Tổng quan luận án

Công trình “Giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường Trung học phổ thông (Thực nghiệm tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ)” là Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục thuộc chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử (Mã số: 9.14.01.11 / 9.11), do nghiên cứu sinh Hồ Văn Toàn thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2020, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trịnh Đình Tùng và PGS.TS. Đoàn Văn Hưng.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bối cảnh thế kỷ XXI ghi nhận sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa. Tại Việt Nam, yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển toàn diện nhân cách, phẩm chất công dân được quy định rõ tại Điều 2 Luật Giáo dục năm 2005 và tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI cũng như Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng năm 2016.

Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài 3.260 km, trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ cùng hai quần đảo ngoài khơi là Hoàng Sa và Trường Sa, giữ vị trí trọng yếu về địa - chính trị, địa - kinh tế và địa - văn hóa. Trước tình hình tranh chấp chủ quyền phức tạp trên Biển Đông, việc giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh trung học phổ thông (THPT), trở thành nhiệm vụ chính trị và giáo dục cấp bách. Bộ môn Lịch sử ở trường THPT có ưu thế nổi bật trong việc bồi dưỡng thế giới quan, lòng yêu nước, ý thức dân tộc và trách nhiệm công dân. Mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai công tác giáo dục biển, đảo trên toàn quốc, thực tiễn tại các trường THPT thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ vẫn bộc lộ hạn chế: việc triển khai chưa đồng bộ, sách giáo khoa hiện hành còn thiếu vắng các nội dung trực tiếp về chủ quyền biển, đảo, và các hình thức tổ chức dạy học chưa thực sự phong phú. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ là yêu cầu cần thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo cho học sinh THPT; xác định nội dung lịch sử Việt Nam có khả năng giáo dục; đề xuất và kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp giáo dục nội khóa và ngoại khóa nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử.

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về giáo dục ý thức, tư tưởng, thái độ cho học sinh nói chung và giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo nói riêng từ các nguồn tài liệu giáo dục học, tâm lý học và phương pháp dạy học lịch sử.
  2. Điều tra, khảo sát thực trạng việc giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo cho học sinh trong dạy học lịch sử tại các trường THPT để phân tích nguyên nhân và các vấn đề cần giải quyết.
  3. Phân tích chương trình, sách giáo khoa môn Lịch sử THPT (trọng tâm là phần Lịch sử Việt Nam) và các nguồn sử liệu liên quan để xác định nội dung giáo dục chủ quyền biển, đảo.
  4. Xây dựng bộ tiêu chí và thang đo đánh giá sự chuyển biến về ý thức chủ quyền biển, đảo của học sinh.
  5. Đề xuất hệ thống các biện pháp giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT qua hoạt động nội khóa và ngoại khóa.
  6. Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào việc giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo (trọng tâm là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam thuộc chương trình chuẩn cấp THPT qua giờ học nội khóa và hoạt động ngoại khóa.
  • Phạm vi không gian khảo sát và thực nghiệm: Khảo sát và thực nghiệm sư phạm tại các trường THPT thuộc 8 tỉnh, thành phố khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, gồm: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.

Giả thuyết khoa học

Việc giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT nếu đảm bảo các nguyên tắc giáo dục, được tiến hành với nội dung xác thực và hệ thống biện pháp phù hợp sẽ nâng cao chất lượng giáo dục học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu theo hai hướng tiếp cận chính:

Hướng nghiên cứu về chủ quyền biển, đảo Việt Nam

Tài liệu của các tác giả nước ngoài:

