phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các chữ viết tắt, tài liệu tham khảo, phụ lục, cấu trúc luận văn này gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận về tục ngữ và ca dao truyền thống Chƣơng 2: Vấn đề sử dụng tục ngữ truyền thống trên báo in đƣơng đại Chƣơng 3: Vấn đề sử dụng ca dao truyền thống trên báo in đƣơng đại Cuối cùng là danh mục Tài liệu tham khảo. PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TỤC NGỮ VÀ CA DAO TRUYỀN THỐNG 1. Tục ngữ truyền thống Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian độc đáo xuất hiện trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của nhân dân. Nó có mặt ở mọi quốc gia, dân tộc.
Nói, viết về tục ngữ Việt Nam cũng đã nhiều, nhƣng với một kho tàng tri thức lớn của dân tộc thì còn biết bao điều có thể nói: “Một di sản mênh mông cực kì phong phú, đa dạng dân tộc nào cũng có, tác dụng vẫn rất “dai dẳng”, vẫn còn bao nhiêu “bí ẩn” bên trong cái thế giới tƣởng đơn giản đó nhƣng vẫn còn “thách đố” khoa học. Tục ngữ đƣợc ví là kho báu của kinh nghiệm và trí tuệ dân gian, là “Túi khôn dân gian vô tận”. Nó là thể loại triết lí nhƣng đồng thời cũng là “cây đời xanh tƣơi”. Thuật ngữ “Tục ngữ” đã đƣợc nhiều từ điển định nghĩa.
Theo “Từ điển Tiếng Việt” (Nxb Đà Nẵng, 2005), tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, thƣờng có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân. Trong “Từ điển văn học Việt Nam” (Nxb Văn học 2001, “tục” chỉ thói quen có từ lâu đời, còn “ngữ” là lời nói. Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, giàu ý nghĩa, đƣợc dùng trong z lời nói hàng ngày, lƣu hành từ đời nọ sang đời kia, trở thành những kết cấu bền vững. Tục ngữ còn đƣợc gọi là ngạn ngữ nghĩa là lời nói đã đƣợc lƣu hành từ xƣa (chữ “ngạn” có nghĩa là lời nói của ngƣời xƣa).
Còn trong “Từ điển thuật ngữ văn học” (Nxb Văn học, 2001) , tục ngữ đƣợc gọi là một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là đúc rút kinh nghiệm, tri thức dƣới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh dễ nhớ, dễ lƣu truyền. Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” (Nxb Khoa học Xã hội, 2000), ông quan niệm “tục ngữ là những câu thông tục, thiên về diễn ý, đúc kết một số ý kiến dựa theo kinh nghiệm, dựa theo công lý và luân lý để nhận xét về con ngƣời và xã hội, hay dựa theo tri thức để nhận xét về con ngƣời và vũ trụ”. Theo Chu Xuân Diên trong cuốn “Văn học dân gian Việt Nam” (Nxb Giáo dục, 2001), ông đã đƣa ra quan niệm về tục ngữ “là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lƣu truyền qua nhiều thế kỉ. Khối lƣợng tục ngữ Việt Nam đã đƣợc tích luỹ từ lâu đời và ngày càng phong phú đã tạo nên một trong những đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ Việt Nam là tính chất giàu hình ảnh”.
Trong cuốn “Văn học dân gian – Những công trình nghiên cứu” (Nxb Giáo dục, 2001), Bùi Mạnh Nhị cho rằng “tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh, tƣơng đối bền vững về cấu trúc, và thƣờng mang nhiều nghĩa, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội), đƣợc nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng nói hàng ngày. Đây là một thể loại văn học dân gian”. Có thể thấy rằng có khá nhiều định nghĩa, quan niệm về tục ngữ. Mỗi định nghĩa, quan niệm ấy đều có những điểm phù hợp với góc độ và lĩnh vực của ngƣời nghiên cứu.
