Tổng quan về luận án

Công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW cùng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đánh dấu bước chuyển mình mang tính hệ hình: dịch chuyển từ mô hình giáo dục tiếp cận nội dung (hướng truyền thụ kiến thức một chiều) sang mô hình giáo dục tiếp cận năng lực. Trong bối cảnh đó, môn Lịch sử ở bậc trung học phổ thông (THPT) đòi hỏi sự thay đổi triệt để về mặt phương pháp luận, đặt trọng tâm vào việc biến học sinh (HS) từ người thụ cảm thụ động thành những chủ thể nghiên cứu độc lập. Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài "Đổi mới sử dụng di tích lịch sử ở địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1945 ở trường trung học phổ thông tỉnh Thừa Thiên Huế" do nghiên cứu sinh Trần Thị Hải Lê thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử, mã số 9.11) đại diện cho một công trình nghiên cứu tiên phong, định hình khung giải pháp sư phạm khai thác di sản phục vụ phát triển phẩm chất và năng lực người học.

Khoảng trống học thuật (research gap) cốt lõi được xác định rõ nét: Mặc dù Thừa Thiên Huế sở hữu mật độ di tích lịch sử (DTLS) đồ sộ với Quần thể Di tích Cố đô Huế (Di sản Văn hóa Thế giới từ 1993), 55 DTLS cấp Quốc gia, 56 DTLS cấp Tỉnh cùng 53 DTLS cách mạng thời kỳ 1858–1945, nhưng việc khai thác các nguồn sử liệu trực quan này trong thực tiễn dạy học lịch sử (DHLS) lại tồn tại sự đứt gãy nghiêm trọng. Nghiên cứu của Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (1980, 1992) hay Nguyễn Thành Nhân (2008, 2011) từng gợi mở tiềm năng của lịch sử địa phương (LSĐP), song chưa thiết lập được quy trình sư phạm chuẩn hóa theo định hướng tiếp cận năng lực, chưa giải quyết được bài toán kết nối hệ thống DTLS cụ thể với tiến trình lịch sử dân tộc (LSDT) giai đoạn 1858–1945, và thiếu các công cụ đo lường thống kê thực nghiệm toàn phần. Thực trạng tại các trường THPT tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy giáo viên (GV) chủ yếu dùng tài liệu di tích để minh họa thứ cấp cho bài giảng lý thuyết trên lớp mà chưa khai thác di tích như một "nguồn sử liệu trực tiếp" (Hà Văn Tấn, 2003).

Nghiên cứu giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và kiểm chứng 1 giả thuyết khoa học (Scientific Hypothesis - H1):

  • RQ1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới sử dụng DTLS ở địa phương trong DHLS phát triển phẩm chất, năng lực ở trường THPT là gì?
  • RQ2: Thực trạng nhận thức, hành vi và hiệu quả khai thác DTLS trong dạy học lịch sử Việt Nam (1858–1945) tại tỉnh Thừa Thiên Huế đang diễn ra như thế nào?
  • RQ3: Hệ thống DTLS tại Thừa Thiên Huế giai đoạn 1858–1945 cần được phân loại, cấu trúc và tích hợp vào chương trình THPT theo những nguyên tắc và giải pháp sư phạm nào?
  • RQ4: Quy trình tổ chức bài học nội khóa trên lớp, bài học nội khóa tại thực địa và hoạt động trải nghiệm (HĐTN) tại DTLS mang lại hiệu quả thực nghiệm ra sao?
  • H1: Nếu xác định được hệ thống nội dung DTLS Thừa Thiên Huế cần thiết giai đoạn 1858–1945 và xây dựng được các giải pháp đổi mới đồng bộ về nhận thức, hình thức, biện pháp tiến hành bài học và kiểm tra, đánh giá (KT,ĐG), thì sẽ nâng cao rõ rệt hứng thú học tập, phát triển năng lực chuyên môn lịch sử và phẩm chất công dân cho HS THPT.

Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự giao thoa của Lý thuyết kiến tạo (Constructivism), Thuyết đa trí tuệ (Multiple Intelligences của Howard Gardner và Thomas Armstrong), Nguyên tắc trực quan sư phạm (Jan Amos Komensky, D. Nikiphôrốp), Lý thuyết phát triển tư duy lịch sử (I. Ia. Lerner) và mô hình Quản lý lớp học hiệu quả (Robert J. Pickering, Robert J. Marzano).

Phạm vi nghiên cứu bao quát 20 trường THPT tại 9 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, đại diện cho đầy đủ 3 vùng sinh thái - địa bàn giáo dục: đồng bằng, miền biển và miền núi. Đóng góp đột phá của công trình được định lượng thông qua hệ thống thực nghiệm sư phạm toàn phần trên hàng trăm học sinh đối chứng và thực nghiệm, chứng minh sự gia tăng vượt bậc về điểm số nhận thức, kỹ năng giải mã sử liệu và thái độ trân trọng di sản văn hóa.

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn quốc tế và trong nước cho thấy việc khai thác di sản và di tích trong giáo dục lịch sử luôn là chủ đề trung tâm của lý luận dạy học hiện đại:

Trong y văn thế giới, khái niệm và giá trị di tích được khẳng định vững chắc qua các văn kiện quốc tế như The Venice Charter (1964) và World Heritage Convention (1972) của UNESCO: "DTLS của các thế hệ con người, thấm đượm một thông điệp từ thời quá khứ, đến ngày nay hãy còn như là những chứng nhân sống của những truyền thống lâu đời cổ xưa". Peter Howard (2003) trong Heritage: Management, Interpretation, Identity đã hệ thống hóa các lĩnh vực di sản và khẳng định vai trò kiến tạo bản sắc xã hội. Về mặt sư phạm, nguyên tắc trực quan cổ điển của Jan Amos Komensky (1592–1670) được hiện đại hóa qua các nghiên cứu của D. Nikiphôrốp (1964) với luận điểm: "những biểu hiện của các DTLS là những đồ dùng trực quan đáng tin cậy nhất, là nhân chứng trực tiếp của các thời đại xa rồi". N. Iacôplep (1978) nhấn mạnh bài học tại thực địa giúp người học lắng nghe "ngôn ngữ thầm lặng nhưng hết sức hùng hồn".

Các công trình thế kỷ 21 chuyển dịch mạnh mẽ sang giáo dục di sản (Heritage Education) và học tập dựa trên nguồn sử liệu (Source-based Learning). Maria Grever, Pieter de Bruijn, Carla van Boxtel (2012) làm rõ cách thức vượt qua khoảng cách lịch sử thông qua trải nghiệm di sản. Timoteus Cun Bay (2016) đề xuất mô hình Learning based constructivism by using historical sites, chỉ trích lối dạy truyền thụ thụ động biến môn Lịch sử thành vô nghĩa và chứng minh di tích là chất xúc tác để HS tự kiến tạo tri thức. Mădălina Ţibrian Cuceanu (2014) qua công trình Learning by Researching Historical Documents and Relics xem di tích là điểm khởi đầu cho nghiên cứu khám phá. Song song đó, Adesote & Fatoki (2013) nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) để tạo dựng di tích ảo (virtual heritage).

Trong y văn Việt Nam, các nghiên cứu nền tảng của Phan Khang (1992), Dương Văn Sáu (2008), Lê Hồng Lý (2010), Hà Văn Tấn (2003) đã phân tích sâu sắc cấu trúc và giá trị văn hóa - lịch sử của di tích. Về phương pháp dạy học, Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị (1976, 1980, 1992), Trịnh Đình Tùng (2005), Nguyễn Thị Côi (2006), Nguyễn Cảnh Minh (2008) đặt nền móng cho việc phân loại đồ dùng trực quan và quy trình tham quan, dạy học tại thực địa. Nghiên cứu gần đây của Nguyễn Văn Ninh (2018) về tư liệu gốc, Nghiêm Đình Vỳ (2018) về phát triển năng lực môn Lịch sử, Hoàng Thanh Hải (1999) về di tích Thanh Hóa, Nguyễn Thị Duyên (2018) về di tích Nghệ An, Phạm Thị Thanh Huyền (2019) về di tích quốc gia đặc biệt tại Hà Nội đã bổ sung nhiều khía cạnh ứng dụng.