  • Thư tịch cổ và bản đồ Trung Quốc: Tác phẩm Hải ngoại kỉ sự (1696) của Thích Đại Sán (Hòa thượng Thạch Liêm) khẳng định chúa Nguyễn đã thực thi chủ quyền tại Vạn Lí Trường Sa (Hoàng Sa). Các thư tịch cổ như Giao Châu di vật chí của Dương Phù, Chư phiên chí của Triệu Nhữ Quát, Phù Nam truyện của Khang Thái, Nam Châu dị vật chí của Vạn Chấn cùng các bản đồ vẽ trước năm 1909 xác định cương vực phía nam của Trung Quốc chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam.
  • Tài liệu phương Tây: Bộ Lettres Édifiantes et Curieuses (Paris, 1838), tác phẩm của nhà địa lý Adriano Balbi (Compendio di geografia universale, 1824; Abrégé de géographie, 1838), từ điển The English Encyclopaedia của Charles Knight (London, 1866) xác định quần đảo Hoàng Sa (Paracels) thuộc chủ quyền của xứ An Nam (Cochinchina). Các tác giả John Barrow (Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792-1793), John White (A Voyage to Cochin China, 1824), Morineau (1997), Yoshiharu Tsuboi (2011) mô tả hoạt động khai thác và phòng thủ biển đảo của triều Nguyễn.
  • Công pháp quốc tế: Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982); công trình Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Giáo sư Monique Chemillier-Gendreau (2011) khẳng định cơ sở lịch sử và pháp lý của Việt Nam trên Biển Đông.

Tài liệu của các tác giả trong nước:

  • Thư tịch cổ Việt Nam: Các bộ chính sử và địa chí như Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776), Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Đại Nam nhất thống chí và Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép hoạt động của đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải và quá trình cắm mốc, đo đạc, lập miếu tại Hoàng Sa và Trường Sa.
  • Nghiên cứu hiện đại: Tập san Sử - Địa số 29 (1975); các công trình của Văn Trọng (1979), Nguyễn Q. Thắng (1982), Vũ Phi Hoàng (1988); các tập “Sách trắng” do Bộ Ngoại giao ban hành (1979, 1981, 1988); các ấn phẩm của Bộ Giáo dục và Đào tạo (1994), Trung tâm Thông tin công tác tư tưởng và Cục Chính trị Quân chủng Hải quân (2007); các công trình nghiên cứu chuyên sâu của Trần Công Trục (2011, 2014), Đặng Đình Quý (2011, 2012), Nguyễn Việt Long (2013), Nguyễn Đình Đầu (2013, 2014), Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (2002, 2013), Phạm Hoàng Quân (2014), Bùi Tất Tươm và Vũ Bá Hòa (2014), Nguyễn Văn Kết (2015), Đỗ Bang (2016), Bộ Thông tin và Truyền thông (2016), Nguyễn Quang Ngọc (2019); các luận án tiến sĩ của Nguyễn Nhã (2002), Vũ Hải Đăng (2013), Lê Tiến Công (2015).

Hướng nghiên cứu về giáo dục học sinh và giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo

Tài liệu nước ngoài:

  • Lý luận giáo dục và tâm lý học: B.Ê-xi-pốp (1971), Kha-la-môp (1979), T.Ilina (1979), N.Sa-vin (1983) phân tích các hình thức tổ chức dạy học nhằm bồi dưỡng đạo đức và ý thức cho học sinh. Các nhà giáo dục F. Rabelais, Isma'il Al-Qabbani, A.S. Makarenko (Bài ca sư phạm, 1962) đề cao phương pháp học đi đôi với hành và giáo dục ngoài lớp học.
  • Lý luận dạy học lịch sử: N. Đai-ri (1973) nhấn mạnh tính trực quan và nghiên cứu thực tế; I.Ia. Lerner (1977) về dạy học nêu vấn đề; V.A. Ê-rô-phê-ép (1981) khẳng định chức năng giáo dục nhân cách của môn Lịch sử.

