Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ với đề tài "Đối chiếu các đơn vị từ vựng thuộc trường thị giác trong tiếng Việt và tiếng Anh" do nghiên cứu sinh Trần Thị Hải Bình thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Khang, được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2019), chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu (mã số: 9.24).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, lý thuyết trường từ vựng – ngữ nghĩa là một hướng nghiên cứu truyền thống trong ngôn ngữ học. Tuy nhiên, việc khảo sát đối chiếu chuyên sâu về trường từ vựng chỉ giác quan giữa tiếng Việt và tiếng Anh, đặc biệt là trường thị giác, vẫn chưa có công trình nghiên cứu toàn diện. Trong năm giác quan của con người (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác), các từ ngữ liên quan đến cơ quan thị giác chiếm số lượng lớn nhất và có ngữ nghĩa đa dạng hơn cả. Nghiên cứu của Hoàng Thị Hòa (2014) đã chứng minh số lượng động từ thị giác nhiều hơn hẳn các động từ tri giác khác. Bên cạnh chức năng tiếp nhận ánh sáng để nhìn, đôi mắt còn thực hiện nhiều hoạt động phản xạ, biểu cảm tâm lý và tham gia hình thành các tổ hợp từ, thành ngữ phong phú. Do đó, luận án được thực hiện nhằm chỉ ra đặc điểm tư duy văn hóa dân tộc của người Việt và người Anh thông qua cấu trúc ngữ nghĩa, sự phát triển nghĩa phái sinh và khả năng tạo lập thành ngữ của nhóm từ thuộc trường thị giác.

Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo sát, đối chiếu hệ thống các đơn vị từ vựng thuộc trường thị giác trong tiếng Việt và tiếng Anh, góp phần làm sáng tỏ lý thuyết về trường từ vựng – ngữ nghĩa và ngôn ngữ học đối chiếu. Luận án hướng tới việc làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ cơ quan/bộ phận thị giác, hoạt động thị giác, đặc điểm của cơ quan thị giác, sự phát triển nghĩa và khả năng kết hợp theo tư duy liên tưởng của hai dân tộc.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
  2. Xây dựng cơ sở lý luận liên quan đến đề tài.
  3. Xác lập nhóm từ thuộc trường thị giác trong tiếng Việt và tiếng Anh; chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của chúng giữa hai ngôn ngữ.
  4. Khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ cơ quan thị giác trong tiếng Việt và tiếng Anh; chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của chúng giữa hai ngôn ngữ.
  5. Khảo sát khả năng tham gia vào thành ngữ với tư cách là yếu tố cấu tạo của các từ ngữ chỉ cơ quan thị giác của người trong tiếng Việt và tiếng Anh; chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của chúng giữa hai ngôn ngữ.

Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào các đơn vị từ thuộc trường thị giác trong tiếng Việt và tiếng Anh, nghiên cứu cấu trúc nghĩa, phương thức chuyển nghĩa, chuyển trường, các đặc điểm điển hình của nhóm từ này và các đơn vị từ khi tham gia vào tổ hợp từ, cụm từ cố định là thành ngữ. Về phạm vi nghiên cứu, luận án giới hạn khảo sát ở 24 đơn vị từ vựng trung tâm thuộc trường thị giác trong tiếng Việt, từ đó đối chiếu sang các đơn vị từ tương đương trong tiếng Anh, đồng thời phân tích ngữ liệu gồm 137 thành ngữ tiếng Việt và 134 thành ngữ tiếng Anh có chứa yếu tố thị giác.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong chương tổng quan, tác giả đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu về trường từ vựng – ngữ nghĩa và trường thị giác trên thế giới và tại Việt Nam:

Trên thế giới, lý thuyết trường nghĩa đã được ứng dụng trong nhiều nghiên cứu đa dạng:

