Đánh giá thực trạng năng lực giao tiếp tiếng Anh của sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ Anh

Chuyên khảo phân tích Luận án đánh giá thực trong đánh giá năng lực tiếng anh giao tiếp của sinh viên đại học ngành ngôn, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Đại học Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ Anh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

250
29
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Mục lục

Danh mục bảng

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRONG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TIẾNG ANH GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ ANH

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Những nghiên cứu về đánh giá trong dạy học

1.3. Những nghiên cứu về năng lực tiếng Anh giao tiếp và đánh giá năng lực tiếng Anh giao tiếp

1.4. Những nghiên cứu về đánh giá thực trong đánh giá năng lực tiếng Anh giao tiếp

1.5. Những vấn đề lí luận về đánh giá thực trong dạy học

1.6. Khái niệm và đặc điểm của đánh giá thực

1.7. Mục tiêu, vị trí và nhiệm vụ của đánh giá thực

1.8. Nguyên tắc sử dụng đánh giá thực

1.9. Một số mô hình ứng dụng đánh giá thực vào học tập và đánh giá

1.10. Qui trình, phương pháp và hình thức đánh giá thực

1.11. Những vấn đề lí luận về năng lực ngôn ngữ giao tiếp (tiếng Anh)

1.12. Khái niệm năng lực ngôn ngữ giao tiếp (tiếng Anh)

1.13. Cấu trúc năng lực ngôn ngữ giao tiếp (tiếng Anh)

1.14. Thang năng lực ngôn ngữ giao tiếp (tiếng Anh)

1.15. Chuẩn đầu ra năng lực ngôn ngữ giao tiếp (tiếng Anh)

1.16. Những vấn đề lí luận về đánh giá thực trong đánh giá năng lực tiếng Anh giao tiếp của sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ Anh

1.17. Một số vấn đề cơ bản về đánh giá thực trong đánh giá năng lực tiếng Anh giao tiếp của sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ Anh

1.18. Các hợp phần năng lực tiếng Anh giao tiếp cần đánh giá

1.19. Đánh giá thực năng lực tiếng Anh giao tiếp

1.20. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện đánh giá thực trong đánh giá năng lực tiếng Anh giao tiếp của sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ Anh

1.21. Chương trình đào tạo ngành Ngôn ngữ Anh

1.22. Mức chuẩn đầu ra và đánh giá đầu ra các học phần năng lực tiếng Anh

1.23. Một số đặc điểm cơ bản của sinh viên và giảng viên ngành Ngôn ngữ Anh

1.24. Nhu cầu của xã hội và vị trí việc làm sau khi tốt nghiệp

1.25. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TIẾNG ANH GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ ANH

2.1. Mục đích, mục tiêu khảo sát

2.2. Nội dung, phương pháp, mẫu khảo sát và cách thức xử lý số liệu

2.3. Nội dung khảo sát và tiêu chí đánh giá kết quả khảo sát

2.4. Phương pháp khảo sát

2.5. Mẫu khảo sát và cách thức xử lý số liệu

2.6. Kết quả khảo sát

2.7. Thực trạng nhận thức của giảng viên và sinh viên về năng lực tiếng Anh giao tiếp

2.8. Thực trạng nhận thức của giảng viên và sinh viên về đánh giá thực

2.9. Thực trạng đánh giá năng lực tiếng Anh và ý kiến về hình thức đánh giá phù hợp nhất

2.10. Thực trạng tần suất sử dụng đánh giá thực

2.11. Thực trạng về nhiệm vụ, nội dung và đặc điểm các hoạt động ĐGT được thực hiện trên lớp

2.12. Thực trạng về việc tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá thực

2.13. Nhận xét của giảng viên và sinh viên về kết quả thực hiện đánh giá thực

2.14. Thực trạng về sử dụng kết quả đánh giá thực

2.15. Đánh giá chung về thực trạng

2.16. Những điểm mạnh

2.17. Một số tồn tại

2.18. Nguyên nhân của những tồn tại

2.19. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: QUI TRÌNH VÀ BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG ĐÁNH GIÁ THỰC TRONG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TIẾNG ANH GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ ANH

