mở đầu cho xâm chiếm thuộc địa. Trong khi đó, tình hình Việt Nam tối ren, rơi vào nội chiến liên miên. Các Vương triều Lê - Trịnh, Nguyễn ngày càng dé mat lòng dân. Nhiều nhà nghiên cứu cho rang cho đến gần cuối thé ky XVIII, Dang Trong đã ở vào “đêm trước một cơn giông bão lớn - đó là phong trao nông dân quật khởi dây lên từ đất Tây Sơn”.
Sau thất bại trước triều địa Tây Sơn, với mục tiêu chính trị rõ ràng là khôi phục lại vương triều, trong thời gian lưu lạc, Nguyễn Ánh đã bỏ chạy, cầu cứu sự chỉ viện đối với người Pháp chống lại Tây Sơn, khôi phục vị trí của mình. Đây cũng là khởi đầu cho liên minh giữa Nguyễn Ánh và giáo sĩ Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc). Sự hình thành liên minh Nguyễn Ánh - Bá Đa Lộc từ năm 1677 và sự kiện Hiệp ước Versailles” đã gắn chặt vua Gia Long vào ảnh hưởng của nước Pháp và giáo hội truyền giáo Paris. Năm 1802, sau đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lập ra nhà Nguyễn, lấy hiệu là Gia Long.
Trong suốt quãng thời gian nắm quyên, thái độ của vua Gia Long đối với người nước ngoài nói chung và người Pháp nói riêng vẫn có sự khiêm nhường, tôn trọng. Tuy nhiên, khi con trai của Nguyễn Ánh là Minh Mạng lên ngôi có suy nghĩ “tự Hán hóa” Việt Nam, vì vậy luôn có ý đề phòng, không mặn mà, sâu sắc gì với người phương Tây. Những biến động trên thế giới, khu vực châu Á và châu Âu, nhất là tại nước Pháp (cuộc cách mạng Pháp năm 1848 và thành lập Đề chế thứ hai năm 1853) đã làm cho quá trình xâm lược của Pháp chậm lại. Tóm lại quá trình xâm lược Đông Dưới áp lực của hội truyén giáo, Bá Da Lộc thay mặt cho chính quyên vua Louis XVI đã ký với đại diện của chúa Nguyễn là Hoàng tử Cảnh ký hiệp ước Versailles năm 1787 với 10 điều khoản, trong đó nhà Nguyễn sẽ nhường Côn Đảo và cửa biển Hội An cho Pháp, để cho Pháp độc quyền buôn bán tại Việt Nam, giúp Pháp khi Pháp thực hiện chiến tranh với các nước phương Đông.
Đổi lại, Chính phủ Pháp sẽ giúp chúa Nguyễn Ánh về mặt quân sự, quân đội, vũ khí, tàu chiến, ngoài ra còn cho người Pháp hỗ trợ truyền giáo cũng như giáo sĩ người Pháp truyền giáo tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực Đà Nẵng. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long vẫn duy trì mối quan hệ với người Pháp, nhưng phần nhiều các vị vua thời nhà Nguyễn đều không ưng thuận Công giáo cũng như sự hiện diện của giáo sĩ phương Tây. Điều này càng được minh chứng nhiều qua các đời vua: Gia Long (1802 - 1820); Minh Mạng (1820 - 1841); Thiệu Trị (1841 - 1847) và thời kỳ đầu của vua Tự Đức (1847 - 1883). 16 Dương của Pháp là quá trình chuẩn bị lâu dài với mục đích bành trướng, đánh dấu “phạm vi lãnh thổ” chứ không phải là vì tôn giáo hay “khai hóa văn minh”.
Sang đến thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc. Các nước dé quốc lao vào vòng xoáy xâm chiếm thuộc địa nhằm chiếm độc quyền thị trường ở những nước này. Lấy lý do bảo vệ đạo và khai hóa văn minh, thực dân Pháp đã tiến hành xâm lược Việt Nam. Do triều đình Huế thực hiện chính sách cắm đạo, giết giám mục, giáo dân (Hội truyền giáo nước ngoài Pháp có khoảng 50 vạn giáo dân) làm cho tình hình khó kiểm soát hơn.
