lời mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà. Đối với cuộc cách mạng tư sản Pháp, Người rất coi trọng giá trị tư tưởng của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền, trong đó nêu lên những lẽ phải không ai chối cãi được rằng: người ta sinh ra tự do và bình đăng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đăng về quyền lợi. Trên con đường bôn ba tìm phương cứu nước khắp các lục địa, Hồ Chí Minh đã dành tâm sức xem xét tình hình các dân tộc, các giai cấp, các thé chế chính trị, đặc biệt là đi sâu tìm hiểu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng điển hình trên thé giới. Nghiên cứu cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Mỹ và cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp, Hồ Chí Minh đã học được nhiều 17 kinh nghiệm quý, nâng cao được tầm hiểu biết về vai trò của các giai cấp trong cách mạng tư sản; về tô chức; về tinh thần, ý chí cách mạng của quần chúng đặc biệt về tư tưởng tự do, dân chủ.
Tìm hiểu cốt lõi của cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp, đối chiếu với thực tiễn các thể chế chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa Pháp, Mỹ và với cuộc sống của các giai cấp, các dân tộc thuộc các màu da khác nhau, Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ.là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc dia’’[40; tr.274] “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nới, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ dé trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”[40; tr. “Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”. Nói một cách khác, con đường cách mang dân chủ tư sản dẫn đến thiết lập nhà nước tư sản không thé là con đường giải phóng dân tộc và giải phóng lao động triệt để cho Việt Nam và các dân tộc bị ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân trên thế giới.
Giữa lúc đó, cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga thắng lợi (1917) đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại. H6 Chí Minh đã sớm biết đến cuộc cách mạng vĩ đại này. Người đã từng cùng các đồng chí trong Đảng xã hội Pháp tham gia rải truyền đơn tuyên truyền ủng hộ Cách mạng Tháng Mười. Trong không khí chính trị sôi động của Pari, thông qua các buôi hội họp, thảo luận trong các chi bộ của Đảng xã hội Pháp, Hồ Chí Minh đã dần dần hiểu thêm về Cách mạng Tháng Mười, về V.ILênin và tư tưởng Mác — Lênin.
Sự kiện quan trọng nhất đánh dau việc H6 Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác — Lénin là việc Người đọc bản So thảo;lán thứ nhát những luận cương về van dé dân tộc và ván dé thuộc địa. 18 Văn kiện đó trình bày những quan điểm cơ bản của Lênin và Quốc tế cộng sản về con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa khỏi ách thống trị của chủ nghĩa dé quốc.Lênin chủ trương giải phóng toàn thé nhân dân lao động thuộc địa, trong đó đông đảo nhất là nông dân, khỏi sự bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến, thực hiện quyền bình đăng thực sự giữa các dân tộc. Người cũng xác định trách nhiệm của các đảng cộng sản, của giai cấp công nhân ở các nước dé quốc là phải ủng hộ tích cực đối với phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa. Đồng thời, Người nêu rõ yêu cầu cấp thiết đảm bảo thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập ở các nước thuộc địa là sự liên minh, đoàn kết với nước Cộng hòa Xô Viết, với giai cấp vô sản ở các nước dé quốc.
Luận cương của V.Lênin còn chỉ rõ bộ mặt giả dối của chế độ dân chủ tư sản về quyền bình đăng nói chung, bao gồm cả quyền bình đăng dân tộc, trong đó, sự lừa dối của những kẻ đứng đầu các mước dân chủ phương Tây trong Hòa ước Véc xai là một biểu hiện cụ thê, rõ nét. Những luận điểm của V.Lênin trong Luận cương đã soi sáng con đường giải phóng dân tộc mà Hồ Chí Minh đang khao khát tìm kiếm. Sự hiểu biết của Hồ Chí Minh về sự tàn bạo, giả đối của chủ nghĩa thực dân càng giúp Người lĩnh hội sâu sắc, thấm thía những nhận xét của Lênin về bản chất của chủ nghĩa dé quốc. Với kinh nghiệm thực tiễn, với tư duy độc lập sáng tạo, với phương pháp độc đáo để tìm chân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng gặp gỡ và tin theo tư tưởng Lênin, tán thành Quốc tế cộng sản.LLénin thé hiện qua Sơ thdo lan thứ nhất những luận Cương về van dé dân tộc và vấn dé thuộc địa đã nêu ra một kha năng phát triển rộng lớn cho cách mạng giải phóng dân tộc ở khu vực thuộc địa và phụ thuộc.
Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở những luận điểm cách mạng của Lénin lời giải đáp cho câu hỏi lớn về vận mệnh dân tộc mà các thế hệ yêu nước Việt Nam đã đi tìm suốt nhiều thập kỷ ngay từ khi bị chủ nghĩa dé quốc Pháp xâm 19 lược và thống trị. Luận cương của Lênin đã giúp Người nhận ra mối quan hệ giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc bi áp bức cùng chung cảnh ngộ và cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở các nước tư bản, dé quốc. Với Luận cương của Lénin, Hồ Chí Minh cảm nhận được sức mạnh của lực lượng đồng minh to lớn của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức ở khắp nơi trên thế giới. Tư tuởng vĩ đại của V.Lênin về sự liên kết giữa giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới mở ra một hướng mới về đoàn kết quốc tế mà Hồ Chí Minh đã nhận thức và thể hiện sáng tạo trong việc thành lập Hội liên hiệp thuộc địa (7- 1921) và Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức (1925).
