Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (định hướng chuyên sâu vào Ngữ dụng học, Ngôn ngữ học xã hội và Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu). Tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo hướng kết hợp giữa miêu tả định tính và khảo sát, phân loại định lượng trên ngữ liệu thực tế, luận án tập trung khảo sát hành vi lời nói giới thiệu (LNGT) và lời nói tự giới thiệu (LNTGT) trong tiếng Việt, có sự liên hệ và đối chiếu với tiếng Anh (trực tiếp là biến thể tiếng Anh – Mỹ).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng ngôn ngữ học hiện đại đã phát triển vượt khỏi phạm vi nghiên cứu ngôn ngữ cấu trúc thuần túy để tiếp cận ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp thực tế, chịu sự chi phối chặt chẽ của các nhân tố văn hóa và xã hội. Trong mỗi cộng đồng ngôn ngữ, các quy tắc xã hội và đặc trưng tâm lý dân tộc quy định cách thức thực hiện các hành vi nói cụ thể như chào, cảm ơn, xin lỗi, mời mọc, từ chối, yêu cầu hay khen ngợi. Hành vi giới thiệu và tự giới thiệu giữ vị trí thiết yếu trong mọi thời kỳ lịch sử, đặc biệt trong xã hội hiện đại khi nhu cầu mở rộng giao lưu đòi hỏi các bên tham gia giao tiếp nhanh chóng "biết về nhau" và rút ngắn thời gian tìm hiểu. Việc lựa chọn biểu thức ngôn ngữ khi giới thiệu không chỉ nhằm thích nghi với bối cảnh và mục đích giao tiếp mà còn thể hiện thái độ lịch sự, bảo đảm thể diện và duy trì quan hệ xã hội. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: trước thời điểm luận án triển khai, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về lời nói giới thiệu và tự giới thiệu trên cứ liệu tiếng Việt trong sự đối sánh với tiếng Anh.
Mục đích nghiên cứu của luận án gồm hai phương diện:
- Thông qua việc nghiên cứu LNGT và TGT quy thức và phi quy thức trong tiếng Việt và tiếng Anh, luận án góp phần chứng minh cho lí thuyết ngữ dụng học về hành vi ngôn ngữ, lí thuyết ngôn ngữ học xã hội về các nhân tố trong giao tiếp, phong cách ngôn ngữ, ngữ vực và sự kiện giao tiếp.
- Chỉ ra đặc điểm của LNGT và TGT, xác lập các biểu thức và đặc điểm ngôn ngữ trong ba phạm vi giao tiếp: chính trị - xã hội, vui chơi giải trí và giao tiếp hàng ngày; đồng thời liên hệ với tiếng Anh để chỉ ra các điểm tương đồng và dị biệt về biểu thức ngôn ngữ giữa hai cộng đồng.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua ba nội dung đánh số:
- Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu, tổng hợp một số nội dung cơ bản về vấn đề lí thuyết của ngữ dụng học như lí thuyết hành vi ngôn ngữ và lí thuyết về giao tiếp nhìn từ góc độ dụng học xã hội.
- Chỉ ra những đặc điểm về LNGT và TGT trong tiếng Việt và tiếng Anh bằng cách phân tích các nhân tố giao tiếp, khảo sát và chỉ ra các biểu thức lời nói cùng những đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp quy thức và phi quy thức ở phạm vi chính trị - xã hội, phạm vi vui chơi giải trí và phạm vi giao tiếp hàng ngày.
- Chỉ ra các nhân tố văn hóa - xã hội, chính trị tác động đến LNGT và TGT trong tiếng Việt và tiếng Anh hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Lời nói giới thiệu và tự giới thiệu trong tiếng Việt và tiếng Anh – Mỹ thuộc ba phạm vi giao tiếp: chính trị - xã hội, vui chơi giải trí và sinh hoạt hàng ngày. Luận án giới hạn không xem xét các yếu tố phi lời (như bắt tay, mỉm cười, cử chỉ, ra dấu hiệu, nháy mắt).
