Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung 1. Nhóm ngôn ngữ Tày-Thái ở Việt Nam Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái ở Việt Nam có số dân 3.090 người (theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê 01/04/1999) tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Đây là vùng núi cao, sườn dốc, sông suối nhiều, khí hậu khắc nghiệt lại bị bao bọc bởi những dãy núi cao tạo ra những tiểu vùng văn hóa địa lý riêng biệt. Trong đó, vùng văn hóa Tây Bắc có địa hình núi cao hiểm trở với dãy Hoàng Liên Sơn sừng sững mà người Thái gọi là “Khau phạ” (Sừng trời) nằm bên phải con sông Hồng, tổ tiên người Thái gọi là Nặm Tao liên quan tới lịch sử thiên di của người Thái đen vào Tây Bắc Việt Nam.
Đây cũng là vùng tập trung dân cư chủ yếu của người Thái, ngoài ra còn có người Bố Y, người Lự và người Lào (cùng thuộc nhóm Tày-Thái). Cũng thuộc vùng núi phía bắc còn có vùng Đông Bắc với cấu trúc theo kiểu hình cánh cung tụ lại ở Tam Đảo và mở ra ở phía Bắc và Đông Bắc. Đồi núi ở đây thuộc độ cao trung bình với hệ thống sông ngòi đặc trưng có độ dốc cao, lòng sông lớn, dòng chảy mạnh. Cư dân chủ yếu ở đây là người Tày và người Nùng sống đan xen và ảnh hưởng nhiều yếu tố văn hóa lẫn nhau.
Từ những đa dạng của môi trường sinh thái, điều kiện tự nhiên trên là yếu tố góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa trong khu vực. Theo Trần Trí Dõi [14;145], nhóm ngôn ngữ Tày-Thái được chia thành hai tiểu nhóm nhỏ là Nhóm Tày (nhóm Thái trung tâm) và nhóm Thái (nhóm Thái Tây Nam). Nhóm Tày gồm có 3 dân tộc: Tày (1.514 người), Nùng (856.412 người) và Bố Y (1864 người); Nhóm Thái cũng có 3 dân tộc là Thái (1.725 người), Lào (11.611 người) và Lự (4964 người). Về lịch sử, thì từ khoảng bốn năm nghìn năm nay các nhóm dân tộc Tày-Thái đã từng giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử miền Nam Trung Quốc, họ đã sáng tạo nên nền văn hóa của mình và đã truyền bá ảnh hưởng văn hóa đó đến các dân tộc xung quanh [64;372].
Khi thiên di xuống Việt Nam thì các dân tộc này diễn ra không đồng đều mà ở các giai đoạn và lịch sử khác nhau. Về ngôn ngữ. Cả 6 dân tộc này đều nói ngôn ngữ nhóm Tày-Thái (ngữ hệ Thái- Ka Đai) thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Trong đó có dân tộc Tày, Nùng, Thái và Lào đều có chữ viết cổ, chỉ có dân tộc Lự và Bố Y là không có chữ viết.
Chữ viết của dân tộc Lào ở Việt Nam về cơ bản có cùng chữ viết với đồng tộc là chủ thể ở nước Lào [14;211]. Còn người Thái là một dân tộc khá thống nhất trong các dân tộc thiểu số Việt Nam, họ có nền văn hóa, kinh tế,. phát triển từ rất lâu nên người Thái có văn tự cổ cho riêng họ với bốn loại chữ viết khác nhau là loại chữ Thái của người Thái Đen, Thái Trắng ở vùng Tây Bắc; Chữ Thái của người Thái Thanh hay Man Thanh ở vùng Thanh 5 z Hóa, Nghệ An; Chữ Thái của người Thái ở Quỳ Châu và chữ Lai Pao. Với dân tộc Tày và Nùng thì chữ viết của họ sử dụng Hán tự để ghi tiếng nói của mình, hay gọi là chữ Nôm Tày, chữ Nôm Nùng.
