Luận án tiến sĩ: Đổi mới sử dụng di tích lịch sử địa phương trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1945 tại Thừa Thiên Huế

Khám phá phương pháp sử dụng di tích lịch sử địa phương để nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858-1945. Tài liệu phân tích chiến lược đổi

Trường đại học

Đại học Sư phạm Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

190
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đổi mới sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam

Đổi mới sử dụng di tích lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1945 là hướng nghiên cứu mang tính cấp thiết. Di tích lịch sử đóng vai trò là nguồn tài liệu trực quan sinh động, giúp học sinh tiếp cận quá khứ một cách chân thực. Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc khai thác di tích địa phương trở thành yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử. Tỉnh Thừa Thiên Huế sở hữu hệ thống di tích phong phú, liên quan mật thiết đến giai đoạn lịch sử 1858-1945. Các di tích này phản ánh cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, phong trào cách mạng của nhân dân. Việc sử dụng hiệu quả di tích lịch sử đòi hỏi giáo viên có phương pháp sư phạm phù hợp. Nghiên cứu này tập trung xây dựng hệ thống giải pháp đổi mới, từ phân loại di tích đến thiết kế hoạt động dạy học. Mục tiêu cuối cùng là phát huy giá trị giáo dục của di tích trong nhà trường phổ thông.

1.1. Khái niệm di tích lịch sử và phân loại trong dạy học

Di tích lịch sử là nơi ghi dấu sự kiện lịch sử, cách mạng, khảo cổ học hoặc chứa đựng di vật có giá trị. Theo Luật Di sản văn hóa, di tích được xếp hạng cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh. Trong dạy học lịch sử, di tích được phân loại theo nhiều tiêu chí: theo nội dung (di tích khảo cổ, di tích lịch sử-văn hóa, di tích lịch sử-cách mạng), theo thời gian, theo chương trình sách giáo khoa. Việc phân loại giúp giáo viên lựa chọn di tích phù hợp với từng bài học.

1.2. Giá trị của hệ thống di tích lịch sử Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi lưu giữ nhiều di tích liên quan đến lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858-1945. Hệ thống di tích bao gồm Quần thể Di tích Cố đô Huế, các cơ quan Xứ ủy Trung Kỳ, chiến khu Dương Hòa. Di tích phản ánh lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, ý chí độc lập tự cường. Đây là nguồn tài liệu quý giá phục vụ dạy học lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc.

II. Phân tích thực trạng sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử

Thực trạng sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1945 còn nhiều hạn chế. Giáo viên chưa khai thác hết giá trị giáo dục của di tích địa phương. Phương pháp sử dụng chủ yếu là chiếu hình ảnh, kể chuyện minh họa, thiếu các hoạt động trải nghiệm thực tế. Học sinh tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, chưa có cơ hội tìm hiểu trực tiếp tại di tích. Nhiều giáo viên gặp khó khăn trong việc lựa chọn di tích phù hợp với nội dung bài học. Thời gian giảng dạy chương trình lịch sử bị giới hạn, không cho phép tổ chức nhiều bài học thực địa. Cơ sở vật chất phục vụ dạy học tại di tích chưa được đầu tư đúng mức. Nhận thức về vai trò của di tích lịch sử trong giáo dục còn chưa đầy đủ ở một số cán bộ quản lý và giáo viên.

2.1. Hạn chế trong phương pháp sử dụng di tích lịch sử hiện nay

Phương pháp sử dụng di tích lịch sử trong dạy học hiện nay chủ yếu dừng ở mức minh họa. Giáo viên sử dụng hình ảnh, video về di tích mà thiếu hoạt động tương tác trực tiếp. Bài học thực địa tại di tích rất ít được tổ chức do yêu cầu nhiều công sức và thời gian. Học sinh thiếu kỹ năng quan sát, phân tích khi tiếp xúc với di tích. Phương pháp sư phạm chưa phát huy tính tích cực, chủ động của người học.