3.1. Nguyên tắc đề xuất qui trình và các biện pháp

3.2. Đảm bảo chương trình đào tạo

3.3. Đảm bảo tính toàn diện

3.4. Đảm bảo tính khả thi

3.5. Đảm bảo tính thực tiễn

3.6. Qui trình và các biện pháp ứng dụng đánh giá thực trong đánh giá năng lực tiếng Anh giao tiếp của sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ Anh

3.7. Qui trình đánh giá thực năng lực tiếng Anh giao tiếp của SV ĐH ngành Ngôn ngữ Anh

3.8. Biện pháp 1: Đánh giá thực năng lực Nghe

3.9. Biện pháp 2: Đánh giá thực năng lực Nói

3.10. Biện pháp 3: Đánh giá thực năng lực Đọc

3.11. Biện pháp 4: Đánh giá thực năng lực Viết

3.12. Sơ bộ đánh giá tính khả thi của qui trình và các biện pháp

3.13. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

4.1. Mục đích thực nghiệm

4.2. Nội dung thực nghiệm

4.3. Tổ chức thực nghiệm

4.4. Kết quả thực nghiệm

4.5. Đánh giá thực năng lực nói độc thoại (thuyết trình):

4.6. Đánh giá thực năng lực viết sản sinh (viết báo cáo)

4.7. Đánh giá tổng thể việc thực hiện dự án học tập nhóm

4.8. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Danh mục công trình đã công bố

Tài liệu tham khảo

Phần phụ lục

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về đánh giá thực trong đánh giá năng lực tiếng Anh giao tiếp của sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ Anh

Năng lực giao tiếp tiếng Anh của sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh là một yếu tố quan trọng trong quá trình đào tạo. Đánh giá thực là phương pháp giúp xác định chính xác năng lực này. Đánh giá thực không chỉ đơn thuần là kiểm tra kiến thức mà còn là đánh giá khả năng sử dụng tiếng Anh trong các tình huống giao tiếp thực tế. Theo đó, việc áp dụng các phương pháp đánh giá thực sẽ giúp sinh viên phát triển kỹ năng giao tiếp hiệu quả hơn. Đánh giá thực cho phép giáo viên quan sát và đánh giá năng lực giao tiếp của sinh viên trong các tình huống thực tế, từ đó cung cấp phản hồi kịp thời và chính xác. Điều này không chỉ giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về năng lực của bản thân mà còn tạo động lực học tập tích cực.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của đánh giá thực

Đánh giá thực là một phương pháp đánh giá năng lực giao tiếp tiếng Anh thông qua các hoạt động thực tế. Đặc điểm nổi bật của đánh giá thực là tính linh hoạt và khả năng phản ánh chính xác năng lực của sinh viên. Đánh giá thực không chỉ tập trung vào kiến thức lý thuyết mà còn chú trọng đến khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Điều này giúp sinh viên phát triển kỹ năng giao tiếp một cách tự nhiên và hiệu quả hơn. Đánh giá thực cũng tạo cơ hội cho sinh viên thể hiện bản thân trong các tình huống giao tiếp thực tế, từ đó nâng cao sự tự tin và khả năng giao tiếp của họ.

1.2. Mục tiêu và nguyên tắc sử dụng đánh giá thực

Mục tiêu của đánh giá thực là nhằm nâng cao năng lực giao tiếp tiếng Anh của sinh viên, giúp họ tự tin hơn trong việc sử dụng ngôn ngữ. Nguyên tắc sử dụng đánh giá thực bao gồm việc tạo ra các tình huống giao tiếp thực tế, khuyến khích sinh viên tham gia tích cực và phản hồi kịp thời. Đánh giá thực cần được thực hiện một cách công bằng và khách quan, đảm bảo rằng mọi sinh viên đều có cơ hội thể hiện năng lực của mình. Việc áp dụng các tiêu chí đánh giá rõ ràng và minh bạch sẽ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về yêu cầu và kỳ vọng trong quá trình học tập.

II. Thực trạng đánh giá năng lực giao tiếp tiếng Anh của sinh viên

Thực trạng đánh giá năng lực giao tiếp tiếng Anh của sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được cải thiện. Nhiều giảng viên vẫn còn sử dụng các phương pháp đánh giá truyền thống, chưa chú trọng đến việc đánh giá thực. Điều này dẫn đến việc sinh viên không có cơ hội thực hành và phát triển kỹ năng giao tiếp. Theo khảo sát, nhiều sinh viên cảm thấy thiếu tự tin khi giao tiếp bằng tiếng Anh do không được đánh giá đúng mức. Việc áp dụng đánh giá thực sẽ giúp cải thiện tình hình này, tạo ra môi trường học tập tích cực và khuyến khích sinh viên tham gia vào các hoạt động giao tiếp.