Nhìn chung, các khái niệm “tục ngữ” đều thống nhất với nhau ở chỗ “tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, nhiều nghĩa, hàm súc, có vần có nhịp và tƣơng đối bền vững về cấu trúc, đƣợc sử dụng trong lời thoại hàng ngày nhằm nêu lên một kinh nghiệm sống, một quan niệm, một cách đánh giá của con ngƣời về đời sống”. Từ khái niệm “tục ngữ”, có thể thấy tục ngữ Việt Nam có những đặc điểm chủ yếu sau: Về hình thức, mỗi câu tục ngữ là một câu nói diễn đạt một ý trọn vẹn. z Câu tục ngữ thƣờng ngắn gọn, hàm súc, kết cấu bền vững. Tục ngữ có dung lƣợng khá lớn trong kho tàng văn học dân gian nhƣng hình thức các tác phẩm lại rất nhỏ.
“Một câu tục ngữ còn ngắn hơn cả mũi con chim" (Tục ngữ dân gian Nga). Nó “ép chặt từng từ nhƣ xiết ngón tay thành quả đấm, dè sẻn từng tiếng làm cho lời nói cô đọng, giàu ý nghĩa”. Về hình thức bên ngoài, tục ngữ đúng là thể loại nhỏ nhất, đơn giản nhất. Mỗi câu tục ngữ thƣờng chỉ gồm vài từ ngắn gọn, dài nhất cũng chỉ dừng ở khuôn khổ một cặp lục bát: “Tất đất, tấc vàng” “Chị ngã em nâng" "Lá lành đùm lá rách" “Chết trong hơn sống đục" “Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì" “Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò Chín tháng lò dò biết đi” “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên"….
Quá trình hình thành dị bản của tục ngữ nhiều khi là quá trình diễn ra sự rút gọn các ngôn từ vốn đã cô đọng. Chẳng hạn câu "Ngƣời ta là hoa đất" rút gọn thành "Ngƣời ta, hoa đất", "Khôn đâu đến trẻ, khoẻ đâu đến già" thành "Khôn trẻ, khoẻ già". Nói ngắn gọn một nội dung lớn, tục ngữ là mẫu mực của sự cô đặc ý nghĩa biểu đạt trong hình thức ngôn ngữ tiết kiệm, hàm súc đến mức tối đa. “Tục ngữ có biết bao nhiêu là ý nghĩa, bao nhiêu hiện tƣợng phong phú…và tất cả bao nhiêu thứ đó đƣợc trồng trên một diện tích ngôn ngữ nhỏ hẹp làm sao " (L.Ô-dê–rốp, Sự tiết kiệm trong nghề thơ, Tác phẩm mới, số 12, 1971).
Tục ngữ rất giàu hình ảnh, tục ngữ Nga có câu “Lời nói trần trụi không phải là tục ngữ". Những quan sát cụ thể về thiên nhiên, cuộc sống lao động sản xuất của nhân dân, về con ngƣời xã hội trong tục ngữ là một kho hình ảnh phong phú, đa dạng. Hình ảnh tạo nên vẻ đẹp tƣơi mát, sinh động, tính hàm súc và trong nhiều trƣờng hợp tạo khả năng mở rộng nghĩa cho tục ngữ vì hình ảnh có khả năng biểu z trƣng. Cũng nhờ hình ảnh chính xác mà sinh động, cụ thể mà khái quát, kinh nghiệm và chân lí của tục ngữ trở nên có sức thuyết phục hơn.
Về nội dung, tƣ tƣởng; tục ngữ tuy nhỏ gọn về hình thức, nhƣng nội dung, tƣ tƣởng của tục ngữ không nhỏ. Lời chật ý rộng, trí tuệ và tình cảm đƣợc gói trong những câu tục ngữ cô đọng có thể “đem mở tung ra, viết thành hàng cuốn sách”. Nó thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên lao động sản xuất, con ngƣời và xã hội, “tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân dân” (M. Một câu tục ngữ thƣờng có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng.
