Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản, công tác nghiên cứu và giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng mở rộng và chuyên sâu. Thời là một phạm trù ngữ pháp cơ bản, quan trọng trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới và là công cụ giúp xác định tính logic của văn bản. Tiếng Nhật thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính, nơi thời được ngữ pháp hóa chặt chẽ thông qua các biến đổi hình thái của vị từ. Ngược lại, tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không sử dụng thời như một phạm trù ngữ pháp bắt buộc mà chủ yếu biểu đạt thời gian qua phương tiện từ vựng hoặc ngữ cảnh.

Trước thời điểm luận án được thực hiện, tại Nhật Bản đã có các công trình đối chiếu thời tiếng Nhật với tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Hàn; tuy nhiên tại Việt Nam cũng như tại Nhật Bản, chưa có công trình nào nghiên cứu đối chiếu phạm trù thời giữa tiếng Nhật và tiếng Việt. Sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ này tạo ra rào cản cho người Việt Nam khi tiếp cận và sử dụng ngữ pháp thời tiếng Nhật. Do đó, việc nghiên cứu đối chiếu "Thời trong tiếng Nhật và các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt" là một yêu cầu cấp thiết nhằm lấp đầy khoảng trống học thuật và hỗ trợ thực tiễn giảng dạy.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định 4 mục đích nghiên cứu cụ thể:

  1. Nắm rõ cơ chế hoạt động của thời trong tiếng Nhật từ góc độ lý luận với tư cách là một phạm trù ngữ pháp thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính.
  2. Từ góc nhìn của người Việt, thông qua kết quả dịch thuật các văn bản gốc tiếng Nhật và tiếng Việt nhằm xác định các đặc thù khác biệt của tiếng Nhật khi biểu đạt thời trong so sánh với cách biểu đạt thời gian của tiếng Việt.
  3. Cung cấp thêm nguồn tư liệu thực chứng về hoạt động của phạm trù thời trong tiếng Nhật thông qua việc khảo sát khối ngữ liệu thực tế.
  4. Đưa ra một số đề xuất mang tính định hướng nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy thời tiếng Nhật cho sinh viên Việt Nam.

Để thực hiện các mục đích trên, luận án giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến thời trong ngôn ngữ học nói chung và tiếng Nhật nói riêng với tư cách là một phạm trù ngữ pháp.
  2. Phân tích các biểu hiện thời trong tiếng Nhật về mặt hình thái và ngữ nghĩa.
  3. Phân tích, đối chiếu thời trong tiếng Nhật với các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt và khảo sát cách chuyển dịch ý nghĩa thời gian giữa hai ngôn ngữ.
  4. Phân tích lỗi sử dụng thời trong tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam để ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giảng dạy.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thời trong tiếng Nhật được xem xét từ bình diện ngôn ngữ học đối chiếu. Các biểu đạt trong tiếng Việt tạo ra nội dung tương đương với thời trong tiếng Nhật và các biểu đạt từ vựng tiếng Việt được chuyển dịch tương ứng sang tiếng Nhật cũng là đối tượng được phân tích.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về bình diện ngôn ngữ: Luận án tập trung khảo sát hoạt động của thời trong tiếng Nhật ở bình diện kết học và nghĩa học, chưa đi sâu vào bình diện ngữ dụng học. Luận án bóc tách thời ra khỏi cùng một vỏ bọc ngữ âm với thể và tình thái, hạn chế bàn sâu về thể và tình thái nếu không trực tiếp phục vụ cho nội dung nghiên cứu.
    • Về ngữ liệu: Khảo sát giới hạn trong phạm vi các văn bản viết (tác phẩm văn học, chuyên luận văn hóa, bản tin thời sự, bài báo khoa học đã được xuất bản và dịch thuật song ngữ), tạm thời chưa khảo sát ngữ liệu khẩu ngữ hội thoại.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước về thời

Tác giả luận án đã tổng hợp các hướng nghiên cứu về thời trên ba bình diện: quốc tế, tại Nhật Bản và tại Việt Nam.