2.1. Nhận thức của giảng viên và sinh viên về năng lực giao tiếp

Nhận thức của giảng viên và sinh viên về năng lực giao tiếp tiếng Anh còn hạn chế. Nhiều giảng viên chưa nhận thức rõ vai trò của đánh giá thực trong việc phát triển năng lực giao tiếp của sinh viên. Sinh viên cũng chưa hiểu rõ về yêu cầu và tiêu chí đánh giá, dẫn đến việc họ không thể phát huy hết khả năng của mình. Cần có sự thay đổi trong cách tiếp cận và phương pháp giảng dạy để nâng cao nhận thức của cả giảng viên và sinh viên về tầm quan trọng của năng lực giao tiếp.

2.2. Tình hình thực hiện đánh giá thực trong giảng dạy

Tình hình thực hiện đánh giá thực trong giảng dạy tiếng Anh hiện nay còn nhiều bất cập. Nhiều giảng viên chưa áp dụng đánh giá thực một cách thường xuyên, dẫn đến việc sinh viên không có cơ hội thực hành giao tiếp. Các hoạt động đánh giá thường chỉ dừng lại ở việc kiểm tra kiến thức lý thuyết, không phản ánh đúng năng lực giao tiếp thực tế của sinh viên. Cần có sự thay đổi trong phương pháp giảng dạy và đánh giá để đảm bảo rằng sinh viên có thể phát triển kỹ năng giao tiếp một cách toàn diện.

III. Đề xuất quy trình và biện pháp ứng dụng đánh giá thực

Để nâng cao chất lượng đánh giá năng lực giao tiếp tiếng Anh của sinh viên, cần đề xuất quy trình và biện pháp ứng dụng đánh giá thực. Quy trình này bao gồm ba giai đoạn: thiết kế hoạt động đánh giá thực, thực hiện đánh giá thực và sử dụng kết quả đánh giá. Mỗi giai đoạn cần được thực hiện một cách đồng bộ và có sự phối hợp chặt chẽ giữa giảng viên và sinh viên. Việc xây dựng các tiêu chí đánh giá rõ ràng và cụ thể sẽ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về yêu cầu và kỳ vọng trong quá trình học tập.

3.1. Thiết kế hoạt động đánh giá thực

Thiết kế hoạt động đánh giá thực cần dựa trên các tình huống giao tiếp thực tế mà sinh viên có thể gặp phải trong cuộc sống hàng ngày. Các hoạt động này nên được xây dựng sao cho phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của sinh viên. Việc tạo ra các tình huống giao tiếp thực tế sẽ giúp sinh viên có cơ hội thực hành và phát triển kỹ năng giao tiếp một cách tự nhiên. Đồng thời, cần có sự tham gia của sinh viên trong quá trình thiết kế hoạt động để đảm bảo rằng các hoạt động này thực sự hữu ích và phù hợp với họ.

3.2. Thực hiện và sử dụng kết quả đánh giá

Thực hiện đánh giá thực cần được tiến hành một cách thường xuyên và liên tục. Kết quả đánh giá cần được sử dụng để điều chỉnh quá trình dạy học, giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về năng lực của bản thân. Việc cung cấp phản hồi kịp thời và chính xác sẽ giúp sinh viên cải thiện kỹ năng giao tiếp của mình. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa giảng viên và sinh viên trong việc sử dụng kết quả đánh giá để nâng cao chất lượng học tập.

25/01/2025
Luận án đánh giá thực trong đánh giá năng lực tiếng anh giao tiếp của sinh viên đại học ngành ngôn ngữ anh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRONG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TIẾNG ANH GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ ANH 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về đánh giá trong dạy học Những nghiên cứu về đánh giá (ĐG) trong dạy học thường tập trung vào một số vấn đề như: khái niệm đánh giá, mục đích, chức năng, vị trí, đặc điểm, loại hình và phương pháp đánh giá. Về khái niệm đánh giá trong dạy học Các nghiên cứu đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về ĐG.