  • Các nghiên cứu phân tích sự chuyển nghĩa lịch sử của trường từ vựng chỉ động vật qua các cuốn từ điển American Heritage Dictionary và Oxford English Dictionary với các cặp chuyển nghĩa tiêu biểu như: Chim chóc – Sự ngốc nghếch (Bird – Foolishness), Rắn – Sự phản bội (Snake – Treachery), Động vật linh trưởng – Sự hung ác (Primate – Brutishness).
  • Li-li Chang, Keh-jiann Chen, Chu-Ren Huang (1999) khảo sát trường động từ chỉ cảm xúc trong tiếng Trung Quốc phổ thông (Mandarin Verbs of Emotion) dựa trên 7 nhóm cảm xúc gốc: vui (happy), nản (depressed), buồn (sad), tiếc (regret), giận (angry), sợ hãi (afraid), lo lắng (worried).
  • Hướng nghiên cứu ứng dụng trường nghĩa vào giảng dạy từ vựng tiếng Anh được thực hiện bởi Chunming Gao và Bin Xu (2013), Ali Nasser Harb Mansouri (1985), Guo Changhong (2010).
  • Về đối chiếu trường nghĩa liên ngôn ngữ: Ali Mansouri (2007) đối chiếu trường nghĩa tiếng Ả-rập và tiếng Anh để giải quyết vấn đề dịch thuật; Mary K. đối chiếu trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ thái độ (grace) qua 5 ngôn ngữ (Anh, Đức, Do Thái, Hy Lạp, Latin) trên ngữ liệu Kinh thánh với 9 từ tiếng Anh (grace, mercy, kindness, favour, compassion and pity, lovingkindness, goodness, thanks); Asifa Majid (2009) dẫn chứng nghiên cứu của Burenhult (2006) về trường nhận thức và trường cơ thể trong tiếng Jahai; Sherali Shokirov (2017) nghiên cứu trường từ vựng – ngữ nghĩa mắt (eye) trong tiếng Anh hiện đại và tiếng Uzbek; Jansson Kajsa (2017) đối chiếu trường nghĩa LOVE và ÄLSKA trong tiếng Anh và tiếng Thụy Điển qua từ điển Oxford Thesaurus (1991) và Nordstedts Svenska Synonymordbok (2009); Ricardo Mairal Usón (1990) nghiên cứu trường nghĩa ánh sáng và bóng tối trong thơ tiếng Tây Ban Nha; Zhou và Weijie (2001); Clark E.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trường nghĩa và đối chiếu ngôn ngữ được triển khai phong phú:

  • Nguyễn Thúy Khanh (1996) xây dựng mô hình cấu trúc ngữ nghĩa trường tên gọi động vật trong tiếng Việt và tiếng Nga theo phương pháp phân tích nghĩa vị cấu trúc hạt nhân nguyên tử của Steronin.
  • Cao Thị Thu (1996) khảo sát trường tên gọi thực vật và động vật trong tiếng Việt và tiếng Nga.
  • Hoàng Thị Hòa (2007, 2014) nghiên cứu lớp động từ tri giác trong tiếng Anh đối chiếu tiếng Việt dựa trên ngữ pháp chức năng và ngôn ngữ học tri nhận (ẩn dụ nghiệm thân, ngữ pháp hóa).
  • Đỗ Minh Hùng (2009) đối chiếu nét nghĩa động từ thị giác trong tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên Từ điển tiếng Việt và Oxford Advanced Learner’s Dictionary.
  • Trần Thị Hường (2009) phân tích nghĩa tố nhóm 12 vị từ hoạt động thị giác và các đơn vị phái sinh trong tiếng Việt và tiếng Pháp.
  • Nguyễn Thị Hưởng (2011) khảo sát trường từ vựng thị giác trong Truyện Kiều chia thành 3 tiểu trường: danh từ chỉ cơ quan/bộ phận, động từ hoạt động, tính từ chỉ năng lực cảm nhận.
  • Lại Thị Phương Thảo (2016) đối chiếu động từ trải nghiệm tiếng Anh và tiếng Việt theo ngữ pháp chức năng (gồm 4 tiểu lớp: động từ tri giác, tri nhận, tình cảm, mong muốn).
  • Các công trình khác gồm: Lê Thị Lệ Thanh (2001) về trường từ vựng thời gian tiếng Việt – tiếng Đức; Nguyễn Thị Bảo (2003) về từ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt – tiếng Anh; Nguyễn Minh (2006) về nhóm động từ di chuyển.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Tiến hành một công trình nghiên cứu đối chiếu chuyên sâu, có hệ thống toàn bộ trường từ vựng thị giác giữa tiếng Việt và tiếng Anh trên cả ba nhóm từ loại (danh từ, động từ, tính từ), kết hợp phân tích cấu trúc nghĩa, các phương thức chuyển nghĩa (ẩn dụ, hoán dụ), hiện tượng chuyển trường và khảo sát sự tham gia của các từ ngữ thị giác trong việc cấu tạo thành ngữ gắn liền với tư duy và văn hóa dân tộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên các lý thuyết ngôn ngữ học:

  1. Lý thuyết trường từ vựng – ngữ nghĩa: Khái niệm trường nghĩa được khởi xướng bởi G. Ipsen (Bedeutungsfeld – mô hình bức tranh khảm mosaic), J. Trier (1931) với trường ngôn ngữ và trường khái niệm, W. Porzig (1934) với quan hệ ngữ đoạn và trường cú pháp cơ bản (elementare Bedeutungsfelder), L. Weisgerber (1950, 1962) với trường ba chiều và quan điểm nội dung, F. de Saussure (1973) với tính hệ thống của ngôn ngữ, quan hệ tuyến tính (ngữ đoạn) và quan hệ liên tưởng. Tại Việt Nam, luận án kế thừa quan điểm của Đỗ Hữu Châu (1981, 1998) về việc phân loại trường đối vị (trường biểu vật, trường biểu niệm), trường tuyến tính (kết hợp) và trường liên hội (tổng hợp); quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp (2001, 2010, 2014) về phân biệt trường từ vựng và trường nghĩa; Đỗ Việt Hùng (2009, 2011) về từ ngữ trung tâm và từ ngữ ngoại vi; Hoàng Phê (2008) về cấu trúc nét nghĩa (seme), quan hệ trật tự và cấp bậc của các nét nghĩa.
  2. Lý thuyết về sự chuyển nghĩa và hiện tượng đa nghĩa: Phân tích hai phương thức chuyển nghĩa cơ bản là ẩn dụ (dựa trên sự tương đồng, mẫu X giống Y vì Z) và hoán dụ (dựa trên sự tiếp giáp khách quan giữa hai thực thể) theo Arnold I. (1986) và Đỗ Hữu Châu (1981); lý thuyết về từ đa nghĩa và hiện tượng chuyển trường từ vựng – ngữ nghĩa (Đỗ Hữu Châu, 1981; Byrd et al., 1987; Yael Ravin & Claudia Leacock, 2002; Nguyễn Thiện Giáp, 2010).
  3. Lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu: Vận dụng các quan niệm về đối chiếu trong, đối chiếu ngoài, đối chiếu định hướng chung và đối chiếu đặc trưng (Lê Quang Thiêm, 1986); 5 nguyên tắc nghiên cứu đối chiếu của Bùi Mạnh Hùng (2008); quan điểm đối chiếu gắn với văn hóa – xã hội của Volker Gast (2012) và mối liên hệ giữa đối chiếu ngôn ngữ với dịch thuật của Chesterman (1998); thực hiện quy trình nghiên cứu đối chiếu qua 3 bước (miêu tả, xác định yếu tố tương đương, thực hiện đối chiếu).
  4. Khái niệm cơ sở về sinh lý thị giác: Hệ thị giác của con người gồm 3 bộ phận của cơ quan phân tích thị giác (mắt, dây thần kinh thị giác, vùng thị giác trên vỏ não); cấu tạo cầu mắt gồm 3 lớp màng (màng cứng, màng mạch, màng thần kinh), nhân mắt (thủy tinh thể, thủy dịch, thủy tinh dịch) và các bộ phận phụ trợ (mí mắt, cơ cử động cầu mắt, lông mi).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được luận án áp dụng gồm:

  • Phương pháp phân tích thành tố nghĩa (nghĩa tố): Tách và phân tích các nét nghĩa trong định nghĩa từ điển để xác định nét nghĩa trung tâm, nét nghĩa khu biệt và các hướng phát triển nghĩa phái sinh.
  • Phương pháp miêu tả: Miêu tả chi tiết đặc điểm ngữ nghĩa, cấu trúc từ và khả năng kết hợp của các đơn vị từ ngữ thuộc trường thị giác trong tiếng Việt và tiếng Anh.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối chiếu định tính (tìm điểm tương đồng và dị biệt về nét nghĩa, phương thức chuyển nghĩa) và đối chiếu định lượng (so sánh số lượng từ, tần số xuất hiện).
  • Thủ pháp thống kê: Thống kê số lượng đơn vị từ, các nghĩa phái sinh, số lượng và tần số xuất hiện của các từ ngữ thị giác trong thành ngữ của hai ngôn ngữ.
  • Phương pháp phân tích ngữ cảnh và nghiên cứu trường hợp: Phân tích các trường hợp kết hợp cụ thể của từ trong ngữ cảnh và trong thành ngữ.