Tài liệu trong nước:

  • Giáo trình Giáo dục học và Tâm lý học của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987), Phạm Viết Vượng (2008), Trần Thị Tuyết Oanh (2006), Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang (2016), Thái Duy Tuyên (1999), Đặng Thành Hưng (2002), Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội (2016).
  • Lý luận dạy học lịch sử: Các công trình của Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (1976, 1992), Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2002), Hội Giáo dục Lịch sử (2004), Phan Ngọc Liên (1968, 2003, 2008), Trịnh Đình Tùng (2005), Nguyễn Thị Côi (2006), Nguyễn Thị Thế Bình (2014).
  • Tài liệu chỉ đạo và tài liệu hướng dẫn dạy học nội dung giáo dục biển, đảo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Tuyên giáo Trung ương và Vụ Giáo dục Quốc phòng (2015).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Các công trình lịch sử và pháp lý trước đây tập trung cung cấp cứ liệu khoa học khẳng định chủ quyền, trong khi các tài liệu lý luận dạy học chủ yếu đề cập đến việc giáo dục tư tưởng, truyền thống chung. Luận án giải quyết khoảng trống về việc xây dựng hệ thống lý luận chuyên biệt, xác định địa chỉ nội dung trong chương trình Lịch sử THPT hiện hành và đề xuất quy trình thực hiện các biện pháp sư phạm đồng bộ (nội khóa và ngoại khóa) phục vụ giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo tại địa bàn các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và hệ thống khái niệm

Luận án vận dụng các khái niệm và văn bản quy phạm sau:

  • Giáo dục: Quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch và có tổ chức của nhà giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách, tri thức, kỹ năng cho người học.
  • Ý thức và Giáo dục ý thức: Ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất của con người về hiện thực khách quan, biểu hiện qua nhận thức, thái độ và hành vi. Giáo dục ý thức là quá trình hình thành ở người học sự hiểu biết đúng đắn, tình cảm và hành động thực tiễn phù hợp với chuẩn mực xã hội.
  • Chủ quyền biển, đảo: Là bộ phận hợp thành của chủ quyền lãnh thổ quốc gia, bao gồm quyền tối cao, hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia ven biển đối với vùng nội thủy, lãnh hải, vùng trời trên biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước UNCLOS 1982 và Luật Biển Việt Nam năm 2012.
  • Định hướng chính sách: Nghị quyết số 29-NQ/TW (2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục; Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội; Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình GDPT môn Lịch sử; Nghị quyết số 09-NQ/TW (2007) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; Quyết định 273/QĐ-TTg (2010); Nghị quyết Trung ương 8 khóa XII (2018) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
  • Mục tiêu môn Lịch sử THPT: Phát triển toàn diện kiến thức (sự kiện, nhân vật, không gian, thời gian lịch sử), kỹ năng (làm việc với tư liệu, bản đồ, tư duy phân tích, tổng hợp) và thái độ (lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ chủ quyền).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, so sánh và hệ thống hóa các tài liệu khoa học giáo dục, văn kiện, pháp luật quốc tế và tư liệu lịch sử.
  2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Điều tra khảo sát bằng phiếu an-két đối với cán bộ quản lý, giáo viên lịch sử và học sinh tại 15 trường THPT thuộc 8 tỉnh, thành phố Duyên hải Nam Trung Bộ.
    • Quan sát sư phạm, dự giờ, phỏng vấn sâu và tổ chức hội thảo chuyên môn.
    • Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm từng phần và toàn phần đối với các bài học nội khóa và hoạt động ngoại khóa.
  3. Phương pháp toán học thống kê: Xử lý dữ liệu định lượng thu được từ các bài kiểm tra thực nghiệm; tính toán các tham số thống kê gồm điểm trung bình cộng ($\overline{X}$), độ lệch chuẩn ($S$), hệ số biến thiên ($V$), giá trị kiểm định Student ($t$) và so sánh với giá trị giới hạn ($t_\alpha$) để kiểm chứng mức độ tin cậy của kết quả.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Sách giáo khoa Lịch sử các lớp 10, 11, 12 (chương trình chuẩn).
  • Hệ thống văn bản Châu bản triều Nguyễn, bản đồ cổ Việt Nam và thế giới (Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, Đại Nam nhất thống toàn đồ, Bản Quốc địa đồ, Atlas Philippe Vandemaelen 1827).
  • Dữ liệu khảo sát thực trạng và điểm số kiểm tra thực nghiệm tại 15 trường THPT Duyên hải Nam Trung Bộ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hai trụ cột: nghiên cứu lịch sử - pháp lý về chủ quyền biển, đảo và nghiên cứu lý luận dạy học về giáo dục ý thức cho học sinh. Tác giả phân tích các nguồn tư liệu cổ từ Trung Quốc, phương Tây, các bộ chính sử triều Nguyễn, các nghiên cứu pháp lý theo UNCLOS 1982, cùng các công trình giáo dục học của B.Ê-xi-pốp, N. Đai-ri, Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi. Từ đó, chương 1 rút ra những giá trị kế thừa về mặt tư liệu và xác định vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu là thiết kế hệ thống biện pháp dạy học lịch sử nhằm giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo cho học sinh THPT.