Nhìn chung, các định nghĩa thường chi tiết, nội hàm rộng, bao gồm một số nội dung như: giải thích bản chất của hoạt động ĐG nêu mục đích của ĐG và thậm chí nêu cả các công đoạn trong quy trình ĐG. Có thể tổng hợp một số định nghĩa về ĐG trong các công trình nghiên cứu của nước ngoài và trong nước như sau: Học giả Brindley định nghĩa ĐG là việc thu thập thông tin về người học (năng lực, thành tích .) để phục vụ các mục đích khác nhau [43]. Theo định nghĩa của Đại học Indiana (2007), San Francisco, Hoa Kỳ thì ĐG là “quá trình thu thập và thảo luận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để có thể hiểu được SV biết gì, hiểu gì và có thể làm được gì từ những kiến thức, hiểu biết và trải nghiệm của mình và từ đó giúp cải thiện việc học”. Đại học Missouri [97], Hoa Kỳ sử dụng định nghĩa về ĐG của tác giả Angelo (1995) theo đó “đánh giá là quá trình tiếp diễn liên tục được thực hiện với mục đích là hiểu và cải thiện việc học của SV.

Quá trình ĐG bao gồm các công đoạn như sau: nêu rõ và công khai các kì vọng của nhà trường ngay từ đầu; thiết lập chuẩn và tiêu chí ĐG; thu thập, phân tích, lý giải thông tin một cách hệ thống để quyết định xem SV có đạt được những kì vọng và chuẩn đã đề ra hay không; sử dụng KQĐG để lưu hồ sơ, lý giải và cải thiện việc học”. Nhiều nghiên cứu trong nước cũng đưa ra các định nghĩa về ĐG trong dạy học. Tác giả Cấn Thị Thanh Hương cho rằng đánh giá là “quá trình thu thập và xử lý thông 11 tin từ hoạt động học tập của người học, so sánh với mục tiêu đề ra nhằm xác nhận kết quả học tập của người học sau một giai đoạn học tập và cung cấp thông tin phản hồi giúp cải thiện việc dạy và học” [14]. Tác giả Nguyễn Đức Minh định nghĩa ĐG là “quá trình thu thập, phân tích và lý giải các thông tin một cách có hệ thống để mô tả thực trạng, đối chiếu với mục tiêu giáo dục đã được đặt ra nhằm đề xuất các khuyến nghị làm cơ sở cho các nhà quản lý, những bên liên quan khác, đặc biệt là giáo viên, học sinh, đưa ra những quyết sách hoặc điều chỉnh các hành động tiếp theo để cải thiện, nâng cao chất lượng giáo dục” [23].

Tác giả Nguyễn Đức Chính định nghĩa ĐG trong dạy học là “quá trình thu thập, chỉnh lí, xử lí thông tin về thành tích học tập của người học một cách toàn diện, hệ thống, khoa học ở các giai đoạn của quá trình học tập, đối chiếu với mục tiêu học tập ở từng giai đoạn nhằm giúp người học tiến bộ trong suốt quá trình học tập, và cuối cùng đối chiếu với mục tiêu của cả môn học hay khóa học nhằm đánh giá chất lượng của quá trình dạy học” [11]. Như vậy, tổng hợp từ các nghiên cứu trên, ĐG trong dạy học có thể được hiểu là quá trình thu thập thông tin về người học, thảo luận, phân tích và lý giải các thông tin đó một cách có hệ thống để hiểu được người học biết gì, hiểu gì và có thể làm được gì từ những kiến thức và trải nghiệm học tập, đối chiếu với các mục tiêu giáo dục đã đặt ra nhằm cung cấp thông tin cho các bên liên quan (người học, người dạy, nhà quản lý, người sử dụng lao động.) làm cơ sở để đưa ra các quyết sách hay để điều chỉnh các hành động tiếp theo nhằm cải thiện việc học. Liên quan đến khái niệm “đánh giá”, cũng cần lưu ý và phân biệt khái niệm này với khái niệm “kiểm tra”. Các nghiên cứu trình bày các quan điểm khác nhau về 2 khái niệm này.