2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong thực tiễn dạy học

Nguyên nhân hạn chế xuất phát từ nhiều phía. Chương trình lịch sử nặng về nội dung, thời gian giảng dạy bị giới hạn. Giáo viên chưa được đào tạo bài bản về phương pháp sử dụng di tích. Nhận thức của một số nhà quản lý về vai trò giáo dục của di tích chưa đầy đủ. Kinh phí tổ chức hoạt động tham quan, học tập tại di tích còn eo hẹp. Sự phối hợp giữa nhà trường và cơ quan quản lý di tích chưa thường xuyên.

III. Giải pháp đổi mới sử dụng di tích lịch sử địa phương trong dạy học

Đổi mới sử dụng di tích lịch sử địa phương đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ. Giải pháp đầu tiên là xây dựng cơ sở dữ liệu di tích lịch sử phục vụ dạy học, bao gồm thông tin chi tiết về từng di tích liên quan đến giai đoạn 1858-1945. Giáo viên cần được bồi dưỡng phương pháp sư phạm sử dụng di tích hiệu quả. Thiết kế bài học cần kết hợp nhiều hình thức: bài nội khóa tại trường, bài thực địa tại di tích, hoạt động ngoại khóa. Phương pháp dạy học tích cực phát huy vai trò chủ động của học sinh. Giáo viên sử dụng di tích như nguồn tài liệu học tập, yêu cầu học sinh quan sát, phân tích, đánh giá. Công nghệ thông tin hỗ trợ giới thiệu di tích khi điều kiện không cho phép đến trực tiếp. Sự phối hợp giữa nhà trường với Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Bảo tàng Lịch sử tỉnh cần được tăng cường.

3.1. Xây dựng hệ thống bài học sử dụng di tích lịch sử Thừa Thiên Huế

Hệ thống bài học được xây dựng theo ba loại hình: bài nội khóa lịch sử địa phương, bài nội khóa lịch sử Việt Nam và hoạt động ngoại khóa. Mỗi bài học gắn với di tích cụ thể, có mục tiêu rõ ràng, phương pháp phù hợp. Giáo viên được cung cấp mẫu thiết kế bài học, hướng dẫn cách khai thác di tích. Hệ thống bài học đảm bảo tính khoa học, sư phạm và khả thi trong thực tiễn.

3.2. Bồi dưỡng năng lực sử dụng di tích lịch sử cho giáo viên

Bồi dưỡng giáo viên là giải pháp then chốt để đổi mới sử dụng di tích lịch sử. Nội dung bồi dưỡng gồm: kiến thức về di tích lịch sử địa phương, phương pháp sư phạm sử dụng di tích, kỹ năng thiết kế bài học thực địa. Hình thức bồi dưỡng đa dạng: tập huấn chuyên đề, tham quan thực tế, sinh hoạt chuyên môn. Giáo viên được hướng dẫn cách phối hợp với cơ quan quản lý di tích trong dạy học.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu đã hoàn thành các mục tiêu đặt ra. Hệ thống di tích lịch sử Thừa Thiên Huế liên quan đến lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1945 được thống kê, phân loại đầy đủ. Các giải pháp đổi mới sử dụng di tích lịch sử được xây dựng và kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm. Kết quả thực nghiệm cho thấy hiệu quả tích cực: học sinh tiếp thu kiến thức tốt hơn, hứng thú học tập tăng lên rõ rệt. Kỹ năng tư duy lịch sử, khả năng phân tích đánh giá của học sinh được phát triển. Giáo viên nâng cao năng lực sư phạm, biết cách khai thác di tích địa phương hiệu quả. Đề tài có ý nghĩa khoa học đóng góp vào lý luận phương pháp dạy học lịch sử. Ý nghĩa thực tiễn giúp cải thiện chất lượng dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông. Nghiên cứu mở ra hướng phát triển mới cho việc sử dụng nguồn tài liệu địa phương trong giáo dục.

4.1. Đóng góp khoa học của luận án tiến sĩ giáo dục

Luận án đóng góp vào lý luận phương pháp dạy học lịch sử ở ba phương diện. Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về sử dụng di tích lịch sử trong dạy học. Thứ hai, xây dựng hệ thống giải pháp đổi mới có tính khả thi cao. Thứ ba, cung cấp cơ sở dữ liệu di tích lịch sử Thừa Thiên Huế phục vụ dạy học. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo cho các địa phương khác trong cả nước.