Nghĩa đen là nghĩa trực tiếp, nghĩa bề mặt gắn liền với sự việc và hiện tƣợng ban đầu, toát ra từ bản thân sự vật, hiện tƣợng do tục ngữ ghi lại. Nghĩa bóng là nghĩa gián tiếp, nghĩa ẩn dụ, biểu trƣng, là do việc mở rộng ý nghĩa của sự vật hoặc hiện tƣợng cá biệt ấy vào nhiều sự vật hoặc hiện tƣơng khác. Đa số trƣờng hợp nghĩa đen phản ánh kinh nghiệm quan sát thiên nhiên và kinh nghiệm lao động sản xuất, đời sống còn nghĩa bóng thể hiện kinh nghiệm về con ngƣời - xã hội. Ví dụ câu “Có công mài sắt, có ngày nên kim ”.
Câu này nêu lên một nhận xét cụ thể về quá trình lao động bền bỉ, kiên nhẫn có công mài sắt sẽ thành kim, đồng thời mở rộng thành một nhận xét khái quát về kết quả của mọi hành động kiên trì, nhẫn nại vƣợt qua gian khó sẽ có ngày thành công của con ngƣời. Nghĩa đen của câu tục ngữ “Lạt mềm buộc chặt" biểu hiện một kinh nghiệm lao động: sợi lạt chẻ mỏng, ngâm nƣớc cho mềm, mối buộc sẽ bền chặt; còn nghĩa bóng của câu tục ngữ này là ai mềm mỏng, khéo léo trong quan hệ giao tiếp thì dễ đạt đƣợc mục đích. Nghĩa đen và nghĩa bóng của tục ngữ quan hệ hữu cơ với nhau. Nghĩa bóng đƣợc thể hiện thông qua nghĩa đen, trên cơ sở của nghĩa đen.
Chỉ có thể xới lật, bóc đúng các lớp nghĩa bóng khi đặt nó trong quan hệ lô gic với nghĩa đen. Nghĩa đen gợi đến nghĩa bóng khi ngƣời sử dụng tục ngữ liên hệ, đối chiếu, tìm thấy sự tƣơng đồng giữa điều mà tục ngữ phản ánh cụ thể (trong nghĩa đen) với các hiện tƣợng đời sống. Và khi đó nghĩa bóng là nội dung gián tiếp nhƣng lại là mục đích trực tiếp mà ngƣời sử dụng muốn thông báo cho ngƣời nghe. Không phải câu tục ngữ nào cũng có nghĩa bóng, chúng ta không thể tìm thấy nghĩa bóng trong những câu tục ngữ nhƣ : z “Đêm tháng năm chƣa nằm đã sáng Ngày tháng mƣời chƣa cƣời đã tối”.
“Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt". “Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ"… Không có khả năng chuyển thành nghĩa bóng là những câu không có khả năng, mục đích ví von, liên tƣởng với các hiện tƣợng xã hội. Những câu tục ngữ mà cách diễn đạt đã thể hiện một trình độ nhất định của sự nhận thức khái quát thì cũng ít có khả năng chuyển nghĩa (“Yêu nên tốt, ghét nên xấu” , “Có chí thì nên"…). Cơ sở của sự sử dụng tục ngữ theo nghĩa bóng là ở chỗ tục ngữ biểu hiện những nhận xét khái quát một cách cụ thể, hình ảnh.
Tục ngữ khái quát hoá mà không trừu tƣợng. Nghĩa bóng đã tạo cho tục ngữ khả năng vận dụng năng động vào các trƣờng hợp, và cứ mỗi lần đƣợc sử dụng ở những văn cảnh khác nhau thì nội dung, ý nghĩa kinh nghiệm, những lớp nghĩa nằm bên trong và bên ngoài từ ngữ của nó lại giàu thêm. Chẳng hạn, câu “Lớn thuyền lớn sóng” đâu phải chỉ có ngƣời đi sông đi biển sử dụng. Ngƣời đi buôn (trên cạn), thợ đi rừng, anh học trò, hay thủ trƣởng cơ quan, giám đốc doanh nghiệp đều có thể sủ dụng trong các văn cảnh thích hợp.
một câu tục ngữ có thể vận dụng trong rất nhiều trƣờng hợp cụ thể khác nhau.