- Phạm vi tư liệu và thời gian: Ngữ liệu lời nói trực tiếp thu thập từ 254 sự kiện trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2018 (đồng thời mở rộng đối chiếu các sự kiện chính trị - xã hội diễn ra từ năm 2000 đến nay). Không gian khảo sát gắn liền với cộng đồng giao tiếp tiếng Việt và các sự kiện, chương trình truyền hình, phim ảnh của Mỹ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong văn bản, tác giả phân chia tình hình nghiên cứu liên quan thành ba hướng nghiên cứu lý thuyết nền tảng và điểm lại các công trình chuyên biệt về hành vi giới thiệu:
- Hướng nghiên cứu lời nói theo cấu trúc hệ thống:
- Trên thế giới: N. Phơrơmanốpxcaia ("Cách dùng nghi thức lời nói tiếng Nga") miêu tả và phân loại các hành vi ngôn ngữ theo nghi thức; N. Phơrơmanốpxcaia và A.A. Akisina (1987) trong cuốn "Nghi thức lời nói Nga" đưa ra bảng biểu mẫu, tình huống sử dụng và phân tích hội thoại mẫu.
- Tại Việt Nam: Thái Duy Bảo (1988) với luận án "Đối chiếu nghi thức lời nói đối thoại Anh – Việt" đối chiếu các khuôn mẫu nghi thức trong năm phạm trù giao tế cơ bản; Phạm Thị Thành (1995) khảo sát phát ngôn chào, cảm ơn, xin lỗi theo cấu trúc cú pháp và nội dung ngữ nghĩa; Nguyễn Văn Khang (1996) khảo sát nghi thức xưng gọi trong giao tiếp gia đình người Việt; Nguyễn Văn Lập (2005) miêu tả, phân loại nghi thức lời nói khẩu ngữ tự nhiên tiếng Việt và đối chiếu khuôn mẫu biểu thị hành vi yêu cầu và cảm ơn giữa tiếng Việt và tiếng Anh – Mỹ.
- Hướng nghiên cứu lời nói theo ngữ dụng học:
- Thế giới: Đặt nền móng từ Austin (1962, 1965) với tư tưởng "nói là hành vi" và phân chia ba tiểu hành vi (tạo lời, ở lời, mượn lời); Searle (1969) phát triển tiêu chí phân loại hành vi ở lời; cùng các nghiên cứu của Hymes (1964), Grice (1975), Levinson (1983), Schmidt & Richards (1985), Yule (1996).
- Việt Nam: Bàn luận lý thuyết có Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1993), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2004), Nguyễn Văn Hiệp. Vận dụng nghiên cứu các hành vi cụ thể có: hành vi cảm ơn (Ngô Hữu Hoàng 1998; Đỗ Thị Thúy Vân 2019); hành vi khen (Nguyễn Văn Quang 1999; Phạm Thị Hà 2013); sự kiện lời nói cho, tặng (Chử Thị Bích 2008); phát ngôn chào, cảm ơn, xin lỗi (Huỳnh Thị Nhĩ 2010; Nguyễn Văn Khang 2014); hành vi nhờ (Dương Tuyết Hạnh 2006); hành vi từ chối lời cầu khiến (Ngô Hương Lan 2014).
- Hướng nghiên cứu theo ngôn ngữ học xã hội:
- Các nghiên cứu của Fasold (1990), Labov (1967), Trudgill (2000), Saville-Troike (1986), Hymes (1974) gắn với dân tộc học giao tiếp. Tại Việt Nam, Hoàng Anh Thi (2001) nghiên cứu nghi thức giao tiếp qua hình thức xưng hô tiếng Nhật và tiếng Việt; Phạm Thị Hà (2013) nghiên cứu ngôn ngữ giới của hành vi khen; Nguyễn Văn Khang (2014) khảo sát các nhân tố xã hội chi phối nghi thức lời nói.
- Các nghiên cứu chuyên biệt về lời nói giới thiệu và tự giới thiệu:
- Tài liệu quốc tế: Emily Post (công trình mã nguồn trích dẫn [105]) phân tích nghi thức giới thiệu trong tình huống xã hội (quy thức và phi quy thức) và tình huống kinh doanh dựa trên thứ bậc, quyền lực; Nguyễn Quang (2017) trong "Ways of expression" hệ thống 85 biểu thức giới thiệu và tự giới thiệu; các nghiên cứu về tự bộc bạch (self-disclosure) của Archer (1980), Cozby (1973), Derlega, Metts, Petronio & Margulis (1993), Jourard & Lasahow (1958), Altman & Taylor (1973) với mô hình ba lớp (lớp ngoại biên, lớp trung gian, lớp lõi), trong đó LNTGT được xác định thuộc lớp ngoại biên.
