Lời nói giới thiệu và tự giới thiệu trong tiếng Việt và tiếng Anh: Một nghiên cứu so sánh

Luận án phân tích lời nói giới thiệu và tự giới thiệu trong tiếng Việt, so sánh với tiếng Anh, giúp hiểu sâu về ngôn ngữ và văn hóa.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2018

273
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Cơ sở lí luận

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM LỜI NÓI GIỚI THIỆU VÀ TỰ GIỚI THIỆU TIẾNG VIỆT TRONG GIAO TIẾP QUY THỨC (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH)

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM LỜI NÓI GIỚI THIỆU VÀ TỰ GIỚI THIỆU TIẾNG VIỆT TRONG GIAO TIẾP PHI QUY THỨC (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

LỜI KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu

Nghiên cứu về lời nói giới thiệutự giới thiệu trong tiếng Việt và tiếng Anh đang trở thành một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học hiện đại. Sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ học đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, đặc biệt là trong bối cảnh giao tiếp đa văn hóa. Việc tìm hiểu cách thức mà các hành vi giao tiếp này diễn ra trong hai ngôn ngữ khác nhau không chỉ giúp làm rõ đặc điểm ngôn ngữ mà còn phản ánh những quy tắc văn hóa xã hội của từng cộng đồng. Theo đó, ngôn ngữ tiếng Việtngôn ngữ tiếng Anh có những điểm tương đồng và khác biệt trong cách thức thể hiện lời nói giới thiệutự giới thiệu. Nghiên cứu này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc nâng cao kỹ năng giao tiếp cho người học ngoại ngữ.

1.1. Tầm quan trọng của lời nói giới thiệu

Lời nói giới thiệu và tự giới thiệu đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp hàng ngày. Chúng không chỉ giúp người tham gia giao tiếp nhận diện nhau mà còn tạo dựng mối quan hệ xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc hiểu rõ cách thức giới thiệu trong ngôn ngữ tiếng Việtngôn ngữ tiếng Anh trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Các hành vi như chào hỏi, cảm ơn, và xin lỗi đều có những biểu thức riêng biệt, phản ánh văn hóa và phong cách giao tiếp của từng dân tộc. Việc nghiên cứu các biểu thức này sẽ giúp người học ngôn ngữ có cái nhìn sâu sắc hơn về cách thức giao tiếp trong các tình huống khác nhau.

II. Đặc điểm ngôn ngữ trong lời nói giới thiệu

Nghiên cứu về lời nói giới thiệutự giới thiệu trong tiếng Việt và tiếng Anh cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong cấu trúc và cách thức sử dụng. Trong tiếng Việt, cấu trúc câu giới thiệu thường đơn giản và trực tiếp, trong khi tiếng Anh có xu hướng sử dụng nhiều yếu tố bổ sung để làm rõ thông tin. Ví dụ, trong tiếng Việt, một câu giới thiệu có thể chỉ cần tên và chức vụ, trong khi tiếng Anh thường yêu cầu thêm thông tin về mối quan hệ hoặc bối cảnh. Điều này phản ánh sự khác biệt trong văn hóa giao tiếp giữa hai ngôn ngữ. Việc phân tích các yếu tố này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn giúp người học có thể áp dụng vào thực tiễn giao tiếp.

2.1. So sánh ngôn ngữ trong lời nói giới thiệu

Khi so sánh lời nói giới thiệu trong tiếng Việt và tiếng Anh, có thể nhận thấy rằng tiếng Việt thường sử dụng các cụm từ ngắn gọn, trong khi tiếng Anh lại có xu hướng dài dòng hơn. Điều này có thể được lý giải bởi sự khác biệt trong văn hóa giao tiếp. Trong tiếng Việt, sự ngắn gọn và súc tích được coi trọng, trong khi tiếng Anh lại nhấn mạnh vào việc cung cấp thông tin đầy đủ và rõ ràng. Sự khác biệt này không chỉ ảnh hưởng đến cách thức giao tiếp mà còn đến cách mà người nói thể hiện bản thân và mối quan hệ với người nghe.

III. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Kết quả của nghiên cứu về lời nói giới thiệutự giới thiệu có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Đặc biệt, trong giáo dục, việc hiểu rõ cách thức giao tiếp giữa các nền văn hóa sẽ giúp sinh viên nâng cao kỹ năng giao tiếp của mình. Các biểu thức lời nói giới thiệu có thể được sử dụng trong các tình huống giao tiếp chính thức và không chính thức, từ đó giúp người học có thể tự tin hơn khi giao tiếp với người nước ngoài. Ngoài ra, nghiên cứu cũng có thể cung cấp tư liệu cho các chương trình đào tạo kỹ năng mềm, giúp người học phát triển khả năng giao tiếp hiệu quả hơn.