Tiếp cận phạm trù thời trong ngôn ngữ học
  • Nghiên cứu trên thế giới:

    • Ngữ pháp truyền thống Hy Lạp - Latinh xác lập hệ thống đối lập ba vế: quá khứ, hiện tại, tương lai.
    • Guillaume (1929) phân biệt "thời bao hàm" (gắn liền trong động từ, tức thể) và "thời hiện lộ" (thời của sự tình được thể hiện qua biến tố).
    • Benveniste (1966) xác định tính thời gian khởi nguồn từ quá trình phát ngôn, từ đó hình thành phạm trù hiện tại và phạm trù thời.
    • Comrie (1978) và Lycan (1998) chuẩn hóa việc phân chia thời thành: thời tuyệt đối (lấy thời điểm phát ngôn làm mốc quy chiếu) và thời tương đối (lấy một thời điểm khác trong lời nói làm mốc quy chiếu).
    • Khái niệm TAM (Tense/Aspect/Modality - Thời/Thể/Tình thái) trở thành khung tham chiếu phổ biến để mô tả vị từ.
  • Nghiên cứu tại Nhật Bản:

    • Yuzawa (1929) khảo cứu hình thái thời - thể trung đại (te a/ru) so với hiện đại (te i/ru).
    • Các học giả hiện đại như Kindaichi Haruhiko (1950, 1955), Suzuki Shigerushin (1965, 1979), Teramura Hideo (1984), Takahashi Taro (1986), Kato Yasuhiko & Fukuchi Tsutomu (1989), Masuoka Takashi & Takubo Yukinori (1992), Nitta Yoshio (2007) xác lập bước ngoặt khi công nhận sự đối lập thời giữa dạng suru (dạng ru - phi quá khứ) và shita (dạng ta - quá khứ). Thời tiếng Nhật biểu hiện ở cả động từ, tính từ và danh từ kết hợp hệ từ; đồng thời bao gồm các hiện tượng thời tuyệt đối, thời tương đối, siêu thời và "giải phóng khỏi thời".
    • Các công trình đối chiếu: Inoue Yu & Ikukoshi Naoki (1997) đối chiếu Nhật - Hàn; Inoue Yu, Ikukoshi Naoki & Kimura Hideki (2002) đối chiếu Nhật - Trung; Nishiyama Atsuko (2009) và Mc Dermott (1982) đối chiếu Nhật - Anh.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam:

