CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI. Vấn đề về câu: 1. Khái niệm câu Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, câu không phải là đơn vị thuộc ngôn ngữ mà là đơn vị thuộc lời nói, tức câu không phải là một đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ mà là đơn vị được tạo ra trong quá trình sử dụng ngôn ngữ (Cao Xuân Hạo 1991). Trong đời sống hằng ngày, thường thường ai cũng có thể biết được thế nào là một câu, ranh giới của một câu.
Nhưng trong ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có được một định nghĩa nhất trí về câu, đặc biệt là rất sự không nhất trí đối với vấn đề xếp câu vào số các đơn vị của lời nói (như ngữ pháp chức năng) hay số các đơn vị ngôn ngữ (cùng với âm vị, hình vị, từ. như quan điểm của ngữ pháp truyền thống). Trong luận văn này, chúng tôi xin dẫn ra một vài định nghĩa về câu của một số nhà nghiên cứu: - Viện sĩ V. Vi-nô-gra-đốp: “ Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo các quy luật của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng nhất để cấu tạo, biểu thị và truyền đạt tư tưởng.
Trong câu, không phải chỉ có sự truyền đạt về hiện thực, mà còn có cả mối quan hệ của người nói với hiện thực” [51; 140]. Theo quan niệm này, rõ ràng câu không phải là đơn vị có sẵn của ngôn ngữ. Nó là những tổ hợp được hình thành khi con người vận dụng ngôn ngữ để tư duy, giao tiếp hay truyền đạt tư tưởng, tình cảm, cảm giác, ý chí, thái độ. Chính vì thế mà câu phải là một đơn vị hoàn chỉnh.
Tính hoàn chỉnh của câu không tách rời khỏi hoàn cảnh ngôn ngữ, và xét một cách sâu xa thì không tách rời quy tắc ngữ pháp của một ngôn 7 ngữ. Việc tạo câu từ các đơn vị của ngôn ngữ phải tuân theo những quy tắc ngữ pháp nhất định. - Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: “Câu là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đối trọn vẹn có kèm thái độ của người nói, hoặc chỉ biểu thị thái độ của người nói; giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất” [37; 285]. Theo quan niệm này, câu cũng không phải là một đơn vị có sẵn của ngôn ngữ mà nó được tạo lập trong quá trình tư duy và giao tiếp,và thể hiện một ý tương đối trọn vẹn, đồng thời thể hiện thái độ, tình cảm của người nói (người viết).
Nó là đơn vị nhỏ nhất có chức năng thông báo. Nó có cấu tạo ngữ pháp nhất định và có một ngữ điệu kết thúc. - Diệp Quang Ban: “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [34; 107].
Định nghĩa này của Diệp Quang Ban cũng gần tương tự như định nghĩa trên. Theo ông, một câu bao giờ cũng phải đảm bảo được ba yếu tố: yếu tố hình thức “là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ, có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc” và là đơn vị có chức năng thông báo nhỏ nhất; yếu tố nội dung “mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói”; yếu tố chức năng “giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm” - Nguyễn Minh Thuyết: “Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có khả năng thông báo một sự việc, một ý kiến, một tình cảm hoặc một cảm xúc” [41; 266]. 8 Trên đây chúng tôi chỉ mới dẫn ra một số định nghĩa về câu, chưa phải là tất cả. Nhưng chừng ấy định nghĩa cũng giúp ta thấy được những nét bản chất nhất của câu.
Chúng ta thấy rằng, mặc dù khái niệm về câu chưa được thống nhất giữa các nhà nghiên cứu, song chung quy lại có thể đưa ra những đặc điểm về câu như sau: - Về mặt chức năng: Câu là một đơn vị có khả năng thông báo ( có thể bao gồm thông tin về đối tượng, thông tin sự việc) và truyền đạt tình cảm, cách đánh giá của người nói (người viết) đối với sự việc được nói đến. - Về cấu tạo: Câu là đơn vị có cấu tạo ngữ pháp tự lập (khi nói có một ngữ điệu kết thúc, khi viết thể hiện bằng dấu câu kết thúc). Trong số các đơn vị có chức năng thông báo, câu là đơn vị nhỏ nhất. Lấy ví dụ, nếu ta coi một đoạn văn hay cả một bài viết, một chương hay một cuốn sách là những đơn vị thông báo thì đó là những đơn vị còn chia tách được thành nhiều đơn vị thông báo nhỏ hơn, trong khi câu là đơn vị không thể chia nhỏ hơn được nữa.
Trong khuôn khổ một luận văn cao học, chúng tôi thấy không thể và không cần thiết phải đi sâu vào những tranh luận lí thuyết (hiện vẫn chưa ngã ngũ giữa các nhà nghiên cứu) về tư cách của câu trong hệ thống các đơn vị ngôn ngữ hay hệ thống các đơn vị lời nói. Chúng tôi thấy có thể chấp nhận cách hiểu để làm việc trong luận văn này về câu như sau: “Câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ, có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Phân loại câu: Sự phân loại câu trong ngôn ngữ học hiện nay khá phức tạp, dựa vào những tiêu chuẩn rất khác nhau. Hiện nay, người ta thường dựa vào 3 căn cứ sau đây để phân loại câu: phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp, phân loại câu theo mục đích nói, phân loại câu căn cứ vào mối quan hệ với hiện thực,.
