Chương 1 HOẠT ĐỘNG CUA HO CHÍ MINH TẠI ATK TRUNG UONG TU NAM 1947 DEN NĂM 1950 1. Chu trương xây dung ATK Trung ương 1. Vi tri, vai trò của ATK Ngay từ khi mới thành lập, khi đề ra đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhằm đánh đồ kẻ thù dé quốc và phong kiến, Dang ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chi Minh, đã chỉ rõ con đường giải phóng duy nhất đúng dan cho dân tộc ta là con đường cách mạng bạo lực. Vững bước tiến lên trên con đường cách mạng đúng đắn đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, khi tiến hành đấu tranh chính trị, khi tiến hành đấu tranh vũ trang, khi thì kết hợp đấu tranh chính tri với đấu tranh vũ trang va dau tranh kinh tế, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, nhân dân ta đã liên tiếp giành được những thắng lợi này đến những thắng lợi khác.
Song, dé có được những thắng lợi đó, Dang ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về công tác xây dựng lực lượng, bao gồm cả lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và đặc biệt là xây dựng căn cứ địa - hậu phương cho cách mạng [70; tr. Kế thừa và phát huy truyền thống ông cha về chiến tranh giữ nước, kết hợp với sự vận dụng một cách sáng tạo lý luận Mác - Lênin về khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng vấn đề căn cứ địa - hậu phương cách mạng lên thành lý luận mới của cách mạng dân tộc vả thuộc địa, để lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong tiến trình cách mạng. Chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị băng các thủ đoạn bạo lực. Vì vậy, thang lợi của chiến tranh chủ yếu là do việc quân đội đánh bại kẻ địch 14 trên chiến trường quyết định.
Dé thực hiện được điều đó, phải làm cho quân đội của ta có sức mạnh vật chất và tinh thần cao hơn sức mạnh của quân đội đối phương. Song bản thân quân đội không thé tự tạo ra cho minh tất cả những sức mạnh đó. Sức mạnh của quân đội, sức mạnh của lực lượng vũ trang trên chiến trường phụ thuộc và bắt nguồn cơ bản từ sức mạnh mà nó dựa vào - tức là sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của hậu phương. Học thuyết quân sự của học thuyết Mác - Lênin coi hậu phương là một trong những nhân tố thường xuyên, có tác dụng quyết định vận mệnh của chiến tranh.ĂngGhen viết: “Việc tiến hành chiến tranh phải phụ thuộc vào sức sản xuất và vào phương tiện giao thông ở hậu phương cũng như ở chiến trường.
Tóm lại, bất cứ ở đâu và bao giờ cũng thế, những điều kiện kinh tế và tài nguyên đều là những cái đã giúp cho “bạo lực” đạt được thắng lợi, nếu không có chúng thì bạo lực chăng phải là bạo lực nữa”[4; tr.Lênin cũng chỉ rõ: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, phải có một hậu phương được tô chức vững chắc. Một quân đội giỏi nhất, những người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng, cũng đều sẽ lập tức bị kẻ thù tiêu diệt, nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện một cách đầy đủ” [65; tr. Và Lénin khang định: “Trong chiến tranh, ai có nhiều lực lượng hậu bi hơn, ai có nhiều nguồn lực lượng hon, ai kiên trì di sâu vào quần chúng nhân dân hơn, thì người đó thu được thắng lợi” [66; tr.Xtalin cũng đồng quan điểm: “Quân đội không thẻ tồn tại lâu dài được nếu không có hậu phương vững chắc. Muốn cho tiền tuyến đứng vững thì quân đội phải nhận được của hậu phương sự tiếp viện, đạn dược, lương thực một cách đều đặn” [119; tr.
Đó là trường hợp của những nước có chủ quyền, dựa vào sức người, vào tiềm lực mọi mặt của đất nước dé tiễn hành chiến tranh. Đối với những cuộc chiến tranh cách mạng của các giai cấp hay dân tộc bị áp bức đứng lên dau tranh nhằm lật đồ chính quyền của tập đoàn thống trị (trong hoàn cảnh chưa có một mảnh đất tự do nào làm chỗ đứng chân), thì quá trình xây dựng 15 hậu phương từ không đến có, từ nhỏ đến lớn cũng tức là quá trình xây dựng và củng cô căn cứ địa cách mạng. Theo từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, hậu phương là vùng lãnh thé và dân cư của một bên đối chiến không có, hoặc ít có chiến sự, tương đối an toàn và 6n định trong chiến tranh; nơi có điều kiện xây dựng về mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa. và huy động sức người, sức của - nguồn cô vũ về chính trị, tinh thần cho tiền tuyến, một nhân tố cơ bản thường xuyên, quyết định thắng lợi của chiến tranh.
Cũng với ý nghĩa đó, căn cứ địa cách mạng là những vùng giải phóng xuất hiện trong vòng vây của địch. Cách mạng dựa vào đó dé tích lũy và phát triển lực lượng của mình về mọi mặt, tạo thành những trận địa vững chắc về chính tri, quân sự, kinh tế, văn hóa; lay đó làm nơi xuất phát dé mở rộng dần ra, cuối cùng tiến lên đánh bại kẻ thù lớn mạnh, giải phóng hoàn toàn đất nước. Căn cứ địa là chỗ đứng chân của cách mạng, đồng thời là chỗ dựa dé xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đây mạnh đấu tranh vũ trang cách mạng, và từ góc độ tiếp cận đó, nó cũng là hậu phương của chiến tranh cách mang (tác giả nhấn mạnh). Biểu hiện tập trung của tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng thé hiện trong công trình “Chiến thuật du kích” của Người [74; tr.504], do Việt Minh xuất ban năm 1944.