    • Khuynh hướng phủ nhận thời: Thompson & Huỳnh Sanh Thông (1960), Hoàng Tuệ (1988), Cao Xuân Hạo (1998), Diệp Quang Ban (2005) cho rằng tiếng Việt không có phạm trù ngữ pháp thời mà biểu đạt thời gian bằng phương tiện từ vựng (khung đề, trạng ngữ) hoặc trật tự từ.
    • Khuynh hướng khẳng định thời: Trương Vĩnh Ký (1883), Nguyễn Minh Thuyết (1995), Trần Kim Phượng (2004) khẳng định sự tồn tại của thời trong tiếng Việt qua các chỉ tố đã, đang, sẽ.
    • Khuynh hướng tích hợp: Trần Thị Chung Toàn (2016) đề xuất thời trong tiếng Việt là một "phạm trù từ vựng - ngữ pháp", hoạt động theo nguyên tắc "ngầm định" và "tiết kiệm" thông qua sự kết hợp hoặc lược bỏ giữa yếu tố từ vựng chỉ thời gian (T) và phó từ ngữ pháp (P).
    • Các nghiên cứu đối chiếu ngoại ngữ với tiếng Việt: Phan Thị Minh Thúy (2003, tiếng Nga), Phạm Quang Trường (2008, tiếng Pháp), Nghiêm Thị Thu Hương (2014, tiếng Hàn), Lương Bá Phương (2016, tiếng Anh).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đối chiếu trước đây tại Việt Nam chủ yếu so sánh tiếng Việt với các ngôn ngữ Ấn - Âu hoặc tiếng Hàn, chưa có công trình nào đối chiếu trực tiếp phạm trù thời tiếng Nhật với tiếng Việt. Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu đối chiếu hệ thống thời tiếng Nhật (thuộc ngôn ngữ chắp dính) với các biểu hiện thời gian trong tiếng Việt (thuộc ngôn ngữ đơn lập) trên ngữ liệu dịch thuật song ngữ và khảo sát thực nghiệm lỗi dịch của người học.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết về phạm trù thời: Luận án tiếp cận thời như một phạm trù ngữ pháp có chức năng định vị sự tình trên trục thời gian. Tiếng Nhật áp dụng hệ thống đối lập lưỡng phân: Quá khứ (dạng ta) / Phi quá khứ (dạng ru - bao gồm hiện tại, tương lai và siêu thời).
  • Mối quan hệ Thời - Thể - Tình thái (TAM): Dựa trên mô hình cấu trúc vị ngữ tiếng Nhật của Teramura (1982, 1984) và Trần Thị Chung Toàn (2014), cấu trúc vị ngữ phân định rõ các thành phần: Thân từ biểu đạt nghĩa chính + Dạng (Voice) + Thời/Thể/Thức + Tình thái (Modality). Trong đó, đuôi từ ru hoặc ta có thể kiêm nhiệm cả ba chức năng thời, thể và tình thái khách quan.
  • Khung phân tích thời gian trong tiếng Việt: Luận án tiếp thu quan điểm của Trần Thị Chung Toàn (2016) về "phạm trù từ vựng - ngữ pháp", vận hành dựa trên sự phân bố giữa trạng từ/từ vựng chỉ thời gian (T) và phó từ ngữ pháp chỉ thời gian (P) gồm đã, đang, sẽ, vừa, mới, sắp theo nguyên tắc ngầm định và tiết kiệm qua 6 mô hình cú pháp.
  • Lý thuyết tương đương dịch thuật: Vận dụng quan điểm của Nguyễn Hồng Cổn (2001), Cao Xuân Hạo (2006) và Werner Koller (1992) với 5 chuẩn tắc tương đương: tương đương nghĩa hẹp (Denotative), nghĩa rộng (Konnotative), văn bản chuẩn (Textnormative), ngữ dụng (Pragmatische) và thẩm mỹ (Formal-ästhetische).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp miêu tả: Miêu tả cấu trúc hình thái, ngữ pháp và chức năng biểu đạt thời của vị từ tiếng Nhật.
  • Phương pháp phân tích ngữ pháp: Áp dụng ở Chương 2 theo hai cấp độ: (1) Cấp độ vị từ riêng biệt; (2) Cấp độ phát ngôn có chứa trạng từ thời gian (T) và phó từ chỉ tần suất, mức độ (Pht) tương tác với vị ngữ.
  • Phương pháp đối chiếu: Áp dụng ở Chương 3 theo hướng đối chiếu đặc trưng học, lấy tiếng Nhật làm ngôn ngữ nguồn và tiếng Việt làm ngôn ngữ đích (kết hợp phân tích ngữ liệu dịch hai chiều Nhật - Việt và Việt - Nhật).
  • Phương pháp điều tra: Áp dụng ở Chương 4 thông qua 2 đợt khảo sát bài dịch của sinh viên năm thứ 4 ngành Ngôn ngữ Nhật, Trường Đại học Hà Nội.
  • Thủ pháp bổ trợ: Phân tích định tính, phân tích định lượng và thống kê tỷ lệ phần trăm trên ngữ liệu.

