Luận án tiến sĩ từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong tục ngữ ca dao tiếng hán và tiếng việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận

Chuyên khảo Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể trong tục ngữ tiếng hán và tiếng việt phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
292
37
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu "Từ Ngữ Chỉ Bộ Phận Cơ Thể Trong Tục Ngữ Tiếng Hán Và Tiếng Việt" được thực hiện nhằm khám phá sự tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng bộ phận cơ thể trong hai ngôn ngữ này. Mục tiêu chính là làm rõ cách mà các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể được sử dụng để thể hiện các khái niệm trừu tượng qua ẩn dụ ý niệm (ADYN) và hoán dụ ý niệm (HDYN). Việc nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian thông qua tục ngữ, ca dao. Những hiểu biết từ nghiên cứu này có thể được ứng dụng trong việc giảng dạy ngôn ngữ, giúp người học dễ dàng tiếp cận và hiểu sâu sắc hơn về văn hóa của các dân tộc thông qua ngôn ngữ.

1.1. Lý do chọn đề tài

Tục ngữ và ca dao là những hình thức ngôn ngữ đặc sắc phản ánh tư duy và cảm xúc của con người. Sự khác biệt trong việc sử dụng bộ phận cơ thể trong tục ngữ, ca dao giữa tiếng Hán và tiếng Việt không chỉ phản ánh sự khác biệt văn hóa mà còn cho thấy cách mà con người tương tác với thế giới xung quanh. Việc nghiên cứu này giúp làm rõ những đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa của hai dân tộc, đồng thời mở ra hướng đi mới cho nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận.

II. Tổng quan về cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu này dựa trên các lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là các khái niệm về ẩn dụ ý niệmhoán dụ ý niệm. Bộ phận cơ thể không chỉ là những thành phần vật chất mà còn là những biểu tượng văn hóa sâu sắc. Chúng được sử dụng để thể hiện các khái niệm trừu tượng như tình cảm, ý chí, và các giá trị xã hội. Việc áp dụng lý thuyết này trong nghiên cứu giúp xác định được cách mà các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể được ánh xạ vào các miền ý niệm khác nhau, từ đó làm rõ cách thức mà con người hiểu và tương tác với thế giới xung quanh.

2.1. Khái niệm về bộ phận cơ thể

Bộ phận cơ thể là những thành phần chính của cơ thể con người, bao gồm các bộ phận như tay, chân, đầu, và các cơ quan nội tạng. Mỗi bộ phận đều mang ý nghĩa riêng trong văn hóa và ngôn ngữ. Sự đa dạng trong cách sử dụng từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể trong tục ngữ, ca dao cho thấy sự phong phú trong tư duy và cảm xúc của con người. Các từ ngữ này không chỉ mang tính chất mô tả mà còn thể hiện các giá trị văn hóa và tri thức của mỗi dân tộc.

III. Phân tích ẩn dụ và hoán dụ trong tục ngữ ca dao

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng ẩn dụ ý niệmhoán dụ ý niệm đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các câu tục ngữ và ca dao. Các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể thường được sử dụng để tạo ra các hình ảnh sống động, giúp người nghe dễ dàng hình dung và cảm nhận thông điệp. Ví dụ, câu tục ngữ "Chân đá sau gáy" không chỉ đơn thuần mô tả hành động mà còn phản ánh mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội. Sự sáng tạo trong việc sử dụng từ ngữ này thể hiện trí tưởng tượng phong phú và khả năng biểu đạt sâu sắc của con người.

3.1. Mô hình ánh xạ của ẩn dụ và hoán dụ

Mô hình ánh xạ giữa bộ phận cơ thể và các miền ý niệm khác nhau cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa ngôn ngữ và tri nhận. Các ẩn dụ ý niệm như "tim là tình yêu" hay "đầu là lý trí" không chỉ đơn thuần là cách diễn đạt mà còn phản ánh cách mà con người hiểu về bản thân và thế giới xung quanh. Việc phân tích các mô hình này giúp làm rõ cách mà ngôn ngữ hình thành và phát triển trong bối cảnh văn hóa cụ thể.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về bộ phận cơ thể trong tục ngữ, ca dao tiếng Hán và tiếng Việt không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng ngôn ngữ mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian. Những kết quả này có thể được ứng dụng trong việc giảng dạy ngôn ngữ, giúp học viên hiểu rõ hơn về văn hóa và tư duy của các dân tộc khác nhau. Hơn nữa, việc nghiên cứu này cũng mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực ngôn ngữ học tri nhận.