Tranh luận học thuật (scholarly debate) chủ yếu diễn ra giữa hai trường phái:

  1. Trường phái Truyền thống (Illustrative Approach): Coi DTLS chỉ là phương tiện trực quan minh họa cho bài giảng lý thuyết, giáo viên giữ vai trò trung tâm cung cấp kiến thức có sẵn, không gian dạy học bị bó hẹp trong bốn bức tường lớp học.
  2. Trường phái Hiện đại (Constructivist & Inquiry-based Approach): Coi DTLS là nguồn sử liệu gốc, điểm xuất phát của quá trình điều tra lịch sử. HS phải trực tiếp quan sát, giải mã dấu vết, đối chiếu tư liệu để tự kiến tạo kiến thức.

Luận án định vị chính xác ở việc giải quyết sự thiếu hụt của trường phái thứ hai trong bối cảnh cụ thể của Thừa Thiên Huế. Khi đối sánh với các nghiên cứu quốc tế điển hình:

  • So với nghiên cứu của Sonja Schoeman & Clarence Visagie (2014) tại Trường Tiểu học Elim (Nam Phi) về việc tổ chức 2 bài học trên lớp kết hợp 2 chuyến đi thực tế đến di tích Elim Moravian, luận án đã nâng tầm quy mô khi mở rộng từ bậc tiểu học lên THPT, chuẩn hóa quy trình phân tích sử liệu phức tạp giai đoạn cận - hiện đại.
  • So với nghiên cứu của Evy Kartika Candra (2016) về khai thác Pháo đài Van Den Bosch (Ngawi, Indonesia) và Maria Florentina Tery et al. (2018) về trực quan hóa di tích Bồ Đào Nha tại Flores, công trình của Trần Thị Hải Lê không chỉ dừng lại ở một điểm di tích đơn lẻ mà xây dựng giải pháp tổng thể cho một mạng lưới 3 nhóm di tích liên hoàn (Quần thể triều Nguyễn, di tích cách mạng, di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh), kết hợp giữa học tập trên lớp, học tập tại thực địa và mô hình hóa không gian số.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng và làm phong phú thêm Lý luận và Phương pháp dạy học môn Lịch sử thông qua các đóng góp lý thuyết căn bản:

  1. Mở rộng Lý thuyết Kiến tạo trong Dạy học Lịch sử: Chứng minh rằng sự tương tác trực tiếp của HS với DTLS (vật thể và phi vật thể) tạo ra môi trường tương tác xã hội - nhận thức lý tưởng (Zone of Proximal Development theo Vygotsky), biến các di tích từ tàn tích tĩnh thành các "đối tượng kích hoạt tư duy phản biện".
  2. Cụ thể hóa Thuyết Đa trí tuệ của Howard Gardner & Thomas Armstrong: Thiết kế các hoạt động học tập tại di tích tương thích với 8 loại hình trí thông minh (không gian - thị giác khi khảo sát kiến trúc thành quách; ngôn ngữ khi thuyết minh lịch sử; vận động khi tham gia đóng vai, điền dã; logic khi xử lý niên đại và sự kiện; nội tâm khi chiêm nghiệm biến cố lịch sử; tương tác khi làm việc nhóm dự án).
  3. Tái định nghĩa nguyên tắc trực quan sư phạm của J.A. Komensky & Ia. Lerner: Nâng tầm tính trực quan từ "trực quan minh họa" lên "trực quan nghiên cứu/khám phá".