Một số nghiên cứu đồng nhất 2 khái niệm và sử dụng chúng thay thế cho nhau [14], trong khi nhiều nghiên cứu khác thì phân biệt 2 khái niệm này. Giáo sư Douglas Brown, cựu chủ tịch Hiệp hội Lí luận và phương pháp giảng dạy tiếng Anh quốc tế, đồng thời là chuyên gia về ngôn ngữ và khảo thí của Trường Đại học Bang San Francisco Hoa Kỳ, cho rằng 2 khái niệm này khác nhau (“You might be tempted to think of testing and assessing as synonymous terms, but they are not”). Học giả này cho rằng kiểm tra chỉ là một hình thức của đánh giá, “là một tập con của đánh giá” (“a 12 subset of assessment”), thường được chuẩn hóa và sử dụng để đo kết quả học tập của người học một cách chính thức tại một thời điểm nhất định và kết quả thường được qui đổi thành điểm số. Trong khi đó, đánh giá mang tính quá trình và bao hàm nhiều hình thức thu thập thông tin khác nhau về người học, trong đó gồm cả kiểm tra [44].

Trong luận án này, thuật ngữ đánh giá được hiểu theo quan điểm của nhà nghiên cứu Brown. Về mục đích, chức năng và đặc điểm của đánh giá trong dạy học Các nghiên cứu đưa ra nhiều mục đích khác nhau của ĐG trong dạy học [11, 43, 54, 60, 61, 92], song tựu trung có thể tổng hợp thành 2 mục đích lớn như sau: - Tìm hiểu về kết quả học tập của người học sau một thời gian dạy học nhất định để phục vụ cho công tác quản lí như xếp loại trình độ và giúp cho việc ra quyết định của các bên liên quan (như người học, người dạy, nhà quản lí giáo dục, nhà tuyển dụng, phụ huynh.); - Tìm hiểu về năng lực người học, qua đó, người dạy và người học có thể điều chỉnh các hoạt động dạy và học để nâng cao chất lượng dạy học. Một số nghiên cứu đề cập đến các chức năng khác nhau của ĐG trong dạy học như chức năng định hướng, dự báo (ĐG là cơ sở giúp người học, người dạy, nhà quản lí. đưa ra các dự báo, phương hướng, quyết định về hoạt động tương lai), chức năng đốc thúc, kích thích học tập (phản hồi thông tin để tạo động lực cho người học và thúc đẩy học tập), chức năng sàng lọc (ĐG giúp GV và nhà quản lí sàng lọc, lựa chọn, phân loại người học để đưa ra các quyết định phù hợp) [11].

Một số nghiên cứu chú trọng mục đích phục vụ học tập của ĐG trong dạy học [11, 44, 47, 48, 54], theo đó nhấn mạnh một số đặc điểm sau: - ĐG trong dạy học nên là một bộ phận cấu thành của quá trình dạy học, được thực hiện đan xen vào các hoạt động học tập, nhiều khi ĐG cũng chính là học tập (assessment as learning). - ĐG trong dạy học nên là ĐG quá trình, liên tục và mang tính tạo dựng, hình thành. Có như vậy, người học mới có được thông tin để kịp thời điều chỉnh việc học để học tập hiệu quả hơn. 13 - ĐG trong dạy học cần linh hoạt, phụ thuộc từng đối tượng người học và bối cảnh dạy học.

Sự linh hoạt là cần thiết để đảm bảo tính hiệu quả của ĐG trong dạy học vì mỗi người học lại có những đặc điểm riêng, mỗi bối cảnh dạy học lại khác biệt. Về hình thức và phương pháp đánh giá Các nghiên cứu đề cập nhiều hình thức ĐG khác nhau, xét từ góc độ thời điểm thực hiện ĐG thì có các hình thức như đánh giá chẩn đoán (thực hiện trước hoặc bắt đầu một giai đoạn học tập); đánh giá quá trình (thực hiện trong quá trình học tập); và đánh giá tổng kết (thực hiện sau quá trình học tập) [11, 23]. Kết quả các nghiên cứu cũng cho thấy phương pháp ĐG trong dạy học rất đa dạng, song có thể tổng hợp thành một số nhóm phương pháp chính như các phương pháp ĐG khả năng nhận thức (ví dụ: kiểm tra trắc nghiệm, vấn đáp.), các phương pháp ĐG năng lực thực hiện (biểu diễn, thuyết trình, dự án học tập.) và phương pháp quan sát để đánh giá về hành vi và thái độ của người học [11]. Có thể ĐG được thực hiện với các mục đích khác nhau, song tựu trung, trong môi trường lớp học, các nghiên cứu về ĐG trong dạy học đặc biệt nhấn mạnh việc ĐG phải được thực hiện để có thể hỗ trợ và thúc đẩy việc học, thông qua việc đo chính xác năng lực thực sự của người học, cung cấp thông tin phản hồi tích cực cho người học, giảm áp lực và tạo động lực cho người học [11, 44, 47, 48, 54, 57, 72, 82].

