PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài So với các phân môn khác, ngữ pháp văn bản là một trong những phân môn xuất hiện khá muộn và có lịch sử chưa dày. Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa của phép liên kết nói chung, phép nối nói riêng, chúng tôi thiết nghĩ đây là một trong những vấn đề đáng quan tâm. Thật sự, phép nối đóng vai trò là thành tố tạo tính mạch lạc cho văn bản, là một trong những yếu tố trọng yếu của vấn đề tạo lập và tiếp nhận văn bản.
Thế nhưng, thực tế là, nhiều nhà Việt ngữ học xem xét phép nối thông qua phát ngôn, mà chưa xem xét nó thông quan khái niệm cú (clause). Chúng tôi, đứng trên quan điểm “cú”, sẽ phân tích những đặc điểm về cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của phép nối tiếng Việt. Đặc biệt, trong khi tiếp xúc với tiếng Anh, người viết thấy có những điểm tương đồng và khác biệt giữa phép nối của ngôn ngữ này với tiếng Việt; do đó, người viết tiến hành so sánh phép nối giữa hai ngôn ngữ. Chính những sự tương đồng phản ánh sự qui luật chung về tư duy, diễn đạt ý tưởng chung của nhân loại; còn sự dị biệt lại phản ánh sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ cũng như sự nghiêng về mặt hình thức ngữ pháp – tiếng Anh hay ngữ nghĩa – tiếng Việt của hai ngôn ngữ.
Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài này cũng phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy phân môn Ngữ pháp văn bản, Tiếng Việt thực hành cũng như việc rèn luyện ngoại ngữ của người viết. Lịch sử vấn đề 2. Ngoài nước Năm 1976, nhà xuất bản Lodon và Nework đã cho ra đời quyển “Cohesion in English” –Phép Liên kết trong tiếng Anh của M.K Halliday và Ruqaiya Hassan [108]. Đây có thể xem là công trình đầu tiên đánh dấu lịch sử nghiên cứu về phép nối.
Trong quyển sách, hai tác giả đã trình bày khá kỹ về các phép liên kết: Quy chiếu (Reference), Phép thế (Substitution), Phép tỉnh lược (Ellipsis), Phép liên kết từ vựng (Lexical cohesion) và trong đó có Phép nối (Conjunction). Về phép nối, Halliday và Hassan nhấn mạnh rằng sự nối kết phải dựa trên mối quan hệ ngữ nghĩa của chúng. Nhưng đó không phải là mối quan hệ cố định, mà là “cái theo sau được kết nối một cách hệ thống với cái đã đi trước”. Đây là công trình nghiên cứu khá kỹ và đi vào chi tiết vào phép nối nói riêng, các phép liên kết khác nói chung.
Sau đi đưa ra khái niệm về phép nối, Halliday và Hassan đã phân phép nối thành 4 loại chính theo quan hệ ngữ nghĩa của chúng: i.Bổ sung (Additive), ii.Đối lập (Adversative), iii.Nhân quả (Causal) và iv.Quan hệ thời gian. Đồng thời, tác giả cũng thống kê một số liên từ biểu hiện những quan hệ ngữ nghĩa trong phép nối, và phân tích một số liên từ tiêu biểu. Nhìn chung, đóng góp lớn của công trình là về lí thuyết văn bản nói chung, phép nối nói riêng cũng như những quan hệ ngữ nghĩa trong phép nối. Đến năm 1998, ấn bản lần 2 của M.Halliday về “An Introduction to Functional Grammer” - Dẫn luận ngữ pháp chức năng, (được tái bản lần 6) do Hoàng Văn Vân dịch [31].
Trên cơ sở công trình thứ nhất năm 1976, Halliday tiến hành bổ sung và sữa chữa những vấn đề có liên quan, đặc biệt về liên kết. Công trình trình bày và phân tích khá kỹ về khái niệm Cú (Clause) và xem cú là khái niệm cơ sở để soi sáng các góc độ của văn bản. Đây là công trình được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao và được xem là công trình không thể không biết đến khi nghiên cứu ngữ pháp văn bản nói chung, phép nối nói riêng. Đầu tiên, tác giả làm rõ khái niệm cú đứng trên ba kiểu ý nghĩa khu biệt hàm chứa trong cấu trúc của một cú: i.Cú như là một thông điệp – “clause as a masage” (cấu trúc Đề - Thuyết, ), ii.