Hệ thống mệnh đề khoa học (Theoretical Propositions) của luận án bao gồm:

  • Mệnh đề 1 (P1): Giá trị nhận thức lịch sử của DTLS tỷ lệ thuận với mức độ HS được trực tiếp tham gia vào quá trình phát hiện, giải mã và xử lý nguồn sử liệu gốc ẩn chứa trong di tích.
  • Mệnh đề 2 (P2): Việc tích hợp biện chứng giữa LSDT và LSĐP thông qua hệ thống di tích làm gia tăng sâu sắc tính xác thực và độ bền vững của tri thức lịch sử.
  • Mệnh đề 3 (P3): Đa dạng hóa hình thức dạy học (kết hợp bài học nội khóa trên lớp, thực địa và HĐTN) tạo ra sự chuyển biến đồng bộ về năng lực tìm hiểu lịch sử, năng lực nhận thức - tư duy lịch sử và năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp đa tầng 3 trục lý thuyết trụ cột:

  • Trục Sử học - Di sản học: Nhìn nhận DTLS Thừa Thiên Huế (1858–1945) là nguồn sử liệu sơ cấp phản ánh 3 lát cắt lịch sử: sự sụp đổ của chế độ phong kiến triều Nguyễn trước thực dân Pháp (Kinh thành Huế, Lăng Tự Đức, Lăng Hiệp Hòa, Phủ Tôn Thất Thuyết, Lăng mộ Nguyễn Tri Phương); quá trình hình thành tư tưởng yêu nước của Nguyễn Ái Quốc thời niên thiếu (Nhà lưu niệm Bác Hồ ở đường Mai Thúc Loan, Trường Quốc Học, Làng Dương Nỗ); và cao trào đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc (Nhà lao Thừa Phủ, Viện Dân biểu Trung Kỳ, Tòa soạn báo Tiếng Dân, Di tích Ngọ Môn - Kỳ Đài nơi vua Bảo Đại thoái vị tháng 8/1945).
  • Trục Lý luận Dạy học Hiện đại: Chuyển hóa mục tiêu bài học theo chuẩn đầu ra phẩm chất (yêu nước, tự hào dân tộc, trách nhiệm bảo tồn di sản) và năng lực (tìm hiểu lịch sử, giải thích tiến trình lịch sử, đánh giá nhân vật/sự kiện).
  • Trục Công nghệ và Quản trị Lớp học: Ứng dụng mô hình lớp học mở, kỹ thuật ghi chép Taking and Making (TM) của Bobbi DePorter & Mike Hernacki, cùng việc xây dựng hồ sơ tư liệu điện tử, di tích ảo để khắc phục rào cản địa lý.

Điều kiện biên (Boundary conditions): Khung giải pháp áp dụng tối ưu cho đối tượng HS THPT (lớp 11 và 12) có năng lực tư duy trừu tượng phát triển, trong phạm vi nội dung lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1945, tại các địa bàn có hệ thống di tích phân bổ hoặc có khả năng tiếp cận tư liệu số về di tích.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận hành theo lập trường phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp thế giới quan khoa học của thuyết kiến tạo xã hội (Social Constructivism) và chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism) trong khoa học giáo dục. Thiết kế nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp (Mixed-methods Research Design) kết hợp định tính chuyên sâu và định lượng nghiêm ngặt.

Thiết kế đa cấp độ (Multi-level Design):

  • Cấp độ 1 (Vĩ mô): Phân tích văn bản chính sách, Chương trình GDPT 2006 và 2018, Luật Di sản văn hóa, khảo cứu 164 di tích đã xếp hạng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Cấp độ 2 (Trung mô): Khảo sát thực trạng quản lý chuyên môn, nhận thức và hành vi dạy học tại 20 trường THPT đại diện cho 9 đơn vị hành chính của tỉnh Thừa Thiên Huế (TP. Huế, thị xã Hương Trà, thị xã Hương Thủy, các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc, Nam Đông, A Lưới).
  • Cấp độ 3 (Vi mô): Tiến hành các can thiệp sư phạm trực tiếp trên các lớp đối chứng (ĐC) và lớp thực nghiệm (TN) ở từng phân môn và bài học cụ thể.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu đảm bảo nguyên tắc tam giác đạc (Triangulation):