Nguồn ngữ liệu khảo sát

Ngữ liệu của luận án gồm 1316 phát ngôn chứa vị ngữ biểu hiện thời, trích xuất từ các tác phẩm xuất bản song ngữ:

  • Ngữ liệu tiếng Nhật (dịch sang tiếng Việt):
    • Chuyên luận: Văn hóa Nhật - Những điều không thể không biết của Shirahata Yozaburo (ký hiệu: S).
    • Tác phẩm văn học: Bốn bề bờ bụi của Akutagawa Ryunosuke (ký hiệu: Y); Quán ăn mè nheo lắm chuyện của Miyazawa Kenji (ký hiệu: CH); Những đứa trẻ bị bỏ rơi trong tủ gửi đồ của Murakami Ryu (ký hiệu: C).
    • Báo chí và khoa học: 5 bản tin thời sự kinh tế - xã hội (ký hiệu: Ns.1 đến Ns.5); bài báo nghiên cứu cầu đường của Machiguchi Atsushi và cộng sự (ký hiệu: K).
  • Ngữ liệu tiếng Việt (dịch sang tiếng Nhật):
    • Tác phẩm của Thạch Lam: Hai đứa trẻ (H), Gió lạnh đầu mùa (G), Nắng trong vườn (N), Người đầm (Nđ).
    • Tác phẩm của Võ Thị Hảo: Dây neo trần gian (D).
  • Ngữ liệu khảo sát thực nghiệm: Bài dịch khảo sát đợt 1 và đợt 2 của sinh viên ngành tiếng Nhật, Trường Đại học Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận phục vụ nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về phạm trù thời trong ngôn ngữ học đại cương, tiếng Nhật và tiếng Việt. Luận án làm rõ bản chất lưỡng phân của thời tiếng Nhật: đối lập giữa thời Quá khứ (dạng ta) và thời Phi quá khứ (dạng ru).

Vị ngữ tiếng Nhật biểu hiện thời thông qua ba loại từ: động từ, tính từ (gồm tính từ đuôi -i và tính từ đuôi -na) và danh từ đi kèm hệ từ (da / de aru / desu). Về mặt phạm trù chức năng, thời tiếng Nhật được phân lập thành:

  • Thời tuyệt đối: Lấy thời điểm phát ngôn làm mốc quy chiếu.
  • Thời tương đối: Lấy thời điểm của sự tình khác hoặc tâm trạng của người nói làm mốc quy chiếu (thường xuất hiện trong mệnh đề phụ hoặc biểu hiện ngữ dụng).
  • Hiện tượng Siêu thời và giải phóng khỏi thời: Biểu đạt các chân lý khách quan, quy luật phổ quát hoặc các vị ngữ tính từ trong mệnh đề phụ bị mờ hóa tiêu điểm thời gian.

Mối quan hệ giữa thời, thể và tình thái được làm sáng tỏ qua các bảng tổng hợp lý thuyết:

Dạng thức vĩ tố động từ Tên gọi vĩ tố Chức năng biểu đạt Dạng cơ bản Ví dụ minh họa
ル (ru) Khẳng định chắc chắn Dạng từ điển / Phi quá khứ Thân từ + u/ru 書く (kaku), 食べる (taberu)
タ (ta) Quá khứ / Hoàn thành Thời quá khứ Thân từ + ta/da 書いた (kaita), 食べた (tabeta)
オ/ヨウ (o/yo) Mời gọi / Rủ rê Ý chí, biểu đạt hướng tới tương lai Thân từ + o/yo 書こう (kako), 食べよう (tabeyo)
マス (masu) Lịch sự Biểu đạt kính ngữ ở cuối câu Thân từ + masu 書きます (kakimasu), 食べます (tabemasu)
ナイ (nai) Phủ định Chuyển loại thành tính từ (-i) Thân từ + nai 書かない (kakanai), 食べない (tabenai)
エ/ロ (e/ro) Mệnh lệnh Chỉ thị trực tiếp