- Tài liệu trong nước: Thái Duy Bảo (1988) bước đầu nêu khuôn mẫu giới thiệu người trung gian và diễn giả; Nguyễn Văn Lập (1989) phân loại hành vi giới thiệu thành trực tiếp (tự giới thiệu) và gián tiếp (qua người trung gian); Đỗ Thị Mai Hương (2009) khảo sát trên 300 hành vi giới thiệu trong tình huống làm quen, lập bảng bốn kiểu trực tiếp và bốn kiểu gián tiếp; Hoàng Minh Hằng (2011) khảo sát 300 lời nói giới thiệu về tính lịch sự và không lịch sự; Khúc Thị Hạnh (2015) khảo sát 291 lượt tự giới thiệu trong một số chương trình giải trí truyền hình.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình đi trước chỉ tiếp cận hành vi giới thiệu trong phạm vi hẹp như tình huống làm quen, khảo sát đơn lẻ một số chương trình truyền hình hoặc chỉ dừng lại ở việc liệt kê khuôn mẫu giao tiếp thông thường. Luận án định vị là công trình đầu tiên khảo sát đồng bộ cả LNGT và LNTGT trên một hệ thống ngữ liệu thực tế quy mô lớn, phân tích sự chi phối của các nhân tố giao tiếp trong cả hai môi trường quy thức và phi quy thức qua ba lĩnh vực cụ thể (chính trị - xã hội, vui chơi giải trí, đời sống thường nhật), có sự đối chiếu một chiều với tiếng Anh – Mỹ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Lý thuyết giao tiếp và ngôn ngữ học xã hội:
- Khái niệm giao tiếp: Được tiếp cận theo Saville-Troike (1986), Zimmerman và Nguyễn Quang (2002); định nghĩa là quá trình người gửi mã hóa thông điệp và truyền qua kênh trung gian tới người nhận để giải mã và phản hồi.
- Hình thức giao tiếp: Phân loại theo phương tiện thành giao tiếp ngôn ngữ (lời nói, văn bản theo 6 phạm vi hoạt động của Đinh Trọng Lạc, 1994) và giao tiếp phi ngôn ngữ (cận ngôn và ngoại ngôn). Luận án tập trung vào giao tiếp trực diện bằng lời nói.
- Sự lựa chọn ngôn ngữ: Vận dụng luận điểm của Fishman (1968) về lĩnh vực giao tiếp (domain) và ba đặc điểm: tính dị biến, tính thương lượng, tính thích nghi.
- Ngữ vực (Register): Tiếp thu quan điểm của Halliday (1985) với ba bình diện: Trường (Field), Phương thức (Mode), Người giao tiếp (Tenor); cùng cách chia ba ngữ vực của Thompson: quy thức (formal), phi quy thức (informal) và thân tình (familiar).
- Phong cách ngôn ngữ: Dựa trên phân loại năm phong cách của Martin Joos (1976): Frozen (rất quy thức), Formal (quy thức), Consultative (bán quy thức), Casual (hàng ngày), Intimate (thân mật). Luận án quy tụ thành hai trục: lời nói quy thức và lời nói phi quy thức.
- Mô hình sự kiện giao tiếp của Dell Hymes: Sử dụng mô hình SPEAKING làm khung phân tích cốt lõi gồm tám nhân tố: Bối cảnh (Setting and Scene - S), Người tham gia (Participants - P), Mục đích (Ends - E), Chuỗi hành vi (Acts sequence - A), Thái độ/phương thức diễn đạt (Key - K), Phương tiện (Instrumentalities - I), Chuẩn mực xã hội (Norms - N), Thể loại (Genres - G).