4.2. Khả năng áp dụng rộng rãi trong giáo dục phổ thông

Kết quả nghiên cứu có khả năng áp dụng rộng rãi ở các trường trung học phổ thông trên cả nước. Hệ thống giải pháp được xây dựng linh hoạt, phù hợp với điều kiện từng địa phương. Giáo viên có thể vận dụng nguyên tắc, phương pháp vào khai thác di tích lịch sử địa phương mình. Các cơ quan quản lý giáo dục có thể tham khảo để đưa nội dung di tích vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ đổi mới sử dụng di tích lịch sử ở địa phương trong dạy học lịch sử việt nam từ 1858 đến 1945

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Vấn đề đổi mới sử dụng DTLS ở địa phương trong DHLS ở trường THPT - Lý luận và thực tiễn. Giải pháp đổi mới sử dụng DTLS ở địa phương trong DHLS Việt Nam từ 1858 đến 1945 ở trường THPT tỉnh Thừa Thiên Huế.

Thực nghiệm sư phạm toàn phần. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI DTLS và sử dụng DTLS trong dạy học đã được nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu. Chúng tôi tiếp cận các nghiên cứu trong nước, trên thế giới có liên quan đến đề tài theo các hướng sau đây: 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ SỬ DỤNG DI TÍCH LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1.

Các công trình nghiên cứu về di tích lịch sử 1. Nước ngoài Cùng với việc đề xuất khái niệm di tích, DTLS, các hiến chương, công ước quốc tế của UNESCO như The Venice Charter (Hiến chương Quốc tế về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ, 1964), Conservation Concerning the Protection of the World Cultural and Natural Heritage (Công ước về bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới, 1972) đã khẳng định vai trò của DTLS trong việc giáo dục truyền thống dân tộc: “DTLS của các thế hệ con người, thấm đượm một thông điệp từ thời quá khứ, đến ngày nay hãy còn như là những chứng nhân sống của những truyền thống lâu đời cổ xưa” [135]. Tại Hội nghị Quốc tế các khoa học lịch sử lần thứ XVII ở Madrit (Tây Ban Nha) (1990), báo cáo Các nhà Sử học và việc gìn giữ các DSVH của nhân loại nhấn mạnh: “DTLS – văn hoá là những DSVH quý hiếm của nhân loại, cần được bảo vệ và sử dụng đúng đắn. DTLS đã và đang trải qua những hiểm họa đó là thời gian ngày càng lùi xa, thiên nhiên khắc nghiệt và cả sự vô ý thức của con người” [18, tr.

Nhìn chung, các bản hiến chương, công ước, hội nghị quốc tế đã khẳng định ý nghĩa thực tiễn của vấn đề chúng tôi nghiên cứu nhằm giáo dục thế hệ trẻ có ý thức, trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ để “chuyển giao cho các thế hệ mai sau muôn ngàn di tích đó với đầy đủ vẻ rực rỡ huy hoàng đích thực của chúng” [135]. 8 Cuốn Heritage: Management, Interpretation, Identity (Di sản: Quản lý, diễn giải và bản sắc) (Continnuum, London, 2003), Peter Howard đã đề xuất định nghĩa, phân loại các lĩnh vực của di sản thành: thiên nhiên, cảnh quan, đài kỷ niệm, khu di tích, đồ tạo tác, các hoạt động và con người. DSVH không chỉ là một giá trị biểu tượng của một cộng đồng, dân tộc, mà còn có đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của xã hội. Dựa trên nghiên cứu của Peter Howard, chúng tôi đã vận dụng để phân tích các giá trị của DTLS ở Thừa Thiên Huế.