  • Tam giác đạc dữ liệu: Kết hợp dữ liệu văn bản lịch sử, tư liệu điền dã thực địa, phiếu hỏi điều tra xã hội học và kết quả bài kiểm tra đánh giá năng lực HS.
  • Công cụ thu thập dữ liệu: Phiếu hỏi GV (đánh giá tần suất, phương pháp, khó khăn khi sử dụng DTLS); Phiếu hỏi HS (đo lường hứng thú, nhận thức về di tích địa phương); Biên bản dự giờ quan sát hoạt động nhận thức của HS; Bảng kiểm đánh giá hiệu quả bài học (Rubrics đánh giá năng lực tái hiện, suy luận, thực hành).
  • Độ giá trị (Validity) và độ tin cậy (Reliability): Các thang đo thái độ và hứng thú được chuẩn hóa, thang đo bảng kiểm đạt độ tin cậy nội tại cao. Khảo sát thực trạng chỉ ra hiện tượng nhận thức lệch lạc đáng chú ý: Tỷ lệ HS chọn sai câu hỏi nhận diện DTLS tại Thừa Thiên Huế và các di tích liên quan giai đoạn 1858–1945 lên tới mức cao ở nhiều trường vùng ven và miền núi do thiếu hoạt động trải nghiệm thực tế.

Data và phân tích

Quá trình thực nghiệm sư phạm toàn phần được tổ chức thành 3 hình thức sư phạm độc lập có đối chứng:

  1. Bài học nội khóa lịch sử dân tộc (LSDT) trên lớp: Sử dụng tài liệu di tích địa phương dưới dạng học liệu số, phim tư liệu, tranh ảnh gốc.
  2. Bài học nội khóa lịch sử địa phương (LSĐP) tại thực địa: Tổ chức trực tiếp tại DTLS (như Cụm di tích Kinh Thành Huế, Nhà lưu niệm Bác Hồ, di tích Ngọ Môn).
  3. Hoạt động trải nghiệm (HĐTN) tại DTLS: Tổ chức cho HS làm việc nhóm, điều tra lịch sử, đóng vai hướng dẫn viên di sản, xây dựng dự án bảo tồn.

Dữ liệu định lượng thu được từ các bài kiểm tra đánh giá định kỳ sau thực nghiệm được phân tích thống kê toán học. Tác giả sử dụng kiểm định sai biệt giá trị trung bình $t$-Student để so sánh lớp Thực nghiệm (TN) và lớp Đối chứng (ĐC). Tiêu chuẩn kiểm định: Bác bỏ giả thuyết vô hiệu $H_0$ khi giá trị tính toán $t > t_\alpha$ (với mức ý nghĩa $\alpha = 0.05$ và bậc tự do tương ứng). Kết quả phân tích tần số điểm và các tham số thống kê đặc trưng chứng minh sự phân hóa rõ nét: Lớp TN luôn có điểm trung bình ($\bar{X}$) cao hơn lớp ĐC, tỷ lệ điểm Khá - Giỏi chiếm ưu thế tuyệt đối, phương sai và độ lệch chuẩn phản ánh tính ổn định vững chắc của phương pháp mới.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Kết quả nghiên cứu mang lại 4 phát hiện mang tính đột phá cho chuyên ngành phương pháp dạy học:

  1. Giải mã mâu thuẫn nhận thức thực trạng: Mặc dù 100% GV và HS được khảo sát đều thừa nhận giá trị to lớn của DTLS, nhưng mức độ sử dụng DTLS ở địa phương vào dạy học thường xuyên chỉ đạt tỷ lệ rất thấp; hình thức chủ yếu là "thuyết trình minh họa" (chiếm đa số), bài học tại thực địa hầu như vắng bóng. Tỷ lệ HS trả lời sai về các DTLS thời kỳ 1858–1945 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế chứng minh lỗ hổng nghiêm trọng của lối dạy "chay".
  2. Hiệu quả vượt bậc của mô hình bài học thực địa và HĐTN: Kết quả kiểm định thống kê toán học cho thấy giá trị thực nghiệm $t$ ở cả 3 hình thức (nội khóa trên lớp, nội khóa tại di tích, HĐTN) đều lớn hơn giá trị giới hạn $t_\alpha$ ($p < 0.05$). Điểm số thang đo hứng thú học tập và bảng kiểm đánh giá hiệu quả bài học của HS lớp TN tăng từ 25% đến 40% so với lớp ĐC.
  3. Hiện tượng "chuyển hóa cảm xúc thành hành vi bảo tồn": Khác với các giờ học trong lớp, việc tiếp xúc trực tiếp với "dấu vết quá khứ" tại thực địa tạo ra cú hích tâm lý mạnh mẽ. Lời trích dẫn sâu sắc: "Lịch sử nén chặt trong những di tích, khác với sách vở, làm lay động lòng người bằng sức mạnh hoành tráng và tiếng nói sâu thẳm riêng của nó" được chứng minh thực nghiệm khi 92% HS lớp TN tự giác tham gia các dự án bảo vệ môi trường di tích và tuyên truyền di sản địa phương.
  4. Cơ chế hình thành tư duy lịch sử đa chiều: HS không còn ghi nhớ niên đại một cách cơ học mà biết đặt câu hỏi phản biện, so sánh sự kiện thoái vị của Bảo Đại tại Ngọ Môn (8/1945) với các hiệp ước đầu hàng Giáp Tuất (1874), Hài Mùi (1883), Patenôtre (1884), từ đó hiểu sâu sắc quy luật vận động của lịch sử dân tộc.

Implications đa chiều

  • Về mặt Lý luận (Theoretical Advances): Định hình mô hình sư phạm tích hợp di sản vào dạy học lịch sử hiện đại, biến câu nói của Hà Văn Tấn thành nguyên tắc phương pháp: "Nếu chúng ta không có những chính sách bảo tồn thì ngay cả các di tích quý giá ấy cũng sẽ bị mất đi, mà một dân tộc đánh mất đi DTLS – văn hoá là một dân tộc đánh mất trí nhớ".
  • Về mặt Phương pháp (Methodological Innovations): Cung cấp bộ công cụ toàn diện bao gồm: 4 quy trình tổ chức bài học (Chuẩn bị -> Thực hiện -> Báo cáo/Tổng kết -> Đánh giá), hệ thống bảng kiểm Rubrics đánh giá năng lực, kỹ thuật hướng dẫn HS ghi chép Taking & Making tại thực địa, và quy trình xây dựng bảo tàng/di tích số.
  • Về mặt Thực tiễn và Chính sách (Practical & Policy Applications): Cung cấp cẩm nang sử dụng DTLS Thừa Thiên Huế giai đoạn 1858–1945 cho Sở Giáo dục và Đào tạo Thừa Thiên Huế, làm tài liệu chuẩn cho việc biên soạn sách giáo khoa Giáo dục địa phương; đưa ra lộ trình phối hợp liên ngành giữa Nhà trường - Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế - Bảo tàng Lịch sử - Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn chỉ ra 3 giới hạn nghiên cứu:

  1. Giới hạn về không gian địa lý và kinh phí: Do đặc thù giao thông và điều kiện kinh tế của các trường THPT vùng sâu vùng xa (huyện A Lưới, Nam Đông), việc tổ chức đưa HS đi thực nghiệm tại các di tích trung tâm TP. Huế còn gặp khó khăn về hậu cần, phải thay thế một phần bằng học liệu số.
  2. Giới hạn khung thời gian lịch sử: Công trình khu biệt trong giai đoạn 1858–1945, chưa mở rộng ra toàn bộ tiến trình lịch sử Thừa Thiên Huế thời tiền - sơ sử hoặc hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945–1975).
  3. Độ bao phủ của công nghệ thực tế ảo (VR/AR): Ở thời điểm nghiên cứu (2021), việc áp dụng mô hình 3D/VR vào di tích ảo mới ở mức sơ khởi, chưa đồng bộ trên nền tảng di động của toàn bộ HS.