- Lý thuyết hành vi ngôn ngữ:
- Kế thừa mô hình của Austin (1962) và Searle (1969) về hành vi tạo lời, hành vi ở lời (trực tiếp và gián tiếp) và hành vi mượn lời; luận án xác định LNGT và TGT thuộc nhóm hành vi ở lời.
- Vận dụng quan niệm của Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân về phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi (tường minh và không tường minh) và động từ ngữ vi. Động từ ngữ vi chỉ có hiệu lực khi thỏa mãn bốn điều kiện: phát ngôn ở ngôi thứ nhất, bổ ngữ ở ngôi thứ hai, dùng ở thời hiện tại và không đi kèm yếu tố biến thái.
- Khái niệm lời nói giới thiệu và tự giới thiệu:
- Tổng hợp từ Từ điển Oxford, Từ điển Cambridge, Từ điển tiếng Việt thông dụng (Nguyễn Như Ý, 1998) và Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2010), tác giả phân định: LNGT là hành vi người nói sử dụng lời nói để giới thiệu ai đó cho người khác biết trong lần đầu gặp gỡ hoặc nhằm mục đích cụ thể; LNTGT là hành vi chủ thể tự nói cho người khác biết thông tin về chính bản thân mình theo các chuẩn mực chung của xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả: Miêu tả biểu hiện cụ thể của LNGT và TGT, làm rõ các nhân tố giao tiếp chi phối lời nói trong từng phạm vi.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn và phân tích hội thoại: Phân tích cấu trúc các biểu thức lời nói và sự tương tác giữa ngữ nghĩa hệ thống với hiệu lực ngữ dụng trong ngữ cảnh văn hóa Việt Nam và Mỹ.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Thực hiện đối chiếu một chiều, lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ nguồn, so sánh với tiếng Anh – Mỹ để tìm ra nét tương đồng và khác biệt.
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Thống kê, phân loại cấu trúc các cặp thoại/hội thoại trên phần mềm Word và Excel.
Nguồn dữ liệu và tư liệu nghiên cứu
Ngữ liệu được thu thập từ 1.003 cặp thoại/hội thoại trong 254 sự kiện giao tiếp trực tiếp bằng lời nói giai đoạn 2006–2018, phân bổ như sau:
| Nguồn ngữ liệu |
Phân loại ngữ liệu |
Tiếng Việt (cặp thoại/hội thoại) |
Tiếng Anh (cặp thoại/hội thoại) |
Tổng cộng |
| Ghi âm giao tiếp đời thường |
Lời nói giới thiệu (LNGT) |
75 |
- |
75 |
| Ghi âm giao tiếp đời thường |
Lời nói tự giới thiệu (LNTGT) |
78 |
- |
78 |
| Phim ảnh (kênh truyền hình, internet) |
Giao tiếp hàng ngày qua phim |
7 |
30 |
37 |
| Truyền hình (VTV1, VTV3, Star Movies...) |
Sự kiện chính trị - xã hội |
223 |
124 |
347 |
| Truyền hình (VTV1, VTV3, Disney...) |
Sự kiện vui chơi giải trí |
302 |
165 |
467 |
| Tổng số ngữ liệu khảo sát |
|
685 |
319 |
1.003 |
Riêng trong khảo sát giao tiếp quy thức (Chương 2), tác giả sử dụng 467 cặp thoại/hội thoại trích từ 79 sự kiện chính trị - xã hội và 8 chương trình trò chơi truyền hình phiên bản Việt Nam và Mỹ (gồm: Hãy chọn giá đúng, Tìm kiếm tài năng, Vua đầu bếp, Thần tượng âm nhạc, Giọng hát, Người mẫu, Nhà thiết kế thời trang, Thử thách cùng bước nhảy).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương này dành toàn bộ dung lượng để thiết lập hệ thống khái niệm và cơ sở phương pháp luận. Tác giả tổng thuật chi tiết lịch sử nghiên cứu nghi thức lời nói và hành vi giới thiệu trên thế giới và ở Việt Nam, qua đó khẳng định tính độc lập của đề tài. Về cơ sở lý luận, chương 1 trình bày hai trục nội dung lớn:
- Trục lí thuyết giao tiếp nhìn từ ngôn ngữ học xã hội: Phân tích bản chất của giao tiếp, các hình thức giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, cơ chế lựa chọn ngôn ngữ (Fishman), các bình diện cấu thành ngữ vực (Halliday, Thompson), năm phong cách chức năng (Joos) và mô hình tám nhân tố của sự kiện giao tiếp SPEAKING (Hymes).
