Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT BÌNH ĐỊNH VÀ LÀNG CHÁNH THÀNH 1. Quá trình hình thành vùng đất Bình Định. Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, Bình Định là một tỉnh thuộc Duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam trãi dài theo hướng Bắc – Nam với diện tích tự nhiên toàn tỉnh 6. Phía Bắc giáp tỉnh Quãng Ngãi, có điểm tọa độ: 140 42’ Bắc, 1080 56’ Đông, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, có điểm tọa độ: 130 31’ Bắc, 1080 57’ Đông, phía Tây giáp Tây giáp tỉnh Gia Lai, có điểm tọa độ 140 27’ Bắc, 1080 27’ Đông, phía Đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 134 km, có điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh), có điểm tọa độ: 130 36’ Bắc, 1090 21’ Đông.
Trung tâm tỉnh Bình Định cách Hà Nội 1.065 km đường bộ về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 648 km đường bộ về phía Nam theo tuyến quốc lộ 1A. Tỉnh Bình Định có 11 đơn vị hành chính: 9 đơn vị hành chính cấp huyện, nằm trong phạm vi tọa độ từ 13°36' đến 13°54' vĩ Bắc, từ 109°06' đến 109°22' kinh Đông, dân số 1.767 người [9, tr.68], diện tích tự nhiên 216 km2. Về hình thế Bình Định “Phía Đông giáp biển, phía Tây tiếp Sơn-động. Đèo Thạch Tân (Bến Đá) chận phía Bắc, núi Cù- mông ngăn phía nam.
Danh sơn có núi Phước-an, núi Chân-chàng làm nơi hiểm địa ngự địch; đại-xuyên thì có sông Tam-huyện, sông Lại Dương hình như vạc áo che thân; dọc theo miền núi thì có các đồn bảo Trà -vân, Phương-kiệu đủ củng cố biên phòng; dọc theo miền biển thì có các tấn-thủ Thi -nại, Kim-bồng để trấn an hải đạo, ấy hiểm địa kim- thành thang trì vậy. Còn như ruộng đất thì ở vào hàng Tam thuộc (tức Thời-hòa, Thời-đôn và Thời-tú) phì nhiêu béo tốt, xưa gọi là 8 Đồng-nai con vậy. Nơi dân cư trù mật, xe thuyền tụ tập, trong ngoài núi sông cách trở, dùng làm căn cứ chiến thủ đều tiện nghi cả hai, thật là cự- trấn xung yếu ở Tả Kì. Do ảnh hưởng của rìa phía Đông cao nguyên Kon Tum, nên địa hình dốc từ Tây sang Đông với chênh lệch khá lớn (khoảng 1000m), độ cao trung bình so với mặt biển là 700 m với hình thái chủ đạo tựu chung là địa hình núi, địa hình đồi núi xen lẫn đồng bằng, địa hình đồng bằng lòng chảo xen lẫn thung lũng, địa hình đầm phá ven biển và địa hình thềm lục địa; nằm ở vị trí trung tâm của miền Trung và cả nước, Bình Định có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế miền Trung và Tây Nguyên.
Hệ thống đường quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt cùng đường 19 lên Tây Nguyên và cảng biển nước sâu Qui Nhơn, khu kinh tế Nhơn Hội tạo động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Bình Định. Đến năm 2018, dân số tỉnh Bình Định có 1.767 người [11, tr.68] trong đó người Kinh chiếm số đông ngoài ra còn có một số dân tộc khác cư trú nhiều đời trên vùng đất này là Chăm H’roi, BaNa, Bana K’riêm và người Hoa. Bình Định với kiến tạo địa chất đa dạng, cấu tạo nên cảnh quan thiên nhiên phong phú , với núi, đồi, biển, sông, suối, đầm, hồ, đồng bằng,… mở ra với nhiều dạng địa bàn đặc hữu: vùng cao, vùng trung du, vùng đồng bằng, vùng đồng bằng ven biển, ven đầm… bước đầu tạo nền tảng sinh kế, tụ cư của các bộ tộc, cư dân tìm đến. Về thổ nhưỡng, theo kết quả điều tra tỉnh Bình Định có diện tích tự nhiên 6.025km2 trong đó vùng vùng núi trung bình ở phía Tây chiếm 70% diện tích toàn tỉnh, cao từ 50 – 70 m, độ dốc 250 được cấu tạo từ đá granit, bazan, phiến thạch kéo dài theo chiều Bắc – Nam, qua các huyện Hoài Ân, An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh và bị chia cắt mạnh.