Chương 2: Vấn đề giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông - Lý luận và thực tiễn

Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ, phân tích quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường THPT. Tác giả đã rà soát toàn bộ chương trình Lịch sử Việt Nam cấp THPT hiện hành và lập danh mục các bài học có nội dung liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến biển, đảo:

Khối lớp Tên bài / Chủ đề Nội dung lịch sử liên quan đến chủ quyền biển, đảo
Lớp 10 Bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam Hình thuyền trên trống đồng Đông Sơn, di chỉ Tràng Kênh; văn hóa Sa Huỳnh hướng biển; cảng thị Óc Eo (Phù Nam).
Bài 15, 16: Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập Tuyến giao thông đường thủy; vị trí chiến lược sông Bạch Đằng, lợi dụng thủy triều trong chiến thắng năm 938.
Bài 17, 18: Quá trình hình thành, phát triển và xây dựng kinh tế nhà nước phong kiến (X-XV) Tổ chức quân đội thủy binh; hoạt động ngoại thương đường biển sầm uất qua các thương cảng.
Bài 19: Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm (X-XV) Nghệ thuật tác chiến thủy chiến trong kháng chiến chống Tống, Mông - Nguyên.
Bài 20: Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc (X-XV) Hồng Đức bản đồ (1469) vẽ cương vực lãnh thổ và các vùng biển đảo của Đại Việt.
Bài 21, 22: Biến đổi nhà nước phong kiến và tình hình kinh tế (XVI-XVIII) Chúa Nguyễn thành lập đội Hoàng Sa; sự phát triển của thương cảng Hội An, Phố Hiến, Thanh Hà.
Bài 23, 24, 25: Phong trào Tây Sơn, văn hóa (XVI-XVIII) và triều Nguyễn (nửa đầu XIX) Trận Rạch Gầm - Xoài Mút; ghi chép trong Phủ biên tạp lục, bản đồ Bãi Cát Vàng; nhà Nguyễn duy trì đội Hoàng Sa, cắm mốc chủ quyền.
Lớp 11 Bài 19: Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp (1858-1862) Vị trí chiến lược của vịnh và bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng); điều khoản mở 3 cửa biển trong Hiệp ước 1862.
Bài 20: Chiến sự lan rộng ra cả nước (1873-1884) Pháp sử dụng đường biển đánh chiếm Bắc Kỳ; mở cửa biển Thị Nại, Ninh Hải (1874); trận Thuận An (1883).
Bài 21: Phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX Các cuộc khởi nghĩa phong trào Cần Vương nổ ra tại vùng ven biển Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Bài 22, 23, 24: Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đến năm 1918 Khai thác cảng biển Hải Phòng, Sài Gòn; doanh nghiệp vận tải biển của Bạch Thái Bưởi; Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước tại cảng Nhà Rồng (1911).
Lớp 12 Bài 12: Phong trào dân tộc dân chủ (1919-1925) Phong trào chống độc quyền cảng Sài Gòn và xuất cảng lúa gạo của tư bản Pháp.
Bài 16, 17: Cách mạng tháng Tám (1945) và bảo vệ chính quyền Giành chính quyền tại các địa phương ven biển (Hà Tiên); chiến đấu tại cảng Sài Gòn; quy chế cảng Hải Phòng trong Hiệp ước Hoa - Pháp.
Bài 20, 21: Kháng chiến chống Pháp (1953-1954) và xây dựng CNXH ở miền Bắc (1954-1965) Chiến sự vùng duyên hải (Quy Nhơn, Tuy Hòa); khôi phục cảng Hải Phòng, Hòn Gai; xây dựng nhà máy đóng tàu Bạch Đằng; mở tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển.
Bài 22: Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965-1973) Chiến thắng Vạn Tường (Quảng Ngãi); “Sự kiện vịnh Bắc Bộ”; chiến đấu bảo vệ đảo Cồn Cỏ; chống phong tỏa cảng Hải Phòng và luồng lạch miền Bắc.
Bài 23: Giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973-1975) Tiến công giải phóng các tỉnh ven biển duyên hải miền Trung và các đảo, quần đảo, tiêu biểu là quần đảo Trường Sa (tháng 4/1975).