- Trục lí thuyết hành vi ngôn ngữ: Hệ thống hóa quan niệm của Austin và Searle về hành vi tạo lời, hành vi ở lời, hành vi mượn lời; phân biệt phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi (tường minh/không tường minh), động từ ngữ vi và điều kiện hành chức; đồng thời xác lập định nghĩa thao tác cho LNGT và LNTGT.
Chương 2: Đặc điểm lời nói giới thiệu và tự giới thiệu tiếng Việt trong giao tiếp quy thức (có liên hệ với tiếng Anh)
Chương 2 khảo sát 467 cặp thoại/hội thoại trong 79 sự kiện quy thức thuộc hai phạm vi: chính trị - xã hội (lễ kỷ niệm, mít tinh, lễ hội, lễ khai mạc, trao giải, hội nghị theo nghi thức Nhà nước và địa phương) và vui chơi giải trí (8 chương trình truyền hình thực tế).
- Bối cảnh giao tiếp (Setting & Scene): Được thống kê chi tiết qua các bảng phân loại sự kiện cấp nhà nước và cấp địa phương tại Việt Nam và Mỹ:
| Cấp độ sự kiện |
Thể loại sự kiện tiêu biểu |
Thời gian |
Địa điểm tổ chức |
| Cấp Nhà nước (Việt Nam) |
Lễ thành lập Đảng, khánh thành khu lưu niệm, trao giải, chương trình nghệ thuật Cõi thiêng Đồng Lộc, lễ hội Hoa phượng đỏ |
Ban ngày, buổi tối |
Hội trường Nhà hát lớn, Quảng trường, Trung tâm Hội nghị Quốc gia, sân khấu ngoài trời |
| Cấp Địa phương (Việt Nam) |
Kỷ niệm Ngày thương binh liệt sĩ, thành lập trường, phổ biến Nghị quyết, thi văn nghệ, đại hội thể dục thể thao |
Ban ngày, buổi tối |
Hội trường UBND phường, hội trường trường đại học/học viện, sân ủy ban, sân trường |
| Cấp Nhà nước (Mỹ) |
Kỷ niệm Ngày Độc lập, trao huân chương danh dự/quốc hội, trao giải thưởng |
Ban ngày |
Văn phòng Tổng thống, sân Nhà Trắng, hội trường lớn |
| Cấp Địa phương (Mỹ) |
Trao huy chương danh dự, tọa đàm tại Học viện Hải quân, buổi gặp mặt tại Nhà Trắng |
Ban ngày |
Hội trường Cảnh sát thủ đô, hội trường Học viện Hải quân, hội trường Nhà Trắng |
- Người tham gia giao tiếp (Participants): Luận án mô tả cụ thể cơ cấu vai giao tiếp:
- SP1 (người nói/người giới thiệu): Tại Việt Nam là người dẫn chương trình (MC) hoặc đại diện ban tổ chức. Tại Mỹ, bên cạnh người điều phối (moderator) còn có sự tham gia trực tiếp của lãnh đạo cấp cao nhất (Tổng thống Mỹ) trong vai trò người giới thiệu — đây là nét dị biệt nổi bật so với các sự kiện cấp nhà nước ở Việt Nam.
- SP1 ngôi thứ ba (người được giới thiệu): Gồm đối tượng đích danh cá nhân (lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bộ ngành, tướng lĩnh, khách mời) và đối tượng giới thiệu theo nhóm (đoàn thể, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân).
- SP2 (người tiếp nhận): Gồm người tiếp nhận trực tiếp tại hội trường và người tiếp nhận gián tiếp qua truyền hình, phát thanh, internet.