Đến thời gian vua Thiệu Trị trị vị, vua không chủ trương bắt giết giáo dân, linh mục nước ngoài mà chỉ giam lại. Vua Thiệu Trị vẫn tiến hành “bức dao” nhưng không có đồ máu. Mặc dù vậy, sau chiến tranh nha phiến và xâm chiếm của các nước phương Tây tại Trung Quốc khiến vua đã có cái nhìn khác. Sau sự kiện Cửa Hàn năm 1847! vua Thiệu Trị đã tiến hành chính sách cam đạo, đánh đồng Công giáo với phương Tây.
Dé biến Việt Nam thành thuộc địa, không dừng lại ở đó, Pháp đã sử dụng tàu chiến tiến vào cửa biển Việt Nam, lay danh nghĩa đòi người, giám mục, trả tự do cho giáo dân, thương nhân tự do. Sự kiện Cửa Hàn chính là cuộc đụng độ đầu tiên giữa Pháp với Việt Nam, là dấu mốc quan trọng chấm dứt sự “bang giao” mang tính chất thuần nhất, chuyên Sang ngoại giao chiếm hạm và xâm lược thuộc địa. Như vậy, kể từ những ngày đầu thương nhân tự do phương Tây, CIO của Pháp vào Việt Nam buôn bán, trao đổi, thế kỷ XVI, vị thé của Pháp đã được đánh dấu ở Việt Nam. Công giáo truyền vào từ tự do, công khal, được đón nhận dần chuyển sang xung đột, ngăn cấm và đồ máu.
Sự giao lưu tiếp xúc văn hóa Đông - Tây tạo nên nền văn hóa - kinh tế - xã hội phong phú đa dạng, thay đổi theo từng ngày. Nhưng cũng do đó mà chủ nghĩa bành trướng, thôn tính thuộc địa đã có nền móng co bản. Ké từ giai đoạn này trở đi hàng loạt xung đột, phan ứng của Việt Nam với Pháp sẽ được thê hiện càng rõ ràng. 4, ' ; Lo, va : suy l Hai tàu chiên Pháp Gloire và Victorieuse - tàu chiên băn pháo kích Da Năng (người Việt gọi là Cửa Hàn) trong thời gian tri vi ngắn của vua Thiệu Trị (1841 - 1847).
17 Sử dụng mục đích tôn giáo là cái cớ “trong sáng” nhất quân Pháp tiến đánh Việt Nam. Sau đó vua Napoléon cử sứ giả đến triều đình Huế yêu cầu “truyền đạo tự do, buôn bán tự do”. Bên cạnh chuẩn bị quân đội dé cùng với các nước tư bản khác đánh vào Trung Quốc, ông còn lệnh cho thống lĩnh quân đội hải quân Pháp sau khi chiếm được Trung Quốc lập tức tiễn đánh miền Nam Việt Nam. Năm 1858, Pháp nỗ súng tan công bán đảo Sơn Trà, bắt đầu xâm chiếm Việt Nam.
Sau nhiều biến có khác, ngày 6/6/1884, hòa ước Patenôtre được ký kết tại kinh đô Huế gồm 19 điều khoản. Sự kiện này đánh dấu cham dứt chế độ phong kiến ở Việt Nam, đất nước năm dưới sự bảo hộ của Pháp, bắt đầu thời kỳ thuộc địa. Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp quyết định thành lập Liên bang Đông Dương gồm Nam Kỳ, Bắc Kỳ, Trung Kỳ của Việt Nam và Cao Miên, dưới quyền một viên Toàn quyền trực thuộc bộ Hải quân và Thuộc địa, thay mặt Chính phủ Pháp điều khiển bộ máy chính quyền. Năm 1899, Liên bang này sáp nhập thêm Lào [52.
Toàn quyền Paul Doumer thay thế toàn bộ hệ thống bảo hộ theo hiệp ước bằng việc cai trị trực tiếp. Bên cạnh đó cũng có các cơ quan chuyên môn giúp đỡ Toản quyền Đông Dương thực hiện nhiệm vụ cụ thể nhiều lĩnh vực trong xã hội. Bộ máy ở từng địa phương cũng có sự khác nhau. Tuy nhiên, có thé khang định người thiết kế thực sự cho chế độ thuộc địa Pháp ở Đông Dương là Toàn quyền Paul Doumer, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính, đồng thời là tác giả của Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất.