Cú như là một sự trao đổi – “clause as an exchange” (hệ thống ngữ pháp và hệ thống thức (mood), Chủ – Vị (chủ ngữ ngữ pháp) và iii.Cú như là sự thể hiện – “clause as a representation” (chủ ngữ logic: hành thể, cú được xem như chứa đựng một nguyên tắc cơ bản để mô hình hóa kinh nghiệm, tức là cú được xem xét như là một quá trình - process).Halliday mở rộng khái niệm Cú - dưới cú (những tổ hợp nhỏ hơn cú) và trên cú (những tổ hợp lớn hơn cú). Công trình cũng đưa ra sự biện luận khá kỹ về việc chọn cú làm đơn vị cơ bản đề nghiên cứu ngữ pháp chức năng. Từ những kiến thức nền tảng về “cú”, tác giả soi sáng vào khái niệm: Liên kết và Ngôn bản (mục 9) - đây là nội dung trọng tâm mà chúng ta cần nghiên cứu. Ở mục này, tác giả cũng trình bày những phép liên kết cơ bản, nhưng sự phân chia có khác trước.Halliday nhập tỉnh lược và thay thế làm một; như vậy, từ năm phép liên kết, trong công trình này chỉ còn bốn.
Tác giả phân chia tỉ mỉ Phép nối theo ba lĩnh vực: i.Chi tiết hóa (Elaboration), ii.Bành trướng (Expantion) và iii. Theo chúng tôi, cách nhìn nhận liên kết dựa trên khái niệm “cú” của M.Halliday có nhiều ưu điểm, nó mang tính khái quát cao. Và chúng tôi, trong luận văn này, phần lớn theo quan điểm của M.Halliday để nghiên cứu phép nối của tiếng Việt. Đồng thời, trong công trình này, Halliday cũng trình bày khá kỹ về các quan hệ ngữ nghĩa của phép nối.
Trên cơ sở kế thừa, chúng tôi soi sáng vào phép nối tiếng Việt; đồng thời phân chia lại, thay đổi một số thuật ngữ để phù hợp với một ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt. Tóm lại, Halliday là một trong những người đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng nền móng cho việc tìm hiểu phép nối nói riêng, liên kết nói chung. Đến năm 1992, nhà xuất bản Philadelphia ở Amsterdam cho ra mắt bạn đọc công trình của J. Đây có thể xem là công trình nghiên cứu khá kỹ về các phép liên kết, trong đó có phép nối.
Chính tác giả này đưa đến bạn đọc khái niệm Nối bên trong (Internal relations) và Nối bên ngoài (External relations) - điểm mới của tác giả so với Halliday. Và Martine đã đưa ra những tiêu chí phân biệt hai loại quan hệ nối này. Đặc biệt, tác giả đã dựa vào ngữ cảnh cụ thể (Circumtaintial identifying relationals) để phân biệt Nối bên ngoài (External relations), và dựa vào khái niệm Phóng chiếu (Projection) để nhận dạng kiểu Nối bên trong (Internal relations). Tác giả cũng chia từng loại nối bên trong và bên ngoài theo các loại quan hệ: i.Bổ sung (Addictive relations), ii.Nhân quả (Consiquential relations), iii.So sánh (Comparative relations), iv.Thời gian (Temporal) và v.
Ở mục thứ 6 của quyển sách, tác giả có đề cập đến: Conhesion and register (Liên kết và ngữ vực) và Cohesive harmony analysis (Phân tích tính hài hòa liên kết). Ở phần thứ nhất (Conhesion and register), tác giả chủ yếu tóm tắt và trích dẫn lại một số nhận định của M.Halliday và Ruaqaiya Hassan về vấn đề có liên quan đến liên kết và ngữ vực. Phần còn lại – Cohesive harmony analysis (Phân tích tính hài hòa trong liên kết), J.Martin đề cập đến kỹ năng (hay thủ thuật – Procedure) khảo sát sự tương tác của chuỗi sở chỉ, chuỗi từ vựng và ngữ pháp kinh nghiệm. Thủ pháp Cohesive harmony analysis chủ yếu để xem xét sự liên kết trong đơn vị văn bản; do đó, nó chú ý đến môi trường tồn tại của phép liên kết.