- Chuỗi hành vi và trật tự nghi thức: Trình tự giới thiệu đại biểu thể hiện tính tôn ti trật tự xã hội rõ rệt. Tại Việt Nam, quy tắc giới thiệu đi từ cấp cao xuống cấp thấp (Trung ương đến địa phương), chức vụ Đảng đi trước chức vụ chính quyền và đoàn thể (Tổng Bí thư -> Chủ tịch nước -> Thủ tướng -> Chủ tịch Quốc hội -> Thường trực Ban Bí thư -> Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc...). Tại Mỹ, trật tự vận hành theo cấp bậc hành chính nhà nước (Tổng thống -> Phó Tổng thống -> Bộ trưởng các Bộ -> Nghị sĩ các Đảng).
- Phương tiện, thái độ và thể loại: Ngôn từ mang tính khuôn mẫu văn bản cao, phát âm chuẩn phổ thông, ngữ điệu trang trọng, nghiêm túc, tự hào; tuyệt đối không dùng tiếng lóng hay khẩu ngữ suồng sã.
- Phân loại biểu thức LNGT chính trị - xã hội: Văn bản tổng hợp các kiểu biểu thức trực tiếp và gián tiếp:
| Loại biểu thức |
Tiếng Việt |
Tiếng Anh |
| LNGT trực tiếp |
- Dạng đầy đủ - Dạng khuyết thiếu SP2 - Dạng khuyết thiếu SP1, SP2 |
- Dạng khuyết thiếu SP2 - Dạng khuyết thiếu SP1, SP2 |
| LNGT gián tiếp |
- Dạng khuyết thiếu SP2, ĐTNV - Dạng khuyết thiếu SP1, SP2, ĐTNV |
- Dạng khuyết thiếu SP2, ĐTNV - Dạng khuyết thiếu SP1, SP2, ĐTNV |
- Đặc điểm LNTGT trong vui chơi giải trí: Khảo sát thí sinh và người chơi trong 8 chương trình truyền hình thực tế. Người tự giới thiệu cung cấp thông tin cá nhân thuộc lớp ngoại biên (họ tên, tuổi, nghề nghiệp, quê quán), sử dụng biểu thức trực tiếp ("Tôi xin tự giới thiệu...") hoặc giản lược câu trần thuật, kết hợp đại từ nhân xưng thể hiện sự khiêm tốn, hòa nhập với không khí giải trí.
Chương 3: Đặc điểm lời nói giới thiệu và tự giới thiệu tiếng Việt trong giao tiếp phi quy thức (có liên hệ với tiếng Anh)
Theo phân bổ cấu trúc được nêu trong phần mở đầu và đề cương của luận án, chương 3 tập trung khảo sát các cặp thoại/hội thoại trong đời sống hàng ngày (thu thập qua ghi âm trực tiếp các mối quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, người thân, gia đình, xóm giềng và qua phim ảnh).
- Nội dung phân tích tập trung vào các biểu thức mang phong cách thân mật (intimate) và thường nhật (casual) theo phân loại của Joos; ngữ vực thân tình theo Thompson.
- Trái ngược với sự chặt chẽ về chức vụ và tôn ti chính trị ở chương 2, giao tiếp phi quy thức không bị ràng buộc bởi cấp bậc hành chính. Ngôn ngữ mang tính tự nhiên, bình dân, sử dụng linh hoạt các biến thể từ ngữ xưng hô, tiếng lóng, khẩu ngữ, rào đón và các yếu tố bộc lộ cảm xúc nhằm rút ngắn khoảng cách tâm lý và tôn vinh thể diện của đối ngôn.
Kết quả và những đóng góp mới
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Luận án vận dụng và kiểm chứng mô hình sự kiện giao tiếp SPEAKING của Hymes và lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Austin - Searle vào một đối tượng giao tiếp cụ thể là LNGT và TGT, khẳng định tính tương thích của khung lý thuyết dụng học xã hội trong việc phân tích diễn ngôn đối thoại.
- Làm rõ cơ chế chi phối của ngữ vực (Halliday, Thompson) và phong cách ngôn ngữ (Joos) đối với việc hình thành các biểu thức ngôn ngữ quy thức và phi quy thức.
- Xác lập cơ sở khoa học để nhận diện cấu trúc vị từ - tham thể và điều kiện hành chức của các biểu thức ngữ vi giới thiệu trực tiếp và gián tiếp trong tiếng Việt khi đối sánh với tiếng Anh.