Nguồn tư liệu nghiên cứu được trích xuất từ các từ điển tiếng Việt (Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên), từ điển tiếng Anh (Oxford Advanced Learner’s Dictionary, Webster’s Seventh Dictionary, các từ điển của Nhà xuất bản Đại học Cambridge, Nhà xuất bản Đại học Oxford), từ điển đối chiếu song ngữ Việt – Anh, Anh – Việt và các cuốn từ điển thành ngữ tiếng Việt, từ điển thành ngữ tiếng Anh có uy tín.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết

Chương 1 trình bày lịch sử nghiên cứu trường từ vựng – ngữ nghĩa và trường thị giác trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả xây dựng nền tảng lý luận ngôn ngữ học cho toàn bộ luận án, bao gồm: khái niệm trường từ vựng – ngữ nghĩa, phân loại trường nghĩa (trường đối vị gồm trường biểu vật và trường biểu niệm; trường tuyến tính; trường liên tưởng), lý thuyết về nghĩa của từ (nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái, nghĩa ngữ pháp), cấu trúc nét nghĩa, các phương thức chuyển nghĩa (ẩn dụ, hoán dụ), hiện tượng đa nghĩa và hiện tượng chuyển trường. Chương này cũng làm rõ lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu (nguyên tắc, phương pháp, các bước thực hiện) và cung cấp kiến thức giải phẫu học cơ sở về cấu tạo sinh lý của cơ quan thị giác ở con người.

Chương 2: Đối chiếu đặc điểm từ vựng-ngữ nghĩa nhóm từ thuộc trường thị giác trong tiếng Việt và tiếng Anh

Chương 2 thực hiện khảo sát 24 đơn vị từ vựng tiếng Việt thuộc trường thị giác và đối chiếu với các đơn vị từ ngữ tương đương trong tiếng Anh theo 3 nhóm/tiểu trường:

  1. Nhóm từ chỉ cơ quan thị giác và bộ phận của cơ quan thị giác:
  • Danh sách từ ngữ: Khảo sát các danh từ tiếng Việt như mắt, mi, mí, lông mày, lông mi, con ngươi, lòng trắng, lòng đen đối chiếu với các từ tiếng Anh tương đương (eye, eyelid, eyelash, eyebrow, pupil, iris, white of the eye).
  • Đặc điểm ngữ nghĩa và nghĩa phái sinh: Từ mắt/eye là hạt nhân của trường. Luận án phân tích các hướng chuyển nghĩa:
    • Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ: Dựa trên sự tương đồng về hình dạng tròn hoặc vị trí trung tâm, ví dụ trong tiếng Việt có mắt tre, mắt mía, mắt na, mắt dứa, mắt lưới, mắt xích, mắt bão, mắt gió; trong tiếng Anh có eye of a needle (lỗ kim), eye of a potato (mắt khoai tây), eye of a storm (mắt bão).
    • Chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ: Lấy bộ phận cơ thể để chỉ con người hoặc năng lực nhận thức, ví dụ tiếng Việt có tai mắt, mắt phượng mày ngài; tiếng Anh có a good eye for something (con mắt tinh tường), private eye (thám tử tư).
  1. Nhóm từ chỉ hoạt động của cơ quan thị giác:
  • Danh sách từ ngữ: Khảo sát các động từ tiếng Việt như nhìn, ngó, trông, thấy, nom, dòm, liếc, nghé, nhắm, trợn, trừng, quắc đối chiếu với hệ thống động từ tiếng Anh như see, look, watch, glance, stare, glare, gaze, peer, squint, wink, blink, close.
  • Đặc điểm ngữ nghĩa: Luận án phân tích sự khu biệt về các nét nghĩa: tính có chủ ý hay vô ý (nhìn/look đối lập với thấy/see), thời lượng và cường độ tiếp nhận (liếc/glance là nhìn nhanh, nhìn chằm chằm/stare/gaze là nhìn lâu), hướng nhìn và thái độ biểu cảm (trợn, trừng, quắc / glare biểu thị sự giận dữ). Luận án chỉ ra điểm dị biệt: tiếng Việt có động từ chuyên biệt cho hoạt động khép mắt là nhắm, trong khi tiếng Anh sử dụng động từ đa dụng close (có thể kết hợp với door, book, shop...).
  1. Nhóm từ mô tả đặc điểm của cơ quan thị giác:
  • Phân nhóm tính từ: (1) Mô tả hình dạng/kích cỡ (bồ câu, ốc nhồi, lợn luộc, dao cau, lá răm, híp / big, round, small, almond-shaped); (2) Mô tả màu sắc (đen, nâu, xanh, đỏ đọc, đỏ hoe, đỏ ngầu, trắng dã / black, brown, blue, blood-shot); (3) Mô tả trạng thái và năng lực (tinh anh, sáng, sắc, đờ đẫn, lờ đờ, mù lòa / bright, sharp, dull, weary, blind).
  • Nghĩa phái sinh: Phân tích sự chuyển nghĩa từ đặc điểm thị giác sang biểu thị tính cách, phẩm chất hoặc trạng thái tâm lý con người.
Tiểu trường thị giác Đơn vị từ vựng tiêu biểu tiếng Việt Đơn vị từ vựng tương đương tiếng Anh Hướng chuyển nghĩa phái sinh chính
Cơ quan và bộ phận Mắt, mi, mí, lông mày, lông mi, con ngươi, lòng đen, lòng trắng Eye, eyelid, eyelash, eyebrow, pupil, iris, white of the eye Ẩn dụ hình dáng vật thể; hoán dụ chỉ người và năng lực quan sát
Hoạt động thị giác Nhìn, ngó, trông, thấy, nom, dòm, liếc, nghé, nhắm, trợn, trừng, quắc See, look, watch, glance, stare, glare, gaze, peer, squint, wink, blink Chuyển sang trường nhận thức, tri nhận, điều khiển và thái độ cảm xúc
Đặc điểm thị giác Bồ câu, ốc nhồi, híp, đỏ ngầu, trắng dã, tinh anh, đờ đẫn, mù lòa Big, round, almond-shaped, blood-shot, bright, sharp, dull, blind Chuyển sang mô tả diện mạo, tính cách, trạng thái tinh thần và cảm xúc

Chương 3: Đối chiếu từ ngữ thuộc trường thị giác tham gia vào tạo thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh

Chương 3 thực hiện khảo sát và đối chiếu ngữ liệu thành ngữ gồm 137 thành ngữ tiếng Việt và 134 thành ngữ tiếng Anh có chứa các đơn vị từ thuộc trường thị giác.