Riêng về tiếng Nùng còn một số ý kiến chưa thống nhất. Một số người cho rằng ngôn ngữ này chưa có văn tự cổ mặc dù người Nùng có một hệ thống văn học dân gian phát triển; nhưng một số ý kiến khác cũng lại cho rằng người Nùng cũng có chữ Nôm Nùng, giống như chữ Nôm Tày. Tuy nhiên, đa số ý kiến cho rằng tiếng Tày và tiếng Nùng là một ngôn ngữ thống nhất. Với mục tiêu bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số nên năm 1961, Nhà nước đã ban hành hệ thống văn tự Tày-Nùng theo mẫu tự La tinh và đưa vào cho người Tày-Nùng sử dụng từ đó cho đến ngày nay [14;50].
Như vậy, để đáp ứng các yêu cầu giúp cho người dân tộc mau chóng xóa nạn mù chữ, tiếp thu những thuận lợi về kiến thức văn hóa, khoa học và kỹ thuật, đồng thời nhằm giúp đỡ người dân tộc có thể học được nhanh tiếng phổ thông, thúc đẩy sự nghiệp phát triển văn hóa, văn nghệ của dân tộc mình, Hội đồng chính phủ đã phê chuẩn (theo số 153-CP ngày 20 tháng 8 năm 1969) chữ Tày-Nùng và chữ Thái cải tiến từ thứ chữ cổ sang mẫu tự La tinh. Nó đã góp phần gìn giữ và làm giàu thêm nền văn hóa của các dân tộc này, từ đó thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt trong đời sống xã hội của người dân tộc. Cuộc cải cách này đã đem lại được những kết quả khả quan cho việc học tiếng của người dân tộc đồng thời đem lại những thuận lợi cho người muốn tìm hiểu, nghiên cứu ngôn ngữ của các dân tộc này qua hệ thống chữ La tinh. Từ đó mở ra được những những hướng nghiên cứu liên ngành, đa ngành trong so sánh, đối chiếu về ngôn ngữ giữa các dân tộc với nhau mà trước đây chưa có điều kiện tìm hiểu sâu.
Qua đó nhiều nét văn hóa được vén mở qua ngôn ngữ của các dân tộc này. Để thấy được vị trí nhóm ngôn ngữ Tày-Thái trong họ Thái-Kađai và các ngôn ngữ có mặt ở Việt Nam, chúng tôi dựa theo sơ đồ của M. Ferlus [14;44] được khái quát như sau: 6 z Tiếng Tiểu họ Ka - đai Nhóm La Chí Ka -đai Tiếng La Ha Họ Thai - Tiếng Kadai Pu Péo Tiếng Cơ Lao Day- Nhóm Tiếng Giáy Sec Day Tiếng Sán Tiểu họ Bê- Thai- Cao- Nhóm Chay Kam-Thai Thai Day Lan Cao Lan Tiếng Thái- Nhóm Tày Tay Tày Tiếng Nùng Tiếng Bố Y Nhóm Tiếng Thái Thái Tiếng Lào Tiếng Lự 1. Một số vấn đề chung liên quan đến thành ngữ Có rất nhiều khái niệm khác nhau về thành ngữ.
Bởi thành ngữ là kho tàng đồ sộ của cả dân tộc đúc kết nên mà không phải ngày một ngày hai là có được. Nó là kết quả 7 z của quá trình chắt lọc tinh hoa văn hóa của mỗi tộc người, của mỗi thế hệ xây đắp nên. Và thành ngữ còn phản ánh cả một hệ tư duy liên tưởng về thế giới quan của mỗi dân tộc. Như nói đến sự may mắn của một người nào đó được vào nơi sung sướng, đầy đủ một cách tình cờ, ngẫu nhiên thì người Tày-Nùng có thành ngữ Cáy tôc bôm khẩu slan (gà rơi mâm gạo) còn người Kinh thì có Chuột sa chĩnh gạo.
Cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu kỹ lưỡng về thành ngữ tiếng Tày-Nùng. Vì vậy chúng tôi không có cơ sở để so sánh hay bình luận về những quan điểm, ý kiến của các nhà nghiên cứu đưa ra về thành ngữ Tày-Nùng trên khía cạnh lý thuyết để so sánh đối chiếu những khái niệm của các nhà Việt ngữ học. Phần lớn các công trình khác nghiên cứu về tiếng Tày-Nùng đều dựa trên những thành tựu nghiên cứu tiếng Việt để nghiên cứu. Mặc dù nằm trong hai họ ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau nhưng tiếng Việt và tiếng Tày-Nùng lại thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập không biến hình, trong cuốn Tay- Nung language in the north of Vietnam của Đoàn Thiện Thuật, tác giả cũng khẳng định tiếng Tày-Nùng giống như tiếng Việt hiện đại “.
they are similar to modern Vietnamese” [58,15]. Những đặc điểm về loại hình giữa hai ngôn ngữ được mô tả khá rõ bằng các ví dụ sau [15,23]: Vấn đề đầu tiên đề cập đến đó là từ không bao giờ biến hình. Điều này được chứng minh rõ khi chúng ta so sánh giữa tiếng Việt, Tày-Nùng và tiếng Anh (tiếng Anh thuộc loại hình ngôn ngữ hòa kết): Tiếng Việt gà con gà mấy con gà Tiếng Tày-Nùng cáy tua cáy bai tua cáy Tiếng Anh chicken chicken chickens Quan hệ ngữ pháp và ngữ nghĩa ngữ pháp được biểu thị chủ yếu bằng hư từ và trật tự từ như: Dùng hư từ: Tiếng Việt: nói - đừng nói, chưa nói Tiếng Tày-Nùng: cạ (nói) - dá cạ, páy cạ (đừng nói, chưa nói),. Dùng trật tự từ: Tiếng Việt : nhà cửa - cửa nhà ; nhà cháy - cháy nhà Tiếng Tày-Nùng: vài kin (trâu + ăn = trâu ăn) - kin vài (ăn trâu); Chào lao (anh + sợ = anh sợ), lao chào (sợ anh),.
8 z Về tính phân tiết. ở cả tiếng Việt và tiếng Tày-Nùng thì ranh giới các âm tiết thường trùng với ranh giới các hình vị. Và cuối cùng là từ có ý nghĩa đối tượng, tính chất, hành động. không phân biệt nhau về mặt cấu trúc.
Tất cả đều được diễn đạt bằng từ không biến đổi như: tiếng Việt: đường (đường đi) và đường (đường ăn). Từ những đặc điểm mô tả trên, chúng tôi thấy giữa tiếng Việt và Tày-Nùng có nhiều đặc điểm về loại hình giống nhau để có thế chấp nhận đưa ra những lý luận chung về thành ngữ cho cả hai ngôn ngữ. Quan niệm về thành ngữ Cho đến nay, quan niệm về thành ngữ vẫn chưa được thống nhất, còn nhiều ý kiến băn khoăn và trăn trở về nó. Đã có nhiều cuộc tranh luận diễn ra giữa các nhà Việt ngữ học xoay quanh vấn đề thành ngữ.
Nguyễn Văn Mệnh (1972) đã đưa ra ranh giới giữa thành ngữ với tục ngữ từ đó đưa ra những tiêu chí nhận diện về thành ngữ như: Về nội dung, thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính cách, một thái độ mang tính chất hiện tượng; về hình thức ngữ pháp, nói chung thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Nguyễn Thiện Giáp (1975) đưa ra khái niệm thành ngữ tiếng Việt: Thành ngữ cũng là đơn vị định danh, cũng là tên gọi của một sự vật, hiện tượng, là sự thể hiện của một khái niệm (có tính thống nhất về nghĩa), đồng thời cái nghĩa cộng lại của các thành tố theo quy luật cú pháp cũng cần được hiểu (tính tách rời về nghĩa). nghĩa chung của thành ngữ bao giờ cũng là nghĩa hình tượng [19,50]. Tiếp tục công việc này, trong những năm gần đây cũng có một số tác giả quan tâm đến chúng như [34,9]: Vũ Đức Nghiệu, Vũ Quang Hào, Nguyễn Đức Tồn, Triều Nguyên, Nguyễn Như ý, Nguyễn Xuân Hoà,.
với nhiều hướng khác nhau thể hiện những băn khoăn của mình trước một kho tàng đồ sộ thành ngữ của cả dân tộc.