3.1. Tăng cường hiệu quả giao tiếp

Việc áp dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sẽ giúp tăng cường hiệu quả giao tiếp của người Việt trong môi trường quốc tế. Bằng cách hiểu rõ các quy tắc và biểu thức trong lời nói giới thiệutự giới thiệu, người học có thể tránh được những hiểu lầm và xung đột văn hóa. Điều này không chỉ có lợi cho cá nhân mà còn góp phần nâng cao hình ảnh của người Việt trong mắt bạn bè quốc tế.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SƠ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu lời nói trong sự kiện giao tiếp Ngữ dụng học đã phát triển rất mạnh mẽ, nhất là ở thời điểm những lý thuyết về dụng học của Austin (1962), Searl (1969), Brown & Levinson (1987), Leech (1983) xuất hiện. Những nghiên cứu về lý thuyết và những nghiên cứu cụ thể trở thành một chuyên ngành có sức lôi cuốn đặc biệt tới các nhà ngôn ngữ học.

Chính sự phát triển này đã tạo đà cho các nhà ngôn ngữ học quan tâm nhiều hơn những vấn đề liên quan đến lời nói trong sự kiện giao tiếp. Qua tìm hiểu, chúng tôi đưa ra một số hướng nghiên cứu tiêu biểu sau: 1. Hướng nghiên cứu lời nói theo cấu trúc hệ thống Ở hướng nghiên cứu này, theo quan sát chúng tôi chỉ có một số nghiên cứu về mô hình sử dụng các hành vi ngôn ngữ thông dụng trong giao tiếp theo nghi thức lời nói. Tiêu biểu phải kể đến nghiên cứu “Cách dùng nghi thức lời nói tiếng Nga” của N.

Trong công trình này, tác giả miêu tả và phân loại các hành vi ngôn ngữ như xưng hô, thu hút sự chú ý, làm quen, chào hỏi, tạm biệt, chúc mừng, chúc tụng, cảm ơn, xin lỗi, mời, khuyên nhủ-đề nghị, an ủi-cảm thông-chia buồn, khen ngợi-tán đồng, nói chuyện điện thoại. Tất cả những hành vi ngôn ngữ đó được minh họa qua băng ghi âm, những ví dụ được trích trong các tác phẩm văn học. Đây là một công trình nghiên cứu chứa đựng lượng kiến thức phong phú lý giải cho nghi thức lời nói mặc dù có thiên hướng nhiều về thực hành. Phơrơmanốpxcaia cùng A.A Akisina xuất bản cuốn sách về“Nghi thức lời nói Nga” (1987) [1].

Các tác giả đưa ra một loạt bảng biểu mẫu, tình huống sử dụng và diễn giải theo từng nhóm đề tài, kèm theo là các ví dụ minh họa và một số hội thoại trong tình huống cụ thể. Trong phần hội thoại có cả đối đáp và phản đáp từ những dẫn liệu tiêu biểu, sinh động và phong phú đầy tính thiết thực và hữu dụng. 6 Cùng với sự phát triển không ngừng các nghiên cứu trên thế giới về lời nói trong sự kiện giao tiếp, ở trong nước đã có một số nhà ngôn ngữ học quan tâm và đi sâu tìm hiểu về lời nói và nghi thức lời nói. Thái Duy Bảo (1988) [69] “đối chiếu nghi thức lời nói đối thoại Anh – Việt”, tác giả đi vào miêu tả, đối chiếu các khuôn mẫu nghi thức lời nói trong năm phạm trù “giao tế” cơ bản và nêu lên những đặc trưng của các hành vi ngôn ngữ như: hành vi xưng hô, chào hỏi, tiễn biệt, cảm ơn, xin lỗi, mời, yêu cầu, v.

Đồng thời, luận án còn nêu điều kiện dùng các phát ngôn, các mã tín hiệu kèm theo ngôn ngữ đặc thù trong những bối cảnh giao tiếp tương đồng xét trên bình diện dụng học. Phạm Thị Thành (1995) [63] nghiên cứu tìm hiểu các phát ngôn chào, cám ơn, xin lỗi bằng cách phân loại theo nội dung ngữ nghĩa giao tiếp và cấu trúc của các phát ngôn trong hoạt động giao tiếp mang tính nghi thức. Từ việc hình thành lên các khuôn mẫu theo từng hành vi, tác giả phân tích những tác động của hoạt động giao tiếp tới sự hình thành nội dung ngữ nghĩa và cấu trúc cú pháp của các phát ngôn này. Luận án có một ngữ liệu nghiên cứu khá đa dạng như trong các tiểu thuyết, truyện ngắn, tạp chí trong các giáo trình dạy tiếng Việt hiện đại đến các cuộc đối thoại trong phim, kịch, tiểu phẩm trên truyền hình và trong đời thường được ghi âm lại.