Những nghiên cứu về năng lực tiếng Anh giao tiếp và đánh giá năng lực tiếng Anh giao tiếp 1. Về năng lực tiếng Anh giao tiếp Các nghiên cứu về NLTAGT đều nằm trong phạm vi nghiên cứu lớn hơn là năng lực ngôn ngữ giao tiếp (NLNNGT). Nhìn chung, các nghiên cứu về NLNNGT thường tập trung làm rõ vấn đề về khái niệm và cấu trúc của năng lực này. Một số nghiên cứu sơ khởi đưa ra khái niệm năng lực ngôn ngữ hẹp.

Theo đó, “năng lực ngôn ngữ” là khái niệm hẹp, giới hạn ở những kiến thức, hiểu biết của người học về 14 một ngôn ngữ nào đó, còn “thể hiện ngôn ngữ” là việc người học sử dụng kiến thức ngôn ngữ (chính là “năng lực ngôn ngữ” theo định nghĩa của Chomsky) trong những tình huống giao tiếp [49]. Những nghiên cứu sau đó cho rằng suy cho cùng ngôn ngữ được dùng để phục vụ giao tiếp, nên đã mở rộng khái niệm “năng lực ngôn ngữ” của Chomsky thành năng lực ngôn ngữ giao tiếp (communicative language competence), theo đó năng lực ngôn ngữ giao tiếp bao hàm năng lực ngôn ngữ và khả năng vận dụng năng lực đó trong các tình huống giao tiếp khác nhau trong thực tiễn [45, 46, 50, 68]. Như vậy, có thể nhận thấy theo thời gian khái niệm năng lực ngôn ngữ đã được mở rộng. Hiện nay, trong các nghiên cứu chính thức, các học giả thường sử dụng thuật ngữ “năng lực ngôn ngữ giao tiếp”, còn thuật ngữ “năng lực ngôn ngữ” thường được sử dụng với nghĩa hẹp hơn.

Tuy nhiên, do thuật ngữ “năng lực ngôn ngữ giao tiếp” khá dài nên trong trao đổi hàng ngày, nhiều người sử dụng thuật “năng lực ngôn ngữ” như là dạng vắn tắt của “năng lực ngôn ngữ giao tiếp” [50].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án mang tiêu đề "Đánh giá thực trạng năng lực giao tiếp tiếng Anh của sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ Anh" của Đoàn Quang Trung, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thị Lan Phương và TS. Lê Đông Phương, đã phân tích và đánh giá năng lực giao tiếp tiếng Anh của sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh tại Đại học Hà Nội. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra những điểm mạnh và yếu trong kỹ năng giao tiếp của sinh viên mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng này, từ đó giúp sinh viên tự tin hơn trong việc sử dụng tiếng Anh trong môi trường học tập và làm việc.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp và chiến lược học tiếng Anh, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên Cứu Mối Liên Hệ Giữa Thuyết Đa Trí Năng và Chiến Thuật Học Từ Vựng Tiếng Anh của Sinh Viên Đại Học", nơi nghiên cứu mối liên hệ giữa các lý thuyết học tập và chiến lược học từ vựng. Bên cạnh đó, bài viết "Phát Triển Kỹ Năng Thảo Luận Cho Sinh Viên Năm Hai Chương Trình EFL" cũng sẽ cung cấp những phương pháp hữu ích để cải thiện kỹ năng giao tiếp cho sinh viên. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Sử dụng video hài trên YouTube để cải thiện kỹ năng nói tiếng Anh cho học sinh tiểu học tại Hải Phòng", một nghiên cứu thú vị về việc ứng dụng công nghệ trong việc nâng cao kỹ năng nói. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các khía cạnh khác nhau của việc học và giảng dạy tiếng Anh.