Tư tưởng Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc đã chỉ đạo hoạt động chính trị và tổ chức của Quốc tế cộng sản, khăng định vai trò và trách nhiệm của Quốc tế cộng sản trên mặt trận đấu tranh chống chủ nghĩa dé quéc, ung hộ sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa bang sức mạnh của khối đoàn kết giai cấp vô sản với các dân tộc bị áp bức. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với V.Lênin cũng là đến với Quốc tế cộng sản. Với toàn bộ tư chất, trí tuệ, năng lực và hoài bão cứu nước, Người đã sớm trở thành một chiến sĩ xuất sắc, một cán bộ năng động của Quốc tế cộng sản. Quốc tế cộng sản — nơi hội tụ những nhà cách mạng xuất sắc của giai cấp vô sản và các dân tộc trong cuộc dau tranh chống chủ nghĩa dé quốc, chính là môi trường dé Hồ Chí Minh học tập, tích lũy vốn tri thức lý luận và thực tiễn cách mạng, rèn luyện qua hoạt động trong phong trào vô sản và phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước thuộc nhiều khu vực trên thế giới.
Sự chỉ đạo của Quốc tế cộng sản, đặc biệt là trong thời kỳ V.Lênin còn sống, đối với phong trào giải phóng dân tộc có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình Hồ Chí Minh hình thành những luận điểm cách mạng, xúc tiễn việc thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam. Ở những giai đoạn sau, sự chỉ đạo 20 của Quốc tế cộng sản đối với phong trào dân tộc ngày càng đi vào những vấn đề cụ thể. Song, trong từng vấn đề, sự chỉ đạo đó vẫn là sự chỉ đạo chung, chủ yếu căn cứ vào đặc điểm của một số nước thuộc địa, phụ thuộc có diện tích lớn, dân số đông. Hơn nữa, ban lãnh đạo Quốc tế cộng sản lúc này thường chú trọng nhiều hơn tới yếu tố giai cấp, yếu tố quốc tế.Sự chỉ đạo của Quốc tế cộng sản có giá tri nêu những hướng chung, những nhiệm vu chung của giai cấp vô sản và các dân tộc chống chủ nghĩa dé quốc trong từng giai đoạn cụ thé.
Trên ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh đã lĩnh hội và vận dụng chủ trương của Quốc tế cộng sản vào việc lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Đồng thời, với tư duy độc lập sáng tạo Người vẫn luôn tìm ra những bước đi, phương pháp phù hợp nhất đối với dân tộc mình. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là một thành quả rực rỡ của tư tưởng Lênin về cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng các dân tộc bị áp bức, xây dựng quan hệ bình đăng giữa các dân tộc trong Liên bang Xô viết. Cách mạng tháng Mười Nga đưa ra một mô hình mới của một xã hội do nhân dân lao động và các dân tộc làm chủ vận mệnh của mình.
Chính sách dân tộc tự quyết của nước Nga sau Cách mạng đã đưa ra mẫu mực về van đề giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc theo quan điểm đúng đắn của V.Lênin, ảnh hưởng sâu sắc tư duy của Hồ Chí Minh về van đề dân tộc mà sau này Người sẽ vận dụng sáng tạo và phát triển trong việc giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc Việt Nam với các quốc gia dân tộc khác trên thế giới; dân tộc Việt Nam với các quốc gia dân tộc trong khu vực và đặc biệt là với các dân tộc Lào, Campuchia cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, với nhiều mối quan hệ đặc biệt về chính trị, kinh tế. Tóm lại, có thé khang định răng, việc tiếp xúc với Luận cương của V.Lênin là bước ngoặt cho sự hình thành tư tưởng dân tộc và cach mạng giải phóng dân tộc theo lập trường vô sản của Hồ Chí Minh. Và quá trình 21 hoạt động trong Quốc tế Cộng sản tới năm 1930 chính là thời kỳ tác động trực tiếp quyết định đến sự phát triển toàn điện những luận điểm về dân tộc cách mệnh của Người. Phẩm chất và tài năng của Hỗ Chi Minh Ngoài những nhân tố khách quan nêu trên, nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh đã đóng vai trò quyết định trong việc hình thành tư tưởng dân tộc cách mệnh.
Từ bản lĩnh, pham chat, tính cách và phong cách của Hồ Chí Minh, cho thấy, ngay từ thời còn trẻ, Người đã có hoài bão lớn có bản lĩnh kiên định, tự tin, giàu tình cảm nhân ái và sớm có chí cứu nước, cứu dân.