Nguyễn Văn Khang (1996)[41] đã đề cập đến một loại nghi thức lời nói thể hiện hành vi xưng gọi trong giao tiếp gia đình người Việt. Tác giả tập trung mô tả và đưa ra các kiểu chào thường gặp trong gia đình người Việt. Nguyễn Văn Lập (2005) [46] miêu tả và phân loại nghi thức lời nói khẩu ngữ tự nhiên của tiếng Việt theo các nhóm thông dụng nhất. Đặc biệt tác giả đối chiếu hai loại khuôn mẫu nghi thức lời nói trong tiếng Việt và tiếng Anh-Mỹ về nghi thức lời nói biểu thị hành vi yêu cầu và nghi thức lời nói biểu thị hành vi cảm ơn.

Hướng nghiên cứu lời nói theo dụng học Trên thế giới, Austin (1965) và Searle (1969), Hymes (1964), Grice (1975), Levinson (1983), Schmidt & Richards (1985), Yule (1996),v.v, có những nghiên cứu về lý thuyết hành vi ngôn ngữ, cho thấy được “một sự điều chỉnh sâu sắc và cơ bản đối với quan niệm của F.de Sausure về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói” [16]. Austin [46] phát hiện ra bản chất hành vi ngôn ngữ là hành vi được thực hiện ngay khi nói năng và ngôn ngữ là phương tiện thực hiện hành vi đó. Nói như tác giả Nguyễn Văn Hiệp về tư tưởng cốt lõi của Austin một cách đầy đủ “nói là hành vi” [38]. Austin chia hành vi ngôn ngữ làm ba tiểu hành vi: Hành vi tạo lời (locutionary act), hành vi ở lời (illocutionary act), hành vi mượn lời (perlocutionary act).

Khi phát ngôn của người nói kết thúc thì cũng là lúc người nói thực hiện xong hành vi ngôn ngữ. Searle [107] hoàn thiện và phát triển thêm khái niệm hành vi ngôn ngữ. Theo tác giả các qui tắc mà con người tuân thủ cũng đồng thời là những quy tắc mà hành vi ngôn ngữ phải tuân theo. Để phân biệt các hành vi ngôn ngữ Searle đưa ra mười hai điểm khác biệt và dựa vào bốn tiêu chí quan trọng hơn cả là đích ở lời, hướng khớp ghép giữa lời và hiện thực, trạng thái tâm lý, nội dung mệnh đề để phân lập thành năm nhóm hành vi ở lời.

Đã có một số nhà ngôn ngữ nghiên cứu đưa ra những quan điểm, những bài viết liên quan đến hành vi ngôn ngữ như: Searle J. Ở Việt Nam, lý thuyết về hành vi ngôn ngữ cũng được bàn luận khá nhiều trong những công trình của Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1993), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2004), v. Các tác giả không những giới thiệu các quan điểm tiêu biểu của các nhà nghiên cứu trên thế giới mà còn đưa ra những lập luận riêng trên cứ liệu tiếng Việt. Sự xuất hiện của lý thuyết hành vi ngôn ngữ có tác động mạnh mẽ tới các nghiên cứu ứng dụng thực tiễn ở Việt Nam.

Một số nghiên cứu về hành vi cảm 8 ơn (Ngô Hữu Hoàng, 1998; Đỗ Thị Thuý Vân, 2019), hành vi khen (Nguyễn Văn Quang, 1999; Phạm Thị Hà, 2013); sự kiện lời nói cho, tặng (Chử Thị Bích, 2008); các phát ngôn chào, cảm ơn, xin lỗi (Huỳnh Thị Nhĩ, 2010; Nguyễn Văn Khang, 2014); hành vi chê, hành vi từ chối, hành vi yêu cầu, hành vi nhờ v. được coi là những hành vi ngôn ngữ để nghiên cứu các hành vi trực tiếp, hành vi gián tiếp; các biểu thức ngôn ngữ, các biến thể; các yếu tố ngôn ngữ và thực tế sử dụng các hành vi ngôn ngữ đó. Sau đây là những nghiên cứu tiêu biểu: Nguyễn Văn Quang (1999) [50] đã chỉ ra một số khác biệt giao tiếp lời nói trong cách thức khen và tiếp nhận lời khen của người Việt và người Mỹ. “Khen” được coi là một hành vi ngôn trung giao tiếp.