Vùng Hoài Ân, Tây 9 Sơn, Vân Canh có nhiều dãy núi cao trên 1000m; vùng đồi núi tiếp giáp miền núi phía Tây và đồng bằng phía Đông chiếm khoảng 10% diện tích, độ cao dưới 100m, độ dốc 10 - 150 với tầng đất mỏng đến trung bình dễ bị rửa trôi mạnh; vùng đồng bằng chiếm diện tích khá lớn trên 15% là loại đất có độ phì cao nhất đối với cây nông nghiệp có độ nghiên về phía Đông, bị các mạch núi chia cắt thành ô nhỏ tuy nhiên đây là địa bàn cư trú phần lớn dân cư Bình Định; vùng cồn cát ven biển phân bố thành dải hẹp ven biển được hình thành bởi quá trình gió ven biển vận chuyển tích tụ, dạng địa hình này biến đổi nhanh và di động với thảm thực vật thưa thớt. Hệ thống núi non Bình Định trùng điệp thuộc hệ thống dãy Trường Sơn, nằm rìa phía Đông cao nguyên Kon Tum với nhiều ngọn núi lớn nhỏ khác nhau, chiếm 70% diện tích toàn tỉnh và mang nhiều đặc trưng phức tạp về hình thái cấu trúc, như: Thạch Tân (Bến Đá), Trụ Lãnh, Càn Dương, Hội Sơn, Chân Chàng, Màn Lăng,… thường có độ cao trung bình 500 – 1000m, trong đó có 11 đỉnh trên 1000m. Hai đỉnh cao trên 1.150m, tại tọa độ (14,573366, 108,709717) và (14,589110, 108711478) ở phía Bắc xã An Toàn (huyện An Lão) được xem là cao nhất Bình Định, còn lại 13 đỉnh cao 700 – 1000m. Quách Tấn có nhận xét, đánh giá nhìn từ hình thế núi non “Ba mặt Nam Tây Bắc là ba dãy non xanh nối nhau lại thành chiếc ngai rồng vĩ đại” [46, tr.3], phía Bắc giáp Quảng Ngãi, phía Nam giáp Phú Yên bị chế ngự bởi hai đèo Bình Đê và Cù Mông, tạo thành ranh giới tự nhiên cách trở 110 km theo hướng Bắc – Nam, nối liền 3 tỉnh Quảng Ngãi – Bình Định – Phú Yên, còn là nơi khai sinh hai vương triều trong lịch sử: Viyaja (Đồ Bàn), Tây Sơn – Nguyễn Huệ.
Các sông ở Bình Định đa phần bắt nguồn từ vùng núi cao của sườn đông của dãy Trường Sơn có độ dốc lớn lưu vực hẹp, ngắn, lũ lên xuống rất nhanh gây ngập lụt cho vùng hạ lưu. Trong tỉnh có bốn con sông lớn là sông Kôn, 10 sông Lại Giang, sông La Tinh, sông Hà Thanh còn lại là hệ thống các sông, suối nhỏ chằng chịt. Về cơ bản các dòng sông đóng vai trò thiết yếu trong bước đầu hình thành và tụ cư cho các dân tộc, cư dân buổi ban đầu. Sông ở vai trò này là nguồn bồi tạo phù sa cho đồng bằng thêm màu mỡ nuôi sống cư dân nông nghiệp trồng lúa nước còn là nguồn cung cấp lượng lớn thủy hải sản phong phú, nguồn nước uống, nước sinh hoạt dồi dào,… Vì vậy, yếu tố tự nhiên sông nước luôn là yếu tố quan trọng, điều kiện cần và đủ cho sự ra đời, tồn tại và phát triển các làng xã Việt Nam.
