đồng người Việt chỉ có thể đoàn kết lại thành một khối thống nhất để tạo ra nguồn sức mạnh tổng hợp. Có thể nói, tinh thần đoàn kết dân tộc là giá trị cốt lõi, có ý nghĩa đặc biệt trong sự trường tồn của dân tộc, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nòi giống Lạc Hồng mang dòng máu yêu nước, truyền thống yêu nước trở thành niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Điều này thể hiện sâu sắc trong những câu chuyện kể, những bài ca dao và những tấm gương trong lịch sử.
Dân tộc Việt Nam hiểu rõ “nước mất thì nhà tan”, nên luôn đoàn kết một lòng mỗi khi có sự xâm phạm bờ cõi, già trẻ, gái trai cùng nhau chiến đấu. Tinh thần ấy được khắc họa qua những bài thơ, bài văn chính luận của các bậc tướng lĩnh, anh tài như “Hịch tướng sĩ”, “Nam quốc sơn hà”, “Bình ngô đại cáo”,… thể hiện chí khí anh hùng, chủ quyền dân tộc. Một nền văn hóa trọng dụng nhân tài, nhận thức sâu sắc tư tưởng hiền tài là nguyên khí của quốc gia, không quan trọng xuất thân, chỉ cần là người đủ đức, đủ tài đều được tôn quý và trọng dụng. Hầu hết các triều đại đều chú trọng đào tạo và tìm kiếm nhân tài trong nhân dân.
Từ đó, đào tạo ra hàng ngũ sĩ phu, trí thức đóng góp cho đất nước, tạo ra những tên tuổi làm rạng danh dân tộc. Bước vào những kỷ nguyên độc lập, thực tế cho thấy, triều đại nào thực thi chính sách an dân, lấy dân làm gốc thì quy tụ được lòng dân. Bộ luật Hình thư đầu tiên của nước ta tại triều Lý với những quyết sách quan trọng đã thể hiện được vai trò của lòng dân đối với vận mệnh của quốc gia, triều Lý tồn tại và phát triển hưng thịnh trong hơn 200 năm. Hội nghị Diên Hồng năm 1284, với sức mạnh của lòng dân đã đánh bại giặc Nguyên - Mông 17 hùng mạnh đến ba lần.
Dân có thể chở thuyền, càng có thể lật thuyền, thượng sách để giữ nước không gì khác ngoài khoan thư sức dân, tư tưởng này trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt qua các triều đại và công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong lao động sản xuất, vai trò của người phụ nữ được tôn trọng, thể hiện qua các hình thức ghi công những nữ anh hùng kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam như hai Bà Trưng, Dương Vân Nga, Bùi Thị Xuân. Người Việt có tục thờ Mẫu qua thời gian trở thành tín ngưỡng bản địa Việt Nam, hình tượng của quyền năng sinh sôi, nảy nở, bảo bọc, che chở của người mẹ. Tục thờ Mẫu vì vậy mà đi sâu vào đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.
Việt Nam có khoảng 50 hình tượng Mẫu được tôn thờ, đa số là hình tượng nhân vật lịch sử có công với dân tộc. Nữ quyền đã sớm xuất hiện trong các bộ luật thời phong kiến như Hình thư, Quốc triều hình luật, luật Hồng Đức,… Những nội dung tiến bộ này thậm chí được đề cập trước cả khi làn sóng đòi “nữ quyền” vào những năm đầu thế kỷ XIX. Những giá trị đạo đức cốt lõi trong văn hóa Việt Nam là giá trị nhân văn, trọng tình, trọng nghĩa, yêu nước nên người Việt từ lâu đã giàu lòng vị tha, yêu thương, tự lực, tự cường, lao động chăm chỉ, sáng tạo. Bên cạnh những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, trong tiến trình giao thoa, hội nhập với những tư tưởng và văn hóa các quốc gia, văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của những hệ thống tôn giáo và học thuyết chính trị, đặc biệt là hệ tư tưởng tam giáo Nho, Phật, Lão.
Hệ tư tưởng này có tác động lớn, chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp, đa chiều mà các giai cấp, nhất là giai cấp thống trị có thể khai thác. Từ thời kỳ Bắc thuộc, Nho giáo đã bắt đầu đặt những bước chân đầu tiên vào Việt Nam, dần chiếm vị trí quan trọng trong đời sống dân tộc. Năm 18 1070 đánh dấu Nho giáo chính thức được công nhận với sự kiện vua Lý Thánh Tông lập Văn Miếu thờ Khổng Tử, đến thế kỷ XV, Nho giáo giữ vị thế quốc giáo. Những giá trị trong “Tam cương”, “Ngũ thường” cùng với các giá trị đạo đức nhân, lễ, nghĩa, trí, tín được giao thoa vào văn hóa Việt Nam bởi những nét tương đồng.
Trong xã hội phong kiến, các tư tưởng “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, “trung quân” và “ái quốc” giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội, góp phần xây dựng các triều đại thịnh thế. Đặc biệt có tầm ảnh hưởng đến nhà cách mạng Hồ Chí Minh nhất từ Khổng Tử đó chính là tư tưởng về thế giới đại đồng, một học thuyết về bình đẳng, hòa thuận, tôn trọng và yêu thương. Phật giáo là một tôn giáo lớn và ngày càng thể hiện sức ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống của con người Việt Nam. Khác với các tôn giáo hay học thuyết chính trị bên ngoài đến Việt Nam từ âm mưu xâm lược, ý định đồng hóa dân tộc, Phật giáo du nhập vào nước ta bằng con đường hòa bình.
Theo những thuyền buôn Ấn Độ, Phật giáo đặt chân đến Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ II. Với những tư tưởng gần gũi với quần chúng nhân dân, Phật giáo nhanh chóng đi sâu vào đời sống tinh thần người Việt. Với các tư tưởng về tự do, cứu khổ, cứu nạn, nhân quả, yêu thương, từ bi,… Phật giáo nhanh chóng chiếm vị trí quan trọng, trở thành quốc giáo trong nhiều triều đại. Những giáo lý tiến bộ của Phật giáo, vượt qua khỏi hệ tư tưởng của một tôn giáo đã góp phần hình thành nên tư tưởng của Hồ Chí Minh về giải phóng con người chính trong đời sống trần thế.
Công giáo mặc dù xuất hiện muộn hơn tại Việt Nam, nhưng có sự ảnh hưởng lớn đến với đời sống nhân dân. Quá trình Công giáo vào Việt Nam đã tạo ra những sự chuyển biến phức tạp, do sự khác nhau về tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo dân tộc, cách biệt trong văn hóa Đông - Tây.