Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2: Vấn đề giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông - Lý luận và thực tiễn Chương 3: Các biện pháp giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường Trung học phổ thông Chương 4: Thực nghiệm sư phạm luan an 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Chủ quyền biển, đảo nói chung, giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo nói riêng là vấn đề quan trọng được nhiều nhà khoa học và giáo dục quan tâm nghiên cứu. Trên cơ sở các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài, chúng tôi tiếp cận theo hai hướng sau đây: 1. Những nghiên cứu về chủ quyền biển, đảo 1. Tài liệu của các tác giả nước ngoài Biển, đảo Việt Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sớm được phản ảnh trong các ghi chép, tác phẩm, bản đồ của người Trung Quốc, trực tiếp hay gián tiếp xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, đặc biệt đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Thích Đại Sán (tức Hòa thượng Thạch Liêm, người Chiết Giang, Trung Quốc) trong bộ sách Hải ngoại kỉ sự viết từ năm 1696 (Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội dịch và xuất bản năm 2016) đã quan sát và ghi chép khá tỉ mỉ về Vạn Lí Trường Sa (tức quần đảo Hoàng Sa), khẳng định các chúa Nguyễn đã hành xử chủ quyền của mình trên quần đảo này. Các bản đồ của người Trung Quốc vẽ trước năm 1909 và nhiều tư liệu cổ Trung Quốc như Giao Châu di vật chí của Dương Phù, Chư phiên chí của Triệu Nhữ Quát, Phù Nam truyện của Khang Thái, Nam Châu dị vật chí của Vạn Chấn… cũng chỉ xác định giới hạn lãnh thổ phía Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam, trong khi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm cách xa vịnh Bắc Bộ về phía Nam, tức thuộc phần lãnh thổ của Việt Nam. Như vậy, các bản đồ và tư liệu của người Trung Quốc đã trực tiếp hoặc gián tiếp thừa nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là nguồn tư liệu có tính khách quan cao để khai thác và sử dụng trong dạy học lịch sử nhằm khẳng định chủ quyền lâu đời và liên tục của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, qua đó giáo dục ý thức trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc cho học sinh.
Từ những thế kỉ XVII - XVIII, người phương Tây, trong đó có người Pháp đã sớm nghiên cứu và viết về các vùng biển, đảo miền Trung của Việt Nam (thường gọi là Cochinchina hay An Nam). Chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được nhắc đến với tên gọi là Pracels hay Paracels. Trong bộ Lettres Esdifiantes et Curieuses, xuất bản ở Paris năm 1838 đã tập luan an 8 hợp thư từ, nhật kí của các nhà buôn, giáo sĩ người Pháp về các vùng biển, đảo xứ Đàng Trong; hay nhà địa lí người I-ta-li-a tên là Adriano Balbi trong Abrégé de gesographie, resdigé sur un nouveau plan, xuất bản bằng tiếng Pháp tại Paris năm 1838, Compendio di georafia universale, quarta edizione, tomo primo, xuất bản tại Livorno (Ý) năm 1824…đều ghi rõ quần đảo Hoàng Sa (Paracels) là những hòn đảo dọc theo bờ biển thuộc về nước Nam (Cochinchina): “Quần đảo Hoàng Sa có khoảng cách xa bằng nhau từ Hải Nam với nước Nam (Cochinchina) và thuộc chủ quyền của vương quốc An Nam” [189, tr. Các từ điển bách khoa, từ điển địa lí phương Tây từ thế kỉ XIX cũng khẳng định quần đảo Hoàng Sa (Paracels) thuộc về An Nam (Cochinchina).
Cuốn The English Encyclopaedia, London, 1866 của Charles Knight ghi rõ: “Cochinchina còn gọi là An Nam ở miền Á Đông, thường được biết như là Ấn Độ không có sông Hằng, gần 400 dặm dọc theo bờ biển kéo dài tới Paracels (quần đảo Hoàng Sa)” [191, tr. Rõ ràng, người phương Tây sớm khẳng định Hoàng Sa là quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam, được ghi chép vào từ điển để phổ biến rộng rãi. Đây là một minh chứng thuyết phục để xác định nội dung lịch sử giáo dục cho HS. Từ cuối thế kỉ XIX, vấn đề chủ quyền và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tiếp tục được các tác giả ngoài nước phản ánh.