Trong bài viết The Relationship between the Tangible Cultural Heritage and Intangible Cultural Heritage (Mối quan hệ giữa DSVH vật thể và DSVH phi vật thể) (Journal of Northwest Normal University (Social Sciences), 2006-06), Bành Cương Gia đã giải thích rõ khái niệm, mối quan hệ tác động qua lại giữa DSVH vật thể và DSVH phi vật thể. Đặc biệt, các giải pháp bảo vệ DSVH vật thể, trong đó có nâng cao ý thức của thế hệ trẻ cần được quan tâm nghiên cứu để vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam. Trong bài viết Revisiting the Concept of Cultural Relics:From A Legislative Perspective (Xem xét lại khái niệm về DSVH: Từ góc độ lập pháp) (China Cultural Heritage Scientific Research, 2014-01), Phó Doanh dựa trên quy định của pháp luật đã làm rõ khái niệm di tích văn hóa dùng để chỉ những vật thể có giá trị lịch sử, khoa học và nghệ thuật, phải có phạm vi cụ thể, có đặc điểm quan trọng là tính pháp lý rõ ràng, chính xác. Tác giả cũng phân biệt DSVH với di tích văn hóa.

Bài viết của Phó Doanh đã làm rõ hơn các khái niệm liên quan đến đề tài. Bài viết 文物价值及其利用 (Giá trị của các DSVH và vấn đề sử dụng) (咸阳师范专 科学校学报, 1999 年 04 期 第 44-46 ⻚页) của Lương An Hoà trình bày khá sâu sắc giá trị của DSVH nói chung, DTLS nói riêng, không chỉ trên khía cạnh giá trị lịch sử, nghệ thuật, khoa học, mà DTLS còn có giá trị trao đổi và giá trị sưu tầm… Chúng tôi đã tham khảo bài viết khi phân tích giá trị của DTLS ở Thừa Thiên Huế. Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp hệ thống khái niệm, cách phân loại DSVH nói chung, DTLS nói riêng, cũng như gián tiếp hoặc trực tiếp khẳng định giá trị của DTLS trong việc phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục thế hệ trẻ. Trong nước Hệ thống giáo trình, sách chuyên khảo, bài viết nghiên cứu về di tích, DTLS khá phong phú.

* Giáo trình, sách chuyên khảo Cuốn Bảo tàng - Di tích - Lễ hội (NXB Thông tin, Hà Nội, 1992) của Phan Khanh, Bảo tồn DTLS VH (Trường Đại học Văn hoá Hà Nội, 1993) của Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức nhấn mạnh tầm quan trọng của DTLS đối với đời sống và nhiệm vụ giáo dục: DTLS là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc. Lịch sử đã trôi qua, nhưng những sự tích anh hùng của thế hệ trẻ vẫn còn vọng mãi trong tâm hồn bao thế hệ trẻ. DTLS chính là tấm gương cho mỗi người tự soi bóng mình, nhắc nhở bản thân cố gắng đóng góp sức lực, trí tuệ cho đất nước. Nhận định của các tác giả đã khẳng định ý nghĩa thực tiễn của vấn đề luận án nghiên cứu.

Là công trình đi sâu nghiên cứu về DTLS – văn hoá, giáo trình DTLS – văn hoá và danh thắng Việt Nam: Giáo trình dành cho sinh viên đại học và cao đẳng ngành Du lịch (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008) của Dương Văn Sáu đã phân tích khái niệm, đặc điểm di tích, DTLS; tiêu chí xác định DTLS; phân loại DTLS… Đây là nguồn tài liệu quan trọng để chúng tôi tìm hiểu các vấn đề lý luận của luận án, đặc biệt là các tiêu chí phân loại DTLS. Mặc dù tập trung phân tích quản lý DSVH với du lịch, nhưng giáo trình Quản lý DSVH với phát triển du lịch (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010) của Lê Hồng Lý (chủ biên) đã trình bày cách phân loại, các bước mô tả DTLS. Nội dung này rất hữu ích khi hướng dẫn HS tìm hiểu DTLS, như: Vị trí, tên gọi, cảnh quan; lịch sử hình thành, phát triển; nhân vật được thờ và những người có công xây dựng, giá trị xếp hạng… * Bài viết hội thảo khoa học, tạp chí Nhiều bài viết từ Kỷ yếu Hội thảo khoa học thực tiễn - Di tích và hiện vật bảo tàng (Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, 1996) như: “Di tích và hiện vật bảo tàng trong tâm thức mỗi chúng ta” của Phạm Mai Hùng, “Một số vấn đề về di tích và bảo tàng” của Đặng Văn Bài, “Di tích và môi trường tồn tại của nó” của Phạm 10 Xanh, “Bốn luận đề về mối quan hệ giữa trưng bày bảo tàng với di tích bất động sản” của Đặng Hòa… đều nhấn mạnh DTLS văn hoá là dấu tích tiêu biểu, thiêng liêng của cộng đồng. Việc giữ gìn DTLS biểu hiện sự tôn kính của người đời sau đối với giá trị tinh thần cao quý của dân tộc, tấm gương hi sinh cao cả của tiền nhân.