  1. Số lượng và tần số xuất hiện:
  • Từ mắt trong tiếng Việt và từ eye trong tiếng Anh chiếm tần số xuất hiện cao nhất tuyệt đối trong các thành ngữ thuộc trường thị giác ở cả hai ngôn ngữ.
  • Các bộ phận khác như lông mày (eyebrow), lông mi (eyelash), mí mắt (eyelid) có tần số xuất hiện thấp hơn nhiều.
  1. Đối chiếu theo các phạm vi biểu đạt của thành ngữ:
  • Phạm vi mô tả vẻ bề ngoài của con người: Thành ngữ tiếng Việt sử dụng nhiều hình ảnh liên tưởng gắn với thiên nhiên nông nghiệp (mắt phượng mày ngài, mắt bồ câu, mắt lá răm, mày râu nhẵn nhụi); tiếng Anh sử dụng các cấu trúc mô tả trực tiếp (easy on the eye, starry-eyed).
  • Phạm vi thể hiện tâm trạng, cảm xúc: Cả hai ngôn ngữ đều có số lượng lớn thành ngữ dùng từ ngữ thị giác để biểu đạt cảm xúc:
    • Cảm xúc kinh ngạc, ngạc nhiên: Tiếng Việt có mắt tròn mắt dẹt, trố mắt; tiếng Anh có make someone's eyes pop out, open someone's eyes.
    • Cảm xúc giận dữ, phẫn nộ: Tiếng Việt có trơ mắt ếch, quắc mắt, nổ đom đóm mắt; tiếng Anh có see red, look daggers at someone, hit between the eyes.
    • Cảm xúc đau buồn: Tiếng Việt có khóc sưng mắt, hoa mắt lệ nhòa; tiếng Anh có cry one's eyes out.
  • Phạm vi mô tả tính cách và cách ứng xử: Tiếng Việt có mắt nhắm mắt mở, giương mắt ếch, liếc mắt đưa tình, coi trời bằng vung (thông qua cái nhìn); tiếng Anh có turn a blind eye, keep an eye on, see eye to eye, in the blink of an eye.
Tiêu chí khảo sát thành ngữ Tiếng Việt (137 thành ngữ) Tiếng Anh (134 thành ngữ)
Từ ngữ hạt nhân xuất hiện nhiều nhất Mắt Eye
Phạm vi biểu đạt chính Vẻ bề ngoài; Tâm trạng, cảm xúc; Tính cách; Cách ứng xử Vẻ bề ngoài; Tâm trạng, cảm xúc; Tính cách; Cách ứng xử
Đặc trưng liên tưởng văn hóa Gắn bó với hình ảnh thiên nhiên, động vật, đời sống nông nghiệp lúa nước Gắn bó với tư duy thực nghiệm, vận động và hình tượng văn hóa phương Tây
Sắc thái biểu thái Tích cực, tiêu cực, trung tính (tỷ lệ thành ngữ tiêu cực và trung tính chiếm đa số) Tích cực, tiêu cực, trung tính (tỷ lệ thành ngữ tiêu cực và trung tính chiếm đa số)

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đã nghiên cứu chi tiết và có hệ thống trường từ vựng thị giác trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Anh bằng phương pháp của ngôn ngữ học cấu trúc và ngôn ngữ học đối chiếu. Luận án làm sáng tỏ thêm lý thuyết về trường từ vựng – ngữ nghĩa, cấu trúc nghĩa của từ, các cơ chế chuyển nghĩa (ẩn dụ, hoán dụ), hiện tượng chuyển trường và mối liên hệ giữa ngôn ngữ với đặc trưng tư duy – văn hóa của dân tộc Việt và dân tộc Anh.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các đóng góp cụ thể:

  • Đóng góp cho công tác dạy và học ngoại ngữ: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho việc dạy và học các từ ngữ thuộc trường thị giác trong tiếng Việt và tiếng Anh, giúp người học nhận biết các nét nghĩa khu biệt, sự phát triển nghĩa phái sinh và cách thức sử dụng thành ngữ chính xác.
  • Đóng góp cho công tác biên dịch và biên soạn từ điển: Cung cấp hệ thống ngữ liệu đối chiếu từ vựng và thành ngữ thị giác, hỗ trợ các nhà biên dịch xử lý các khoảng trống ngữ nghĩa và hỗ trợ công tác biên soạn từ điển song ngữ Việt – Anh, Anh – Việt.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất: Luận án đề xuất việc đưa phương pháp tiếp cận trường nghĩa vào giảng dạy từ vựng ngoại ngữ trong nhà trường nhằm giúp học viên nắm bắt từ vựng theo hệ thống liên tưởng; chú trọng phân tích các yếu tố văn hóa ẩn sau các thành ngữ để tránh lỗi chuyển dịch cơ học trong giao tiếp liên văn hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở 24 đơn vị từ vựng trung tâm của trường thị giác trong tiếng Việt để đối chiếu sang tiếng Anh; nguồn ngữ liệu thành ngữ được giới hạn ở 137 thành ngữ tiếng Việt và 134 thành ngữ tiếng Anh trích xuất từ các từ điển chính thống, chưa bao quát toàn bộ các đơn vị từ ngữ ở vùng ngoại vi xa của trường hoặc các biến thể khẩu ngữ mới xuất hiện.