Khảo sát thực tiễn tại 15 trường THPT Duyên hải Nam Trung Bộ cho thấy: 100% giáo viên khẳng định sự cần thiết của việc giáo dục chủ quyền biển, đảo, song phần lớn gặp khó khăn do thời lượng tiết học nội khóa hạn chế, tư liệu trực quan thiếu thốn và chưa có hướng dẫn quy trình cụ thể cho các hoạt động ngoại khóa.

Chương 3: Các biện pháp giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường Trung học phổ thông

Chương 3 đề xuất hệ thống biện pháp thực thi gồm hai nhóm:

1. Nhóm 6 biện pháp dạy học bài lịch sử nội khóa:

  • Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh khai thác những kiến thức lịch sử phản ánh về chủ quyền biển, đảo có sẵn trong sách giáo khoa.
  • Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh khai thác và sử dụng các nguồn tư liệu gốc (Châu bản triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Phủ biên tạp lục, văn bản công pháp quốc tế).
  • Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh khai thác đồ dùng trực quan (bản đồ Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, Đại Nam nhất thống toàn đồ, Atlas Vandemaelen 1827, tranh ảnh di tích).
  • Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh khai thác các mẩu chuyện lịch sử (câu chuyện về hải đội Hoàng Sa, Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh, các chiến sĩ Tàu Không số).
  • Biện pháp 5: Khai thác và sử dụng kiến thức liên môn (Địa lý, Giáo dục công dân, Văn học, Giáo dục quốc phòng - an ninh) để phân tích tiềm năng kinh tế và vị thế chiến lược của biển, đảo.
  • Biện pháp 6: Hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu về chủ quyền biển, đảo qua phiếu học tập, dự án học tập và tra cứu tư liệu số.

2. Nhóm 4 biện pháp giáo dục thông qua hoạt động ngoại khóa:

  • Biện pháp 1: Tổ chức diễn đàn kết hợp giao lưu, nói chuyện chuyên đề với các nhân chứng lịch sử, cựu chiến binh hoặc cán bộ Hải quân, Cảnh sát biển.
  • Biện pháp 2: Sưu tầm tư liệu để tổ chức triển lãm kết hợp cuộc thi tìm hiểu về chủ quyền biển, đảo Tổ quốc.
  • Biện pháp 3: Sử dụng kiến thức liên môn để tổ chức dạ hội lịch sử theo chủ đề biển, đảo Tổ quốc.
  • Biện pháp 4: Tổ chức tham quan, trải nghiệm thực địa tại các di tích lịch sử, bảo tàng, nhà truyền thống ven biển kết hợp hoạt động công ích xã hội (bến Vũng Rô, thành Điện Hải, bảo tàng Hoàng Sa).

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Chương 4 thiết lập bộ tiêu chí đánh giá mức độ phát triển ý thức của học sinh:

  • Tiêu chí định lượng: Đánh giá qua điểm số bài kiểm tra lịch sử (thang điểm 10) về mức độ ghi nhớ sự kiện, khả năng phân tích tư liệu và giải quyết tình huống lịch sử.
  • Tiêu chí định tính: Đánh giá sự chuyển biến về nhận thức (hiểu rõ căn cứ lịch sử, pháp lý), thái độ (tình yêu biển đảo, lòng tự hào, thái độ kiên quyết bảo vệ chủ quyền) và hành vi (tham gia hoạt động bảo vệ môi trường biển, tuyên truyền cho người thân, chấp hành pháp luật).