Xét theo các thông số giao tiếp, tác giả mô tả việc sử dụng cách thức khen trực tiếp và gián tiếp trong từng ngôn ngữ, các dấu hiệu từ vựng tình thái, đồng thời nêu ra những điểm tương đồng và dị biệt. Kết quả nghiên cứu này giúp cho những người sử dụng ngôn ngữ tránh được các xung đột văn hóa tiềm năng trong giao tiếp. Đây là một sự khẳng định tầm quan trọng của dụng học giao thoa văn hóa nhằm phục vụ cho giảng dạy ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp và các lĩnh vực có liên quan. Dương Tuyết Hạnh (2006) [8] khảo sát hành vi nhờ trong hội thoại hàng ngày và các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản phim (đã được văn bản hoá) để chỉ ra các biểu thức ngữ vi nhờ, cách rào đón và phép lịch sự trong sự kiện lời nói nhờ.

Huỳnh Thị Nhĩ (2010) [16] đã vận dụng một số kết luận về nghi thức tiếng Việt của Phạm Thị Thành [63] đưa ra cấu trúc, tình huống và chiến lược thực hiện các phát ngôn chào, cám ơn, xin lỗi dựa theo lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và lý thuyết lịch sự và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cách sử dụng các phát ngôn đó trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt. Đồng thời tác giả có những gợi ý hướng dẫn sinh viên Việt Nam học tiếng Anh-Mỹ theo đúng cách của người Mỹ khi giao tiếp với họ, giúp sinh viên nâng cao năng lực giao tiếp. Ngô Hương Lan (2014) [58] chỉ ra đặc điểm hành vi từ chối lời cầu khiến trong tiếng Nhật và biểu hiện của nó bằng ngôn ngữ tiếng Nhật với những biểu 9 thức cụ thể; những điểm giống và khác nhau giữa tiếng Nhật và tiếng Việt và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy tiếng Nhật như một ngoại ngữ đối với người Việt dưới ánh sáng của lí thuyết lịch sự và góc nhìn của giao tiếp liên văn hoá. Hướng nghiên cứu theo ngôn ngữ học xã hội Từ khi ngôn ngữ học xã hội (sociolinguistics) xuất hiện, đã có nhiều nội dung được nghiên cứu gắn liền với tên các tác giả như: Fasold (1990), Labov (1967), Trudgill (2000),v.v, trong đó nổi bật có một số nghiên cứu theo hướng giao tiếp tương tác của các tác giả như Saville-Troike (1986), Hymes (1974), v.

Ngôn ngữ học xã hội tương tác được phát triển trên cơ sở của dân tộc học giao tiếp (Ethnography of Communication) với mục đích là dùng tri thức ngôn ngữ để lý giải quá trình và kết quả giao tiếp giữa con người với con người; chỉ ra được những đặc trưng trong sử dụng ngôn ngữ trong nền văn hóa khác nhau; giải thích phương thức giao tiếp giữa những người có nền văn hóa khác nhau. Ở Việt Nam cũng đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm và đi sâu vào nghiên cứu về ngôn ngữ học xã hội cả những nghiên cứu lý thuyết và thực hành. Nguyễn Văn Khang (2014) [44] đề cập đến nghi thức lời nói với các nhân tố chi phối: trường hợp chào gặp mặt và chào từ biệt, cảm ơn và xin lỗi. Tác giả liệt kê các mô hình từ hạt nhân đến mở rộng tối đa và phân tích đặc điểm những nghi thức đó với các nhân tố xã hội chi phối như: nhân tố thời đại, nhân tố phân tầng xã hội (giới, tuổi, vùng miền, quyền lực, nhóm xã hội khác tác động đến cách chọn ngôn ngữ).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Lời nói giới thiệu và tự giới thiệu trong tiếng Việt và tiếng Anh: Một nghiên cứu so sánh" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức mà lời nói giới thiệu và tự giới thiệu được sử dụng trong hai ngôn ngữ khác nhau. Nghiên cứu này không chỉ phân tích cấu trúc ngôn ngữ mà còn khám phá các yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến cách thức giao tiếp. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về sự khác biệt và tương đồng trong cách thức giao tiếp giữa tiếng Việt và tiếng Anh, từ đó nâng cao kỹ năng giao tiếp của bản thân trong môi trường đa văn hóa.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về ngôn ngữ học so sánh, hãy tham khảo thêm bài viết "Luận án tiến sĩ: So sánh từ vựng thuộc trường thị giác giữa tiếng Việt và tiếng Anh", nơi bạn sẽ tìm thấy những phân tích sâu sắc về từ vựng trong hai ngôn ngữ này. Bên cạnh đó, bài viết "Luận án về sự tương đồng và khác biệt trong phát ngôn giữa tiếng Anh và tiếng Việt" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh phát ngôn trong hai ngôn ngữ. Cuối cùng, bài viết "Đánh giá thực trạng năng lực giao tiếp tiếng Anh của sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ Anh" sẽ cung cấp cái nhìn thực tiễn về khả năng giao tiếp của sinh viên, từ đó giúp bạn có thêm thông tin hữu ích cho việc học tập và giảng dạy.