Bờ biển và đầm phá, Bình Định có bờ biển trãi dài trên 134 km, ven biển còn có nhiều đầm như đầm Trà Ổ, đầm Nước Ngọt, đầm Mỹ Khánh, đầm Thi Nại; các vịnh như vịnh Làng Mai, vịnh Qui Nhơn, vịnh Vũng Mới.; các cửa biển như Cửa Tam Quan, cửa An Dũ, cửa Hà Ra, cửa Đề Gi và cửa Qui Nhơn. Các cửa trên là cửa trao đổi nước giữa sông và biển. Hiện tại ngoại trừ cửa Qui Nhơn và cửa Tam Quan khá ổn định, còn các cửa An Dũ, Hà Ra, Đề Gi luôn có sự bồi lấp và biến động. Trong đó cửa biển, cảng Qui Nhơn không chỉ là nơi neo đậu tàu thuyền mà còn là cửa ngõ giao thương quốc tế nối liền Tây Nguyên, Hạ Lào… Bình Định gồm có 33 đảo lớn nhỏ được chia thành 10 cụm đảo hoặc đảo đơn lẻ.
Trong các đảo nói trên thì chỉ đảo Cù Lao Xanh là có dân cư sinh sống, các đảo còn lại là những đảo nhỏ một số đảo còn không có thực vật sinh sống. Khí hậu Bình Định nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 2607. Lượng mưa trung bình năm là 1700mm.
Hướng gió chủ đạo là Đông – Nam (từ tháng 3 đến tháng 6) và Tây Bắc (từ tháng 10 đến tháng 12), tần suất hoạt động của các cơn bão trên 11 vùng biển Bình Định tập trung vào tháng 10 và tháng 11 gây mưa lớn, ngập lụt trên diện rộng ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, đời sống sản xuất nông nghiệp của người dân. Bình Định đã ghi nhận 18 loại khoáng sản rắn: Titan – zircon, cao lanh, cát thuỷ tinh, đá ốp lát granite,… và một số nguồn nước nóng, nước khoáng. Tài nguyên thực vật – rừng Bình Định có vai trò rất đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh với diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh hiện có 404.507ha, trong đó rừng chiếm 184.940ha, ngoài ra còn có hệ thống rừng ngập mặn thảm thực vật tự nhiên chủ yếu là: đước, bần, giá, sú,…song chiếm diện tích không lớn. Rừng Bình Định chủ yếu là rừng kín, một kiểu rừng thứ sinh ổn định thường có 3 – 4 tầng rõ rệt, hệ thực vật phong phú đa dạng bao gồm: trắc, hương, mun, chò, sao….
và một số lâm đặc sản đặc hữu rừng Bình Định như: sa nhân, mật ong, sáp ong, dầu rái,… 1. Điều kiện lịch sử, kinh tế: Bình Định thời tiền sơ sử, qua di tích và những di vật được phát hiện, giúp khẳng định văn hóa Sa Huỳnh ở Bình Định có hai giai đoạn: văn hóa tiền Sa Huỳnh và văn hóa Sa Huỳnh. Ở giai đoạn tiền Sa Huỳnh cư dân sử dụng nhiều công cụ bằng đá. Sang giai đoạn Sa Huỳnh công cụ sản xuất bằng đá được thay thế bằng công cụ sắt [56, tr.
Có thể nói văn hóa tiền sử và sơ sử Bình Định giai đoạn sơ kỳ đến hậu kỳ trong giai đoạn kim khí và đại diện cho giai đoạn này là “Văn hóa Sa Huỳnh” được biết đến khá sớm ở Việt Nam và Đông Nam Á, tuy nhiên gần đây một số di vật của văn hóa Đông Sơn cũng đã được phát hiện (14 trống đồng Đông Sơn loại I được phát hiện cùng với đồ tùy táng chôn theo gồm khuyên tai hình vành khăn, gốm thô dạng mảnh số lượng lớn mang đậm nét phong cách văn hóa Sa Huỳnh). Điều này cho thấy Bình Định là nơi hội tụ các dòng chảy văn hóa khác nhau, nơi định cư và sinh 12 sống của cư dân Sa Huỳnh với các di tích tiêu biểu: Động Cườm, Truông Xe, Gò Lồi, Thuận Đạo, Hội Lộc – Núi Ngang – Đồi Điệp,. và phần nào hé mở không gian lịch sử Bình Định.