Co cầu hành chính của Doumer được cơ bản thực hiện và giữ nguyên cho đến năm 1945. Việt Nam chia thành Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ (Tonkin, Annam, Cochinchina). Bắc Kỳ điều hành bởi Thống sứ Bắc Kỳ - là người chịu trách nhiệm đảm bảo thi hành luật và sắc lệnh, nghị định được ban bố tại Đông Dương, dé xuất biện pháp cai trị và cảnh sát chung trên lãnh địa quản lý, điều hành, quản lý nhân sự trong thâm quyên. Thống sứ là người chịu trách nhiệm trước Toàn quyền Đông Dương về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục của Bắc Kỳ.
Thống sứ Bắc Kỳ [52, 15] thông qua Công sứ dé nắm bắt các hoạt động của cấp 18 tỉnh trở xuống. Ở Trung Kỳ được điều hành bởi Khâm sứ Trung Kỳ. Đây là cơ quan chỉ đạo và tổng hợp về mọi mặt của hoạt động chính quyền ở Trung Kỳ. Các tổ chức hỗ trợ gồm Hội đồng Bảo hộ, Hội đồng Hoàn thiện giáo dục bản xứ Trung Kỳ, Ủy ban Khai thác thuộc địa Trung Kỳ [52, 18].
Ở Nam Kỳ, có Thống đốc Nam Kỳ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương và có quyền hành tương đương với Thống sứ Bắc Kỳ và Khâm sứ Nam Kỳ. Ở các cấp độ địa phương, chế độ hành chính mang tính cách của một chế độ cai trị gián tiếp ở 3 trình độ: thôn xã, các bang Hoa Kiều và các xứ đạo. Chế độ tự trị truyền thống của các đoàn thê thôn xã vẫn được duy trì. Các đặc điểm chính của sư cai trị bởi các hương ước cùng với sự phân chia giữa dân làng, trách nhiệm thuế, sưu dịch và quân dịch vẫn tồn tại như trước khi người Pháp đến Việt Nam.
Chế độ tự trị mà vua Nguyễn dành cho các Hoa Kiều trước kia cũng được giữ lại. Ở hai vùng Bùi Chu và Phát Diệm (Bắc Kỳ) là hai vùng đạo Thiên Chúa được tô chức vững chắc, là, các vị giám mục đã thực sự điều hành công việc hành chính [4, 109]. Sự ra đời của con lai Pháp - Việt Dưới sự cai tri của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam truyền thong có rất nhiều biến đổi, đặc biệt là sự tiếp xúc văn hoá phương Tây. Văn hóa Pháp từ chỗ du nhập tự phát dần chuyên thành cưỡng bức văn hóa Việt.
Đặc điểm của sự tiếp biến văn hóa ở những năm của thế kỷ XX cùng với những tiếp diễn văn hóa trực tiếp, văn hóa phương Tây còn đi đường vòng, từ Tây Âu qua hai ngả Trung Hoa và Nhật Bản, từ đó thâm nhập vào xã hội Việt Nam. Dẫu vậy, những ảnh hưởng tư tưởng, văn hóa đó đã làm dấy lên tỉnh thần yêu nước và khát vọng cải cách trong giới trí thức ưu tú và nhiều tầng lớp nhân dân. Ngay từ thập kỷ 1860, Nam Kỳ đã sống trong môi trường văn minh phương Tây cưỡng chế. Bên cạnh việc ráo riết đánh chiếm theo kiểu vết dầu loang, thực dân Pháp còn ra sức thiết lập sự hiện diện của văn minh phương Tây bằng các biện pháp: mở mang Sài Gòn, lập cảng, dựng nhà máy, xây cất nhà thờ lớn.
sau khi 19 chiếm được Nam kỳ, thực dân Pháp đã sử dụng chính sách văn hóa nô dịch với nội dung chủ yếu như sau: Thứ nhát, chính sách giáo dục liên quan trực tiếp là van đề ngôn ngữ và dao tạo tầng lớp trí thức Tây học làm cầu nối cho việc truyền bá văn minh Pháp. Thứ hai, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự hiện diện của văn minh phương Tây.