- Làm sáng tỏ chiến lược giao tiếp của người Việt trong mối tương quan với đặc trưng văn hóa - xã hội: văn hóa trọng tôn ti, thứ bậc trong nghi thức nhà nước và tính chất khiêm nhường, tránh phô trương cá nhân trong các phát ngôn tự giới thiệu.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp mô tả chi tiết về hệ thống biểu thức lời nói chuẩn mực, góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp của người Việt trong các hoạt động hành chính, chính trị, tổ chức sự kiện và giao tiếp xã hội thường nhật.
- Kết quả đối chiếu với tiếng Anh – Mỹ cung cấp nguồn ngữ liệu thực tế có giá trị phục vụ việc học tập và giảng dạy ngoại ngữ, giúp người học Việt Nam hiểu đúng cấu trúc giới thiệu của người Mỹ theo từng bối cảnh cụ thể (tình huống xã hội, tình huống kinh doanh, nghi thức nhà nước) để tránh xung đột giao văn hóa.
- Kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng trực tiếp vào việc xây dựng tài liệu rèn luyện kỹ năng mềm, kỹ năng giao tiếp cho thanh niên và sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học.
- Đề xuất, kiến nghị:
- Vận dụng các mô hình biểu thức đã được phân loại vào chương trình giảng dạy ngôn ngữ thực hành, ngữ dụng học và giao tiếp liên văn hóa.
- Chuẩn hóa quy trình và ngôn ngữ dẫn chương trình, nghi thức giới thiệu đại biểu trong các văn bản hướng dẫn lễ tân nhà nước và địa phương nhằm bảo đảm tính chính xác, trang trọng và khoa học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên các giới hạn được tác giả nêu rõ trong văn bản:
- Về phạm vi đối tượng: Nghiên cứu mới chỉ tập trung vào phương tiện lời nói trực tiếp (oral communication), hoàn toàn chưa khảo sát các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (như ánh mắt, nụ cười, bắt tay, cử chỉ, tư thế, khoảng cách không gian giao tiếp) vốn có vai trò bổ trợ quan trọng cho hành vi giới thiệu.
- Về phương pháp đối chiếu: Luận án mới chỉ thực hiện đối chiếu một chiều lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ nguồn để liên hệ với tiếng Anh, chưa tiến hành đối chiếu song song hai chiều để bao quát toàn diện các đặc trưng đối ứng.
- Về phạm vi ngữ cảnh: Chưa đi sâu khảo sát các ngữ cảnh giao tiếp bán quy thức (consultative style) như môi trường thương mại, dịch vụ, y tế hoặc giao tiếp công vụ hàng ngày.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đa phương thức kết hợp giữa phân tích ngôn từ và hành vi phi ngôn ngữ; khảo sát sâu hơn các tình huống giao tiếp kinh doanh và mở rộng phạm vi đối chiếu đa ngữ văn hóa.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học, Việt ngữ học, Ngữ dụng học và Ngôn ngữ học xã hội: Có thể tham khảo cách vận dụng mô hình sự kiện giao tiếp của Hymes kết hợp lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Austin và Searle để phân tích diễn ngôn thực tế.
- Giảng viên và người học ngoại ngữ (tiếng Anh): Nắm bắt các khuôn mẫu biểu thức giới thiệu trong bối cảnh văn hóa Mỹ (từ tình huống thân mật đến tình huống kinh doanh và nghi lễ nhà nước) theo mô hình của Emily Post và ngữ liệu đối sánh.
- Người làm công tác truyền thông, người dẫn chương trình (MC), chuyên viên tổ chức sự kiện và cán bộ lễ tân, văn phòng: Tham khảo quy chuẩn trật tự giới thiệu đại biểu theo thứ bậc hành chính và hệ thống biểu thức ngôn ngữ quy thức chuẩn mực trong các sự kiện trọng thể.
Câu hỏi thường gặp
-
Quy mô và nguồn ngữ liệu thực tế của luận án được xác lập như thế nào?