4.1. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác nhau như nghiên cứu tâm lý học, văn hóa học, và giáo dục. Việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau sẽ giúp làm rõ hơn những mối liên hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa, từ đó tạo ra những hiểu biết sâu sắc hơn về con người và xã hội.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 của luận án trình bày tổng quan vấn đề nghiên cứu về ADYN, HDYN “BPCTN” trên thế giới và ở Việt Nam; cơ sở lý thuyết của đề tài, bao gồm: khái niệm cơ thể người, tính nghiệm thân, phạm trù và phạm trù hóa; khái niệm, đặc điểm, cấu trúc và cách phân loại của ADYN, HDYN; NNHTN về BPCTN; ngữ cảnh tri nhận; đặc trưng văn hóa dân tộc liên quan đến từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hán và tiếng Việt. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ẩn dụ tri nhận về BPCTN Ở nước ngoài, ẩn dụ đã trở thành một khu vực khảo sát chính của ngữ nghĩa học tri nhận. Trên tất cả, ẩn dụ là một cơ chế hạng nhất dành cho việc nhìn một sự vật này thông qua từ ngữ chỉ sự vật khác.

Vào những năm 1980 đã có một sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi về ẩn dụ, nhưng lực đẩy chủ yếu của sự quan tâm này lại đến từ George Lakoff và Mark Johnson với “Metaphors We Live by” (Chúng ta sống cùng các ẩn dụ) (1980) [29], một ấn phẩm nền tảng trong ngữ nghĩa học tri nhận. Nó được xem như là sự mở đường cho một thế hệ các nhà ngôn ngữ học mới. Trong tác phẩm của mình, hai tác giả đã đưa ra quan niệm mới về bản chất và chức năng của NNHTN nói chung và ẩn dụ tri nhận nói riêng là nghiên cứu cách con người nhìn và nhận biết thế giới qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa dân tộc. Điều này đã tạo tiền đề cho NNHTN có những bước phát triển mới về lượng và chất.

Lakoff xuất bản cuốn “Women, Fire and Dangerous Things” (Đàn bà, lửa và những thứ nguy hiểm) [30]. Đây là cuốn sách mà tác giả đã nói đến tầm quan trọng của sự phạm trù hóa trong thế giới khách quan của con người. Tác giả đã chỉ ra rằng nếu không có năng lực phạm trù hóa, chúng ta chẳng thể hoạt động được gì cả, trong thế giới vật chất cũng như trong đời sống xã hội và trí óc của chúng ta. Johnson tiếp tục xuất bản cuốn “Philosophy in Flesh – The Embodied Mind and its Challenge to Western Thought” (Trải nghiệm triết học 10 – tư duy nghiệm thân và thách thức đối với tư tưởng phương Tây) [32].

Cuốn sách này đã trình bày một cách hệ thống về nền tảng triết học của NNHTN, đó chính là “triết học trải nghiệm”. Cơ sở lý thuyết về NNHTN đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước vận dụng vào việc phân tích tiếng mẹ đẻ hoặc đối chiếu giữa ngôn ngữ mẹ đẻ và một ngôn ngữ khác. Trong đó, các công trình, bài viết liên quan đến ADYN về từ ngữ chỉ BPCTN chiếm số lượng đáng kể. Hướng vận dụng lí thuyết NNHTN trong việc phân tích ADYN và HDYN từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng mẹ đẻ có các bài viết và công trình sau: Bài viết “A Cognitive Approach to Metaphor and Metonymy Related to the Human Body” (Một cách tiếp cận tri nhận đến ẩn dụ và hoán dụ có liên quan đến cơ thể người) của Wei (2010) [48] đã tổng kết lại hai mô hình ánh xạ ADYN và HDYN.