Chương trình nghiên cứu tiếp nối (Future Research Agenda):

  • Mở rộng mô hình sang các giai đoạn lịch sử khác (1945–1975) và liên kết mạng lưới di tích liên tỉnh (Quảng Trị, Quảng Bình, Đà Nẵng).
  • Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ thực tế ảo tăng cường (AR/VR) trong việc tái hiện không gian lịch sử 3D tại các di tích đã bị phế tích hóa hoặc hư hại.
  • Xây dựng chuẩn đánh giá năng lực số hóa di sản cho giáo viên bộ môn Lịch sử toàn quốc.

Tác động và ảnh hưởng

  • Ảnh hưởng Học thuật: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về đổi mới sử dụng DTLS tỉnh Thừa Thiên Huế trong DHLS THPT, mở ra hướng nghiên cứu chuyên sâu về Didactics di sản tại các trường đại học sư phạm, dự kiến mang lại chỉ số trích dẫn cao trong các tạp chí khoa học giáo dục chuyên ngành.
  • Tác động Ngành Giáo dục: Trở thành tài liệu tham khảo bắt buộc cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử tại ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Huế và các cơ sở đào tạo giáo viên toàn quốc.
  • Tác động Quản lý và Chính sách Địa phương: Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học để Sở GD&ĐT tỉnh Thừa Thiên Huế chỉ đạo đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá, đưa nội dung học tập tại di tích thành tiêu chí thi đua của các tổ bộ môn Sử.
  • Lợi ích Xã hội và Bảo tồn Di sản: Nâng cao dân trí và ý thức bảo vệ di sản cho hàng ngàn học sinh THPT, tạo ra nguồn nhân lực tương lai có ý thức sâu sắc trong việc gìn giữ danh hiệu Cố đô Huế - Thành phố Festival, Trung tâm Di sản Văn hóa đặc sắc của Việt Nam và Thế giới.

Đối tượng hưởng lợi

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Trả lời: Luận án đã mở rộng Lý thuyết Kiến tạo (Constructivism) trong giáo dục lịch sử bằng việc chuẩn hóa quy trình chuyển hóa DTLS từ vị thế "phương tiện trực quan minh họa thụ động" thành "nguồn sử liệu gốc kiến tạo năng lực". Luận án hiện thực hóa định hướng: "GV không đặt trọng tâm vào việc truyền đạt kiến thức lịch sử cho HS mà chú trọng việc hướng dẫn HS nhận diện và khai thác các nguồn sử liệu, từ đó tái hiện quá khứ, nhận thức lịch sử, đưa ra suy luận, đánh giá về bối cảnh, nguồn gốc, sự phát triển của sự kiện, quá trình lịch sử để tìm kiếm sự thật lịch sử một cách khoa học, xây dựng và phát triển những năng lực chuyên môn của môn Lịch sử".

2. Đột phá phương pháp luận khi so sánh với các nghiên cứu trước đây? Trả lời: So với các công trình trước đây của Hoàng Thanh Hải (1999) hay Nguyễn Thị Duyên (2018) chủ yếu dừng lại ở việc liệt kê di tích và đề xuất phương pháp chung, luận án của Trần Thị Hải Lê đã thực hiện thiết kế nghiên cứu thực nghiệm sư phạm toàn phần đa diện (3 mô hình: nội khóa trên lớp, nội khóa tại di tích, HĐTN trải nghiệm) được kiểm định nghiêm ngặt bằng thống kê toán học ($t$-Student, kiểm định giả thuyết $H_0$ với mức ý nghĩa $p < 0.05$) trên địa bàn 20 trường THPT thuộc 9 huyện thị, kết hợp hệ thống Rubrics đo lường năng lực chuẩn xác.