Tuy nhiên, công trình chỉ là những bước phát thảo sơ bộ về phép nối. Năm 2000, quyển “English Grammer - An Introduction” của Peter Collins và Carmella Hollo [93] được tái bản (lần 2). Quyển sách gồm hai phần A.Grammatical Decription (Mô tả ngữ pháp) và B.Looking at language in context (Xem xét ngôn ngữ trong ngữ cảnh). Ở phần thứ 2, mục Cohesion – Liên kết và Analysis of Cohesion in sample texts – Phân tích phép liên kết trong những văn bản tiêu biểu - đã đề cập đến vấn đề liên kết và phép nối.
Theo hai tác giả, ở cấp độ vĩ mô, có các loại phép liên kết: 1). Ở cấp độ vi mô, liên kết có các loại: 1).Đồng sở chỉ (Co-reference), 2). Theo hai tác giả này, 1). Cụ thể đó là: i.Participant identification (Nhận ra người tham gia giao tiếp), ii.Place and time indicators (yếu tố chỉ không gian, thời gian), iii.Temporal ordering expressions (Sự diễn đạt theo trật tự thời gian) và iv.Tense and aspect (Thì và Thể - cũng là một yếu tố xác định thời gian của hành động).Dấu hiệu logic (Logical signposts), đó là những dấu hiệu trình bày ngữ liệu theo một chuỗi logic, chuỗi trật tự thời gian như: first (đầu tiên), then (sau đó)…, on one hand (một mặt), on the other hand (mặt khác)…Tóm lại, ba ý nghĩa ở cấp độ vĩ mô trên chính là những quan hệ ý nghĩa chỉ thời gian, không gian và trật tự diễn đạt.
Và hai tác giả đi sâu vào từng khía cạnh: i.Text Orientation (Định hướng văn bản), ii.Grammatical cohesion (Liên kết ngữ pháp), iii.Logical connectors (Những yếu tố liên kết logíc) và iv. Trong mỗi phần vừa nêu, Peter Collins và Carmella Hollo đều có đề cập ít nhiều đến phép nối. Chẳng hạn, trong phần Text Orientation (Định hướng văn bản), hai tác giả có kể đến: Temporal ordering expression – Diễn đạt trật từ thời gian (Tr164) và liệt kê liên từ như: First, second, next. Đến mục Logical connectors, tức những yếu tố liên kết logic, tác giả lại đưa ra bốn loại liên kết logíc: i.Causal (Nhân-quả) và iv.
Bốn kiểu này là những loại phép nối mà M.Halliday và các tác giả khác đã nêu. Do đó, trên cơ sở kế thừa, chúng tôi sẽ tiến hành bổ sung và điều chỉnh những vấn đề trùng lắp. Ngoài ra, lấy cú làm đơn vị phân tích cơ bản, Peter Collins và Carmella Hollo còn đề cập đến những loại cú (clause types) và những mối quan hệ giữa các cú hay câu như: Đẳng lập (coordination) và Chính phụ (subordination). Nhìn chung, có đề cập đến lí thuyết, nhưng công trình chủ yếu đi vào các khía cạnh ứng dụng của phép nối.
Năm 2008, công trình bằng tiếng Anh của David Nunan [64] “Introduction Discourse Analysis” - “Dẫn nhập phân tích diễn ngôn” được hai dịch giả Hồ Mỹ Huyền và Trúc Thanh dịch sang tiếng Việt. Sau khi đề cập đến khái niệm diễn ngôn cũng như phân biệt khái niệm diễn ngôn và văn bản, Nunan đề cập đến liên kết, trong đó có phép nối. Ngoài việc đề cập đến khái niệm phép nối, tác giả còn đề cập đến bốn loại quan hệ ngữ nghĩa chủ yếu trong phép nối, đó là: i.Nghich đối, ii.Bổ sung, iii.Thời gian và iv. Ngoài ra, công trình còn đề cập đến khái niệm và phân tích một vài cấu trúc đề thuyết trong diễn ngôn.