Quá trình thực nghiệm được triển khai tại 15 trường THPT thuộc 8 tỉnh/thành phố Duyên hải Nam Trung Bộ, so sánh giữa các lớp Thực nghiệm (TN) và lớp Đối chứng (ĐC). Kết quả thống kê xử lý qua tiêu chuẩn Student cho thấy giá trị $t$ tính toán đều lớn hơn giá trị phân vị lý thuyết $t_\alpha$ ($t > t_\alpha$) ở mức ý nghĩa xác suất sai lầm $\alpha = 0,05$ (đạt $p < 0,05$), điểm trung bình $\overline{X}$ của các lớp thực nghiệm cao hơn các lớp đối chứng, độ lệch chuẩn $S$ và hệ số biến thiên $V$ nằm trong giới hạn kiểm soát. Điều này xác nhận tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo trong dạy học lịch sử cấp THPT, gắn kết mục tiêu giáo dục tư tưởng chính trị với nguyên tắc sư phạm hiện đại.
  • Xác định và hệ thống hóa toàn bộ các đơn vị kiến thức lịch sử có liên quan đến biển, đảo trong chương trình Lịch sử Việt Nam từ lớp 10 đến lớp 12.
  • Xây dựng bộ tiêu chí và thang đo tích hợp cả phương pháp định tính và định lượng để đánh giá sự chuyển biến ý thức của học sinh.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đánh giá trung thực, toàn diện thực trạng dạy học nội dung giáo dục chủ quyền biển, đảo tại các trường THPT khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ.
  • Đề xuất quy trình sư phạm cụ thể cho 6 biện pháp dạy học nội khóa và 4 hình thức tổ chức ngoại khóa, giúp giáo viên dễ dàng áp dụng vào thực tế giảng dạy.
  • Xây dựng hệ thống tài liệu, giáo án thực nghiệm, phiếu học tập và ngân hàng tư liệu sử liệu gốc phục vụ giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam.

Khuyến nghị của tác giả

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Đưa nội dung giáo dục chủ quyền biển, đảo thành các chủ đề bắt buộc hoặc chuyên đề học tập cụ thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới; tổ chức biên soạn tài liệu hướng dẫn và tập huấn chuyên môn cho giáo viên lịch sử trên toàn quốc.
  • Đối với các Sở Giáo dục và Đào tạo và Ban Giám hiệu: Tăng cường đầu tư trang thiết bị dạy học trực quan, bản đồ, phòng học bộ môn; hỗ trợ kinh phí và tạo cơ chế thuận lợi để các tổ chuyên môn tổ chức hoạt động ngoại khóa, tham quan di tích lịch sử ven biển.
  • Đối với giáo viên bộ môn Lịch sử: Chủ động khai thác tư liệu gốc, đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin và tích cực phối hợp kiến thức liên môn nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức cho học sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm chỉ tập trung tại 15 trường THPT thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, chưa mở rộng ra các vùng miền khác như trung du, miền núi phía Bắc hay Tây Nguyên.
  • Phạm vi nội dung chỉ giới hạn trong phần Lịch sử Việt Nam của chương trình Lịch sử THPT chuẩn (chương trình hiện hành tại thời điểm nghiên cứu năm 2020), chưa đi sâu vào phần Lịch sử thế giới.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu và triển khai thực nghiệm tại các trường THPT thuộc các vùng địa lý khác nhau trên cả nước để kiểm chứng tính phổ quát của các biện pháp.
  • Nghiên cứu tích hợp nội dung giáo dục chủ quyền biển, đảo vào chủ đề chuyên đề học tập môn Lịch sử theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Giáo viên Lịch sử cấp THPT: Có thể sử dụng trực tiếp bảng danh mục địa chỉ tích hợp kiến thức biển đảo (lớp 10, 11, 12) cùng quy trình 6 biện pháp dạy học nội khóa và 4 hình thức ngoại khóa để thiết kế kế hoạch bài dạy.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và chuyên viên phụ trách bộ môn: Tham khảo cơ sở thực tiễn và các tiêu chí đánh giá để chỉ đạo chuyên môn, tổ chức tập huấn và kiểm tra đánh giá hoạt động dạy học lịch sử.
  • Giảng viên, sinh viên sư phạm, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Sử dụng hệ thống tổng quan tài liệu, cơ sở lý luận và phương pháp thực nghiệm sư phạm phục vụ nghiên cứu trong chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử.