Luận án tiến hành thu thập và ghi chép 1.003 cặp thoại/hội thoại từ 254 sự kiện diễn ra trong giai đoạn 2006–2018. Nguồn dữ liệu gồm: 153 cặp thoại ghi âm đời thường (75 LNGT và 78 LNTGT tiếng Việt); 37 cặp thoại trong phim ảnh (7 tiếng Việt, 30 tiếng Anh); 347 cặp thoại sự kiện chính trị - xã hội (223 tiếng Việt, 124 tiếng Anh); và 467 cặp thoại từ các sự kiện giải trí truyền hình (302 tiếng Việt, 165 tiếng Anh).
-
Sự khác biệt về vai người giới thiệu (SP1) trong các sự kiện quy thức cấp nhà nước giữa Việt Nam và Mỹ là gì?
Ở Việt Nam, người thực hiện hành vi giới thiệu (SP1) tại các sự kiện cấp nhà nước luôn là người dẫn chương trình (MC) chuyên nghiệp hoặc lãnh đạo đơn vị tổ chức. Ngược lại, tại Mỹ, người thực hiện hành vi giới thiệu bên cạnh người điều phối (moderator) còn có sự tham gia trực tiếp của lãnh đạo cấp cao nhất là Tổng thống Mỹ (ví dụ trong các lễ trao huân chương danh dự tại Nhà Trắng).
-
Trật tự giới thiệu đại biểu, khách mời trong các sự kiện chính trị - xã hội tại Việt Nam và Mỹ tuân theo quy tắc nào?
Cả hai nước đều tuân thủ trật tự tôn ti quyền lực từ cao xuống thấp. Tuy nhiên, tại Việt Nam, thứ tự giới thiệu ưu tiên người có chức vụ Đảng cao nhất trước, sau đó mới đến chức vụ chính quyền và Mặt trận Tổ quốc (Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội...), đồng thời đi từ cấp Trung ương xuống cấp địa phương. Tại Mỹ, trật tự vận hành trực tiếp theo cơ cấu tổ chức nhà nước: Tổng thống, Phó Tổng thống, Bộ trưởng các Bộ, sau đó đến Nghị sĩ các Đảng.
-
Theo cơ sở lý luận của luận án, hành vi tự giới thiệu (LNTGT) nằm ở lớp nào trong mô hình bộc bạch bản thân của Altman và Taylor (1973)?
Theo mô hình phân loại ba lớp chiều sâu của Altman và Taylor (1973) gồm lớp ngoại biên (peripheral layer), lớp trung gian (intermediate layer) và lớp lõi (core layer), luận án xác định hành vi tự giới thiệu (LNTGT) của đối tượng giao tiếp thuộc phạm vi lớp ngoại biên — tức các thông tin tiểu sử bề mặt như họ tên, tuổi tác, nghề nghiệp, quê quán và địa vị xã hội.
-
Nghiên cứu khảo sát những chương trình giải trí truyền hình cụ thể nào trong môi trường giao tiếp quy thức?
Tác giả khảo sát tám chương trình giải trí truyền hình có cả phiên bản Việt Nam và phiên bản Mỹ, bao gồm: Hãy chọn giá đúng, Tìm kiếm tài năng, Vua đầu bếp, Thần tượng âm nhạc, Giọng hát, Người mẫu, Nhà thiết kế thời trang và Thử thách cùng bước nhảy.
Kết luận
Bản mô tả học thuật cho thấy luận án tiến sĩ là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về lời nói giới thiệu và tự giới thiệu trong tiếng Việt trên cơ sở liên hệ đối chiếu với tiếng Anh – Mỹ. Bằng việc kết hợp lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Austin – Searle với mô hình sự kiện giao tiếp của Dell Hymes và lý thuyết ngữ vực, tác giả đã xử lý có hệ thống một khối lượng lớn ngữ liệu gồm 1.003 cặp thoại qua 254 sự kiện thực tế. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ các khuôn mẫu biểu thức ngôn ngữ trực tiếp và gián tiếp trong môi trường quy thức và phi quy thức, mà còn chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa cấu trúc lời nói với các nhân tố văn hóa, chính trị và chuẩn mực xã hội. Công trình đóng góp thiết thực cho cả lý luận dụng học xã hội lẫn hoạt động thực tiễn trong giảng dạy ngoại ngữ, truyền thông và lễ tân hành chính.