John Barrow trong cuốn Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793), Nxb Thế giới, Hà Nội, 2008 (bản dịch); hay John White (Mĩ) trong A Voyage to Cochin China, London, Longman, 1824 đều phản ánh rõ việc triều Nguyễn quan tâm đầu tư các đội thuyền để hoạt động khai thác và khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa. Morineau trong Di tích lịch sử vùng dưới Bao Vinh: đồn và pháo đài, Nxb Thuận Hóa, 1997; hay Yoshiharu Tsuboi trong Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885, Nxb Tri thức, 2011 đã phản ánh việc phòng bị để bảo vệ các vùng biển, đảo luôn được triều Nguyễn đề cao dù đó là đang trong thời kì bang giao tốt đẹp giữa Đại Nam và các nước xung quanh. Đây là quan điểm của các học giả nước ngoài, nhưng rõ ràng, vấn đề xác định chủ quyền lãnh thổ rất được quan tâm qua các thời kì lịch sử, ngay cả trong điều kiện hòa bình. Qua tư liệu này, giáo dục học sinh tinh thần cảnh giác, ý thức trách nhiệm của bản thân đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia trong bất kì hoàn cảnh nào.
Từ khi thành lập, Liên Hợp quốc luôn chú trọng đến xây dựng luật biển quốc tế, từ đó thực hiện những bước đi quan trọng và cụ thể. Đó là những lần tổ chức hội luan an 9 nghị quốc tế về biển vào các năm 1958, 1960 và từ năm 1973 đến năm 1982. Thành công của các hội nghị về luật biển là việc chính thức thông qua Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 (United Nations Convention on Law of the Sea - UNCLOS). Đây là cơ sở quan trọng trong vấn đề phân định chủ quyền biển, đảo quốc tế, quy định chế độ pháp lý của đại dương và điều chỉnh các dạng hoạt động cơ bản về sử dụng, nghiên cứu, khai thác và chinh phục đại dương.
Theo Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982, Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lí khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Monique Chemillier Gendreau, Giáo sư trường Đại học Paris VII (Pháp) viết cuốn Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Hồng Thao dịch, Lưu Văn Lợi hiệu đính), Nxb Chính trị Quốc gia, 2011. Cuốn sách nghiên cứu dưới góc độ công pháp quốc tế về chủ quyền biển, đảo của các nước ở Biển Đông, đưa ra lập luận vững chắc về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên nguyên tắc của Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982. Với những chứng cứ lịch sử và pháp lý thuyết phục, tác giả khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam.
Đây là tiếng nói khách quan của một nhà nghiên cứu nước ngoài, góp phần khẳng định với thế giới về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài các ghi chép, công trình xuất bản, bản đồ…, các hội thảo về chủ đề biển đảo cũng được các ngành Ngoại giao, Sử học, Luật pháp… tổ chức, thu hút đông đảo giới khoa học và chính trị của nhiều nước. Các hội thảo lần lượt được được tổ chức tại Hoa Kỳ và Nga vào năm 2014 với sự đóng góp của nhiều chuyên gia đến từ các nước khác nhau, cùng góp tiếng nói chung để khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tài liệu của các tác giả trong nước Sớm nhận thức được tầm quan trọng của các vùng biển, đảo trong xây dựng và bảo vệ đất nước, các công trình biên soạn chính thức của nhà nước Việt Nam thời phong kiến như: Đại Việt sử kí tục biên, Đại Nam thực lục, Hoàng Việt dư địa chí, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ…ghi nhận rất rõ về chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa.
Năm 1776, nhà bác học Lê Quý Đôn đã biên soạn Phủ biên tạp lục, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007. Đây là tập bút kí viết về Đàng Trong, nhất là xứ Thuận và xứ Quảng từ thế kỉ XVIII về trước. Trong Quyển II viết về hình thế núi sông, thành lũy, trị sở, đường sá, bến đò, nhà trạm hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam luan an 10 có ghi rõ: “Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh huyện Bình Sơn có núi gọi là cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển 4 canh thì đến; phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hóa vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày đêm thì mới đến, chỗ gần xứ Bắc Hải” [182, tr. Như vậy, việc xác lập đơn vị hành chính để trực tiếp quản lí các vùng biển, đảo chứng tỏ vấn đề biển, đảo được chính quyền phong kiến rất quan tâm.
Ngoài vùng biển miền Trung và quần đảo Hoàng Sa, tài liệu này còn viết về các vùng biển, đảo khác của xứ Đàng Trong. Trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1821) và Hoàng Việt địa dư chí (1833) đều có viết về phủ Tư Nghĩa mà hầu như nội dung quan trọng nhất là viết về quần đảo Hoàng Sa. Nội dung về Hoàng Sa trong hai bộ sách này có điểm tương tự như trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, đều viết Hoàng Sa thuộc huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi ngày nay), tức là thuộc sự quản lí hành chính của nhà nước phong kiến Việt Nam. Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, Nxb Thuận Hóa, 2006 (gồm 5 tập), trong đó, tập II có ghi rõ quá trình tổ chức thực thi chủ quyền của nhà nước phong kiến đối với các vùng biển, đảo, trong đó hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: “Đầu niên hiệu Gia Long, cũng phỏng theo chế độ cũ đặt đội Hoàng Sa.