Câu hỏi thường gặp

1. Địa bàn thực nghiệm sư phạm của luận án được tiến hành tại những địa phương nào?

Luận án tiến hành khảo sát và thực nghiệm sư phạm tại 15 trường THPT thuộc 8 tỉnh, thành phố khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, bao gồm: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.

2. Luận án đề xuất bao nhiêu biện pháp dạy học nội khóa để giáo dục chủ quyền biển, đảo?

Luận án đề xuất 6 biện pháp dạy học nội khóa:

  1. Hướng dẫn khai thác kiến thức trong sách giáo khoa;
  2. Hướng dẫn khai thác và sử dụng tư liệu gốc;
  3. Hướng dẫn khai thác đồ dùng trực quan;
  4. Hướng dẫn khai thác các mẩu chuyện lịch sử;
  5. Khai thác và sử dụng kiến thức liên môn;
  6. Hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu.

3. Các hình thức hoạt động ngoại khóa nào được xây dựng trong luận án?

Luận án xây dựng 4 hình thức ngoại khóa:

  1. Tổ chức diễn đàn kết hợp giao lưu, nói chuyện chuyên đề;
  2. Sưu tầm tư liệu để triển lãm kết hợp thi tìm hiểu;
  3. Tổ chức dạ hội lịch sử theo chủ đề biển, đảo;
  4. Tổ chức tham quan, trải nghiệm tại di tích, bảo tàng ven biển kết hợp hoạt động công ích.

4. Những nguồn tư liệu gốc tiêu biểu nào được luận án khai thác để chứng minh chủ quyền biển, đảo Việt Nam?

Luận án khai thác các nguồn tư liệu gốc gồm: Hải ngoại kỉ sự (Thích Đại Sán, 1696), Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn, 1776), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú, 1821), Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Châu bản triều Nguyễn, bản đồ Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, Đại Nam nhất thống toàn đồ, bộ Atlas thế giới của Philippe Vandemaelen (1827) và Công ước UNCLOS 1982.

5. Bộ tiêu chí đánh giá ý thức chủ quyền biển, đảo của học sinh gồm những thành tố nào?

Bộ tiêu chí đánh giá gồm hai thành tố:

  • Tiêu chí định lượng: Kết quả điểm số các bài kiểm tra thực nghiệm (thang điểm 10) được xử lý bằng toán thống kê (tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên và kiểm định Student $t$).
  • Tiêu chí định tính: Sự chuyển biến về mức độ nhận thức (kiến thức lịch sử và pháp lý), thái độ (tình cảm, niềm tin, lòng tự hào) và hành vi thực tiễn (tham gia hoạt động bảo vệ biển đảo, chấp hành pháp luật).

Kết luận

Luận án của tác giả Hồ Văn Toàn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và phân tích thực trạng giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo cho học sinh THPT tại khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ. Công trình đã xác định toàn diện các địa chỉ nội dung trong chương trình Lịch sử Việt Nam từ lớp 10 đến lớp 12 và đề xuất hệ thống 6 biện pháp nội khóa cùng 4 hình thức hoạt động ngoại khóa. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại 15 trường THPT với các xử lý thống kê toán học khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp sư phạm được đề xuất. Luận án cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn cho công tác giảng dạy lịch sử tại các trường phổ thông.