3. Phát hiện thực nghiệm nào bất ngờ nhất từ dữ liệu? Trả lời: Phát hiện bất ngờ nhất là tỷ lệ nhận thức sai lệch nghiêm trọng của học sinh THPT về các di tích ngay tại địa phương mình trước khi can thiệp thực nghiệm. Dù sống tại "cái nôi di sản" Thừa Thiên Huế, phần lớn HS không liên kết được các công trình quen thuộc (như Cột Cờ Huế, Trường Quốc Học, Nhà lao Thừa Phủ) với các sự kiện cách mạng cụ thể 1858–1945 do phương pháp dạy chay truyền thống. Tuy nhiên, chỉ sau một chu kỳ can thiệp bằng bài học thực địa và HĐTN, chỉ số hứng thú và năng lực tư duy phản biện của nhóm thực nghiệm đã tăng vọt và vượt trội hoàn toàn so với nhóm đối chứng với độ tin cậy thống kê cao.

4. Quy trình nhân rộng (Replication Protocol) có được cung cấp đầy đủ không? Trả lời: Hoàn toàn đầy đủ. Luận án cung cấp chi tiết hệ thống giáo án thực nghiệm, bảng kiểm quan sát, bảng câu hỏi điều tra xã hội học, tiêu chí phân loại 164 di tích Thừa Thiên Huế, ma trận kết nối nội dung SGK Lịch sử lớp 11, 12 với hệ thống di tích cụ thể, và quy trình 4 bước tổ chức dạy học tại thực địa. Các giáo viên tại bất kỳ địa phương nào khác (như Hà Nội, Quảng Nam, TP. Hồ Chí Minh) đều có thể lấy quy trình này làm khuôn mẫu chuẩn để áp dụng cho hệ thống di tích tại địa phương mình.

5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm (10-Year Research Agenda) được vạch ra như thế nào? Trả lời: Luận án phác thảo lộ trình phát triển học thuật bao gồm: (1) Số hóa toàn diện nguồn tư liệu di tích lịch sử địa phương tích hợp công nghệ AI/AR vào dạy học; (2) Mở rộng khung phân tích sang toàn bộ hệ thống di tích thời kỳ chống Mỹ cứu nước (1954–1975); (3) Xây dựng mạng lưới liên kết Didactics Di sản miền Trung; (4) Chuẩn hóa khung đánh giá năng lực giáo dục di sản cho giáo viên THPT trên phạm vi toàn quốc.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trần Thị Hải Lê đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 6 đóng góp cụ thể và toàn diện:

  1. Hệ thống hóa vững chắc cơ sở lý luận: Làm sáng tỏ bản chất của việc đổi mới sử dụng DTLS địa phương theo định hướng tiếp cận phẩm chất, năng lực người học, tích hợp nhuần nhuyễn Lý thuyết kiến tạo, Thuyết đa trí tuệ và nguyên tắc trực quan sư phạm.
  2. Đánh giá toàn diện thực trạng: Khảo sát định lượng trên 20 trường THPT tại 9 huyện/thị xã/thành phố tỉnh Thừa Thiên Huế, chỉ rõ các nút thắt trong nhận thức, phương pháp và cơ chế quản lý dạy học di sản.
  3. Phân loại và cấu trúc hóa hệ thống DTLS: Xác định chính xác danh mục các DTLS Thừa Thiên Huế cần khai thác trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858–1945, phân định thành 3 nhóm tư liệu rành mạch.
  4. Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ: Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá bao gồm: đổi mới nhận thức của GV, đổi mới hình thức tổ chức, đổi mới biện pháp tiến hành bài dạy (trên lớp, thực địa, HĐTN), và đổi mới công cụ kiểm tra đánh giá năng lực.
  5. Thực nghiệm sư phạm chuẩn mực: Khẳng định tính khả thi và hiệu quả vượt trội của các giải pháp thông qua kiểm định thống kê toán học $t$-Student với $p < 0.05$.
  6. Mở ra các hướng nghiên cứu liên ngành mới: Kết nối chặt chẽ giữa Didactics Lịch sử, Di sản học, Bảo tàng học và Công nghệ giáo dục số.

Công trình không chỉ mang giá trị học thuật xuất sắc cho chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử mà còn tạo ra di sản thực tiễn lâu dài, trực tiếp phụng sự sự nghiệp đổi mới giáo dục phổ thông và công cuộc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.