(1) Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp cho ta 4 kiểu câu lớn: câu đơn và câu ghép, câu phức và câu đặc biệt. Ngữ pháp truyền thống lấy kết cấu C-V làm kết cấu cú pháp cơ bản, và sự phân biệt 4 kiểu câu trên đây được diễn giải như sau: a. Câu đơn: là câu có một cụm C-V. Ví dụ: Bé ngủ.
Câu ghép: là câu có từ hai cụm C-V trở lên ghép lại với nhau. Ví dụ: Ông ăn chả, bà ăn nem. Câu phức: là câu đơn có thành phần nào đó được mở rộng bằng cụm C-V. Ví dụ: Người tôi gặp hôm qua là nhà văn.
Câu đặc biệt: là câu không có cụm C-V nào. Câu tường thuật thường được dùng để xác nhận, kể lại, mô tả sự vật với các đặc trưng nào đó hoặc một sự kiện với các chi tiết nào đó. Ví dụ: Đêm nay, gió mát, trăng tròn và sáng hơn đêm qua. Câu nghi vấn được dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trả lời, giải thích.
Ví dụ: - Bao giờ anh đi? - Ngày mai. 10 - Ngày mai à? Câu mệnh lệnh có mục đích bày tỏ ý muốn bắt buộc hoặc nhờ người nghe thực hiện mệnh lệnh nêu lên trong câu. Ví dụ: Đóng cửa lại! Câu cảm thán được dùng khi cần thể hiện trực tiếp, ở một mức độ nhất định, những tình cảm khác nhau hoặc thái độ của người nói. Ví dụ: Ôi, trời mưa mất rồi! (3) Phân loại câu căn cứ vào mối quan hệ với hiện thực: Theo sự phân loại này, câu được chia làm hai loại là câu khẳng định và câu phủ định.
Câu khẳng định xác nhận sự có mặt của sự vật, sự kiện…hay đặc trưng của chúng. Câu phủ định xác nhận sự vắng mặt của sự vật, sự kiện…hay đặc trưng của chúng. Sự phân loại câu theo cấu tạo, theo mục đích nói và sự phân loại theo câu theo quan hệ với hiện thực trên đây không loại trừ nhau mà có thể bổ sung cho nhau. Ta có thể kết hợp các cách phân loại như vậy để có cùng một lúc, chẳng hạn, câu tường thuật khẳng định, câu tường thuật phủ định, câu đơn tường thuật, câu ghép tường thuật, câu đơn tường thuật khẳng định, câu ghép tường thuật phủ định v.
Những cách phân loại câu nói trên góp phần cho thấy bản chất phức tạp, nhiều chiều kích (cấu tạo, công dụng. Trong luận văn này, do đòi hỏi của đề tài, chúng tôi tập trung chú ý vào sự phân loại câu dựa theo hai tiêu chí mục đích nói và quan hệ đối với hiện thực. Cụ thể chúng tôi chấp nhận cách phân loại câu thành các tiểu loại như sau: 1. Câu trần thuật (câu tường thuật): là những câu dùng để kể, thuật lại, thông báo về những hiện tượng, những hoạt động, trạng thái, tính chất 11 trong hiện thực khách quan, hoặc để thể hiện những nhận định, đánh giá của người nói về một sự vật, hiện tượng nào đó.
Về mặt hình thức, so với các loại câu khác xét theo mục đích nói, câu trần thuật không chứa đựng những dấu hiệu hình thức riêng trong cấu tạo. Khi nói, ngữ điệu bình thường và hạ thấp dần ở cuối câu. Khi viết kết thúc bằng dấu chấm. Ví dụ: Đêm nay, gió mát, trang tròn và sáng hơn đêm qua.
Câu trần thuật lại được chúng tôi xem xét ở hai tiểu loại: trần thuật khẳng định và trần thuật phủ định. - Câu trần thuật khẳng định: là câu xác nhận hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ…của một đối tượng nào đó. Đây là loại câu thường không chứa các từ phủ định (không, chưa, chẳng…). Tuy nhiên trong một số trường hợp, câu khẳng định có thể chứa các từ không, chưa, chẳng nhưng dưới hình thức “phủ định của phủ định” (khẳng định ở mức độ cao hơn) Ví dụ: Anh ấy không thể không đến = Anh ấy chắc chắn sẽ đến.
- Câu trần thuật phủ định: là câu có chứa những từ ngữ phủ định, nhằm xác nhận sự vắng mặt (không có) của sự vật, hiện tượng, hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ…được nêu trong câu. Ví dụ: Mai mình không về quê.