Trong đó, tác giả đã chỉ ra được sự ánh xạ từ miền con người sang miền không phải là con người, ví dụ: He lives in the head of the river (Anh ấy sống ở đầu sông). Đây là kiểu ánh xạ dựa vào vị trí. Tác giả còn chỉ ra hai sơ đồ hình ảnh của ADYN BPCTN, như con người liên quan đến sơ đồ hình ảnh UP- DOWN (LÊN – XUỐNG), ví dụ: My heart sank (Trái tim tôi đã chìm/ Tôi đã buồn.)-> VUI LÀ HƯỚNG LÊN và KHÔNG VUI LÀ HƯỚNG XUỐNG, He came down with the flu (Anh ấy đã xuống dốc do bệnh cúm) -> MẠNH KHỎE LÀ HƯỚNG LÊN và ỐM YẾU LÀ HƯỚNG XUỐNG; con người liên quan đến sơ đồ hình ảnh PATH (LỐI/ NGUỒN LỐI ĐÍCH), ví dụ: I ran my eyes over those pictures (Tôi đã đưa mắt tôi đến những bức tranh đằng kia). Bài viết còn phân tích HDYN BPCTN như bộ phận – toàn thể, ví dụ: We need some new blood in the organization (Chúng tôi cần vài dòng máu mới trong tổ chức/ Chúng tôi cần vài người mới trong tổ chức), bộ phận - bộ phận, ví dụ: She likes reading Shakespeare (Cô ấy thích đọc Shakespeare ).

Tác giả này cũng nhấn mạnh đến điểm giống và điểm khác nhau giữa ADYN và HDYN. Bằng cách phân loại và phân tích các biểu thức ẩn dụ, hoán dụ tác giả có thể kết luận rằng các phạm trù là các hệ thống và kết nối tự nhiên với nhận thức của con người và tính nghiệm thân đối với thế giới bên ngoài. Đây là công trình đã vận dụng thành công lý thuyết NNHTN để chỉ ra hai mô hình tri nhận ẩn dụ và hai sơ đồ hình ảnh từ miền nguồn là từ ngữ chỉ BPCTN. Nguồn ngữ liệu của công trình là các câu được dẫn ra từ các cuốn từ điển như Oxford Advanced Learner’s Dictionaries of 11 Current English và Longman English Dictionaries online.

Công trình này đã định hướng cho chúng tôi có ý tưởng nghiên cứu về sơ đồ hình ảnh "BPCTN" trong tục ngữ, ca dao tiếng Hán và tiếng Việt. Với bài nghiên cứu “Idiom of body parts in English – A cognitive perspective (Thành ngữ BPCTN trong tiếng Anh – Một quan điểm tri nhận)”, Takács (2014) [45] đã phân tích hai cơ chế tri nhận ADYN và HDYN trong thành ngữ có từ ngữ chỉ BPCTN tiếng Anh và đưa ra một số giải pháp trong việc ứng dụng thành ngữ loại này vào việc dạy dịch. Trong công trình “From human body parts to the embodiment of spatial conceptualization in English idioms” (Từ BPCTN đến thuyết nghiệm thân của tri nhận không gian trong thành ngữ tiếng Anh), Manerko (2014) [34] đã chỉ ra rằng ngôn ngữ được kết nối chặt chẽ với quá trình tri nhận. Tri nhận không gian đã đóng vai trò quan trọng trong mã hóa kiến thức của con người về không gian, suy nghĩ và cách xử lý ngôn ngữ của con người.