Chương XIII - “Căn cứ địa” của cuốn sách tuy ngắn gọn, nhưng đã thể hiện rõ tư tưởng của Người về vấn đề này. Đó là, sau khi hình thành hạt nhân chiến đấu là các đội tự vệ chiến đấu, các đội quân du kích. cần xây dựng căn cứ địa theo các nguyên tắc cơ ban: a) Với đường lỗi chính tri cứu nước, với phương châm “lay nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều”, lại chưa có chủ quyên lãnh thé, đất đai, thì trước hết, “Đội du kích trong lúc hoạt động đánh quân thù, cần có một vài nơi đứng chân làm cơ sở. Tại nơi ấy, đội du kích tích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi, luyện tập”; “Đội du kích hoạt động phát triển nhiều thì chỗ cơ sở nhỏ đầu tiên ấy có thể 16 trở nên căn cứ địa vững vàng”.
b) Nguyên tắc xây dựng căn cứ phải gắn liền VỚI nguyên tắc lựa chọn địa hình, địa lợi, tức coi trọng yếu tố dia lý. Trong đó, cùng với “địa thế, địa hình” cần quan tâm tới yếu tố “địa - chính trị”, tức sự ủng hộ, che chở của quần chúng cách mạng. Về vấn đề này, tác phẩm “Chiến thuật du kích” nêu rõ: “Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và quan chúng cảm tinh ủng hộ”. c) Nguyên tắc thứ ba là “phải tiến tới xây dựng được chính quyền cách mạng cho căn cứ địa”.
Từ nhiều cơ sở được chọn làm căn cứ, phải lựa chọn được nơi vững vang nhất. Ở đó, sau khi đánh dé được chính quyền địch phải xây dựng cho được chính quyền cách mạng: “Chưa thành lập được chính quyền địa phương thì căn cứ địa khó thành lập và không thé củng cố được”. đ) Nguyên tac thứ tư là: Từ căn cứ địa, lực lượng du kích phát triển, phải tiến tới thành lập được các đội quân chính quy: “Có chính quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hóa ra quân chính quy” [74; tr. Tham nhuan lý luận cách mạng của học thuyết Mác - Lénin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy kinh nghiệm đấu tranh của dân tộc (nhất là trong thời kỳ tiền khởi nghĩa), trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1946 - 1954, với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, Đảng ta đã phát động một cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn với lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt.
Một trong những thành công to lớn của Đảng là đã lãnh đạo quân và dân ta vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, xây dựng hậu phương và một hệ thống các căn cứ địa vững mạnh. Trên tinh thần đó, ATK Trung ương với danh nghĩa là căn cứ địa - một loại hình của hậu phương chiến tranh nhân dân trở thành nơi cung cấp nhân tài, vật lực cho tiền tuyến, và quan trọng hơn, khi được xây dựng trong lòng căn cứ địa, đó chính là nơi đứng chân an toàn của cơ quan đâu não lãnh đạo cuộc kháng chiên. Cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu vào lúc nhân dân ta vừa giành được chính quyên. Mười sáu tháng vừa kháng chiên, vừa kiên quôc, vừa tạm 17 thời hoa hoãn, chưa đủ thời gian dé nhân dân ta khắc phục những hậu qua nặng nè của dé quốc, phong kiến và chiến tranh dé lại.
Ngược lại, nước Pháp là một cường quốc tư bản, có nền công nghiệp tiên tiễn nên tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần, và có một đội quân viễn chinh nhà nghề giàu kinh nghiệm đi xâm lược, được trang bị vũ khí hiện đại. Trong điều kiện so sánh lực lượng vật chất giữa ta và địch hết sức chênh lệch, muốn đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi, chúng ta không thé “đem toàn lực dốc vào một vài trận hòng phân thắng bại", mà phải có thời gian để chuyên hóa lực lượng - phải kháng chiến lâu dài. Hơn nữa, một trong những điều kiện cơ bản dé tiến hành kháng chiến lâu dai là phải bảo tồn và phát triển lực lượng kháng chiến, đồng thời phải xây dựng được những khu căn cứ địa vững chắc, an toàn, không chỉ có địa hình thuận lợi, mà phải có cơ sở và phong trào quần chúng vững mạnh. Vì thế chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa kháng chiến, vừa xây dựng hậu phương do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh dé ra là phù hợp điều kiện cụ thé của Việt Nam, đồng thời phản ánh quy luật tat yêu của cuộc kháng chiên.
Theo Từ điển Bách khoa Quân sự, “ATK là khu vực rộng lớn trong khu vực căn cứ địa cách mạng, có các điều kiện thuận lợi về địa hình, địa thé, dan cư, chính sách, quân sự được tô chức bố phòng tốt, bảo đảm bí mật, an toàn tuyệt đối cho các cơ quan lãnh đạo cách mạng (kháng chiến) đóng tại đó”. Song không phải nơi nảo trong căn cứ địa cũng có thê xây dựng ATK Trung ương.