Các bài viết đề xuất định nghĩa về di tích và phân loại di tích thành di tích bất động sản và di tích động sản. Trong bài viết Bảo vệ DTLS văn hoá trong bối cảnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước (Tạp chí DSVH, số 2, quí I/2003), Hà Văn Tấn đã nhắc nhở phải gìn giữ và phát huy các giá trị của DTLS: “Nếu chúng ta không có những chính sách bảo tồn thì ngay cả các di tích quý giá ấy cũng sẽ bị mất đi, mà một dân tộc đánh mất đi DTLS – văn hoá là một dân tộc đánh mất trí nhớ. Chúng tôi đã tham khảo nội dung so sánh DTLS với DTLS – văn hoá, cũng như khái quát giá trị của DTLS với tư cách là “nguồn sử liệu trực tiếp”. Bài viết Bảo tồn và phát huy DSVH bằng hình thức bảo tàng hóa DSVH (Tạp chí DSVH, số 4 (45), 2013), Nguyễn Thu Trang lại nghiên cứu về vấn đề bảo tồn di tích bằng hình thức bảo tàng.

Đây là gợi ý hay, có thể vận dụng để tạo ra di tích ảo, phòng trưng bày ảo nhằm sử dụng gián tiếp các di tích trong DHLS ở trường THPT khi không có điều kiện tổ chức bài học, HĐTN tại thực địa. Như vậy, các giáo trình, sách chuyên khảo, bài viết tạp chí, hội thảo là cơ sở khoa học để chúng tôi làm rõ những vấn đề lý luận của đề tài như: Khái niệm, các tiêu chí để xác định và phân loại di tích, DTLS; cũng như khẳng định vai trò, ý nghĩa của DTLS đối với đời sống xã hội nói chung và giáo dục nói riêng. Các công trình nghiên cứu về sử dụng DTLS trong DHLS ở trường phổ thông 1. Nước ngoài * Giáo trình, sách chuyên khảo về Giáo dục học Phương pháp trực quan ra đời từ rất sớm và có vai trò quan trọng trong QTDH.

Jan Amot Komensky (1592 -1670) - nhà Giáo dục Tiệp Khắc vĩ đại, “ông tổ của nền sư phạm cận đại” đặc biệt đề cao việc giảng dạy có tính trực quan và coi đó là “nguyên tắc vàng ngọc”. Các nhà Tâm lý học, Giáo dục học của Liên Xô như 11 V. Ilina… cũng khẳng định vai trò của phương pháp trực quan và việc sử dụng DTLS trong dạy học. Với cuốn Tư duy HS (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1970), M.N Sácđacốp nhận thấy sự cần thiết phải sử dụng DTLS và cho rằng GV cần “cung cấp cho HS tới mức tối đa các tri thức cụ thể, các biểu tượng trong sáng và muôn màu, muôn vẻ về các sự vật và hiện tượng đang học.

Có thể thực hiện nhiệm vụ này bằng cách tổ chức cho HS tri giác các DTLS và các di sản văn hóa…” [109, tr. Exipôp dành hẳn Chương XI trong cuốn Những cơ sở của lý luận dạy học, tập 3 (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1978) để phân tích vị trí, ý nghĩa giáo dục tri thức, tư tưởng, tình cảm cho HS khi tham quan DTLS. Tác giả lý giải điểm khác về nội dung, cách thức tiến hành tham quan DTLS với các hình thức tham quan khác. Đây là những đặc điểm cần lưu ý khi xác định nội dung, quy trình tổ chức bài học và hướng dẫn HS làm bài thu hoạch sau khi tham quan DTLS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