Những kiến thức này đòi hỏi kinh nghiệm tâm lý và kinh nghiệm xã hội của chúng ta. Hướng vận dụng lí thuyết NNHTN trong việc so sánh đối chiếu ngôn ngữ mẹ đẻ và một ngôn ngữ khác có các bài viết và công trình sau: Công trình “Czech and English Idioms of Body Parts: A view from cognitive semantics” (BPCTN trong thành ngữ tiếng Séc và tiếng Anh) của tác giả Bislková (2000) [24] là công trình nghiên cứu theo hướng đối chiếu hai ngôn ngữ. Bislková đã phân tích và tìm ra sự tương đồng, dị biệt của hai cơ chế tri nhận (ADYN và HDYN) trong thành ngữ có từ ngữ chỉ BPCTN của tiếng Séc và tiếng Anh. Tác giả này cũng đã cho biết, hai cơ chế tri nhận (ADYN và HDYN) và cách thức biểu đạt của người nói trong hoàn cảnh cụ thể rất có khả năng kết hợp với nhau để giúp người nói phán đoán được ý nghĩa thành ngữ trong việc biểu đạt.

Theo hướng nghiên cứu này còn có bài “Cognitive Analysis of Chinese- English Metaphors of Animal and Human Body Part Words” (Phân tích tri nhận của ẩn dụ từ chỉ động vật và BPCTN trong tiếng Hán và tiếng Anh ) của Song (2009) [41]. Tác giả đã tìm ra điểm giống nhau trong cấu trúc và và nghĩa ẩn dụ của BPCTN trong tiếng Hán và tiếng Anh như: “horse back (mǎ bēi)”(lưng ngựa),“horse-faced (mǎ liǎn)”(mặt ngựa), “horse hair (mǎ zōng)”(bờm ngựa), “cat’s eye (māo yǎn)”(mắt mèo), “sheep skin (yáng pí)”(da cừu). 12 Các nghiên cứu về đối tượng này cũng đã mở rộng trong mối quan hệ với văn hóa. Công trình “Culture, Body, and Language: Conceptualizations of Internal Body Organs across Cultures and Languages” (Văn hóa, cơ thể và ngôn ngữ: Tri nhận BPCTN qua văn hóa và ngôn ngữ ) của Yu Ning và cộng sự (2008) [50], “From Body to Meaning in Culture” (Từ cơ thể đến nghĩa trong văn hóa) của Yu Ning (2009) [51] và là hai công trình trình bày về mối quan hệ mật thiết giữa ADYN, cơ thể và văn hóa.

Chúng giống như quan hệ ba cạnh của một hình tam giác. Ẩn dụ ý niệm thường bắt nguồn từ kinh nghiệm cơ thể, mô hình văn hóa thường được cấu trúc bởi những ADYN. Một từ ngữ nào đó tác động lên một từ ngữ khác thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến từ ngữ thứ ba. Không có cơ thể sẽ không có thế giới quan.

Tuy nhiên ống kính của thế giới quan chính là “màu sắc văn hóa”và “khung ẩn dụ”. Nó được xuyên qua như “thấu kính” để chúng ta tri nhận thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên Cứu Từ Ngữ Chỉ Bộ Phận Cơ Thể Trong Tục Ngữ Ca Dao Tiếng Hán Và Tiếng Việt Dưới Góc Nhìn Ngôn Ngữ Học Tri Nhận" của tác giả Liêu Thị Thanh Nhàn, dưới sự hướng dẫn của PGS. Trương Thị Nhàn và TS. Nguyễn Phước Lộc, trình bày một cái nhìn sâu sắc về cách mà các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể được sử dụng trong tục ngữ và ca dao của hai nền văn hóa Hán và Việt. Bài luận án tiến sĩ này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về ngôn ngữ học tri nhận mà còn mở ra những khía cạnh thú vị về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.

Để mở rộng kiến thức về ngôn ngữ học và văn hóa, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Nghiên cứu so sánh tục ngữ việt nam và tục ngữ hàn quốc, nơi so sánh các tục ngữ giữa hai nền văn hóa khác nhau, hay bài viết Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học đối chiếu từ ngữ chỉ tay và các động từ biểu thị hoạt động của tay giữa tiếng hán và tiếng việt, giúp bạn tìm hiểu thêm về cách từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể được sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học đặc điểm ngôn ngữ trong tiêu đề các tác phẩm văn học của lỗ tấn ba kim lão xá và cách dịch sang tiếng việt cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về ngôn ngữ trong văn học. Những liên kết này sẽ giúp bạn khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong lĩnh vực ngôn ngữ học và văn hóa.