Về hướng nghiên cứu tiếp, trên cơ sở kết quả đạt được, các hướng nghiên cứu mở rộng có thể triển khai gồm:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát toàn bộ các đơn vị từ vựng ngoại vi thuộc trường thị giác trong hai ngôn ngữ.
  • Mở rộng nguồn ngữ liệu khảo sát sang các văn bản văn học hiện đại, báo chí truyền thông và ngôn ngữ giao tiếp đời thường.
  • Mở rộng đối chiếu trường thị giác tiếng Việt với các ngôn ngữ khác, hoặc tiếp tục nghiên cứu đối chiếu các trường giác quan còn lại (thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu: Tham khảo khung lý thuyết trường nghĩa, phương pháp phân tích thành tố nghĩa và quy trình 3 bước nghiên cứu đối chiếu từ vựng – thành ngữ.
  • Giảng viên, giáo viên giảng dạy tiếng Anh và tiếng Việt: Khai thác nội dung Chương 2 và Chương 3 để thiết kế bài giảng về hệ thống từ vựng chỉ cảm giác, từ đa nghĩa và bài học chuyên đề về thành ngữ.
  • Biên dịch viên và người làm công tác biên soạn từ điển: Tham khảo các bảng đối chiếu nét nghĩa, bảng thống kê thành ngữ và các trường hợp chuyển nghĩa tương đương giữa tiếng Việt và tiếng Anh để phục vụ dịch thuật và tra cứu.

Câu hỏi thường gặp

  1. Quy mô ngữ liệu từ vựng và thành ngữ được khảo sát trong luận án là bao nhiêu? Luận án tập trung nghiên cứu 24 đơn vị từ vựng thuộc trường thị giác trong tiếng Việt và đối chiếu sang các đơn vị tương đương trong tiếng Anh. Về thành ngữ, luận án khảo sát 137 thành ngữ tiếng Việt và 134 thành ngữ tiếng Anh có chứa các đơn vị từ vựng thuộc trường thị giác.

  2. Trường từ vựng thị giác trong luận án được phân chia thành những tiểu trường nào? Trường thị giác được phân chia thành 3 tiểu trường chính:

  • Nhóm danh từ chỉ cơ quan thị giác và bộ phận của cơ quan thị giác (mắt, mi, mí, lông mày, con ngươi... / eye, eyelid, eyelash, pupil...).
  • Nhóm động từ chỉ hoạt động của cơ quan thị giác (nhìn, ngó, trông, thấy, nom, dòm, liếc, nhắm, trợn... / see, look, watch, glance, stare, glare, close...).
  • Nhóm tính từ mô tả đặc điểm của cơ quan thị giác (gồm đặc điểm hình dạng/kích cỡ, màu sắc, trạng thái và năng lực cảm nhận).
  1. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu nào? Luận án sử dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa (nghĩa tố), phương pháp miêu tả ngôn ngữ, phương pháp so sánh – đối chiếu (định tính và định lượng), thủ pháp thống kê, cùng các phương pháp bổ trợ như phân tích ngữ cảnh và nghiên cứu trường hợp.

  2. Các thành ngữ chứa từ ngữ thuộc trường thị giác được đối chiếu qua những phạm vi biểu đạt nào? Các thành ngữ trong hai ngôn ngữ được đối chiếu qua các phạm vi: (1) Mô tả vẻ bề ngoài của con người; (2) Thể hiện tâm trạng, cảm xúc; (3) Thể hiện tính cách; (4) Thể hiện cách ứng xử của con người trong xã hội.

  3. Luận án chỉ ra điểm khác biệt tiêu biểu nào trong việc định danh hoạt động thị giác giữa tiếng Việt và tiếng Anh? Tiếng Việt có động từ chuyên biệt chỉ hành động khép mắt là nhắm, trong khi tiếng Anh không có động từ riêng biệt hoàn toàn tương đương mà sử dụng động từ đa dụng close (kết hợp với nhiều đối tượng vật thể khác nhau).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Hải Bình là công trình nghiên cứu hệ thống về trường từ vựng thị giác trong tiếng Việt trong sự đối chiếu với tiếng Anh trên các bình diện từ loại danh từ, động từ, tính từ và thành ngữ. Thông qua việc phân tích cấu trúc nghĩa, các phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ và khảo sát 271 thành ngữ của hai ngôn ngữ, luận án đã làm sáng tỏ các điểm tương đồng và dị biệt trong bức tranh ngôn ngữ về thế giới của hai dân tộc. Kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực vào lý luận trường nghĩa, phương pháp luận ngôn ngữ học đối chiếu và cung cấp tư liệu giá trị cho công tác giảng dạy ngoại ngữ, biên dịch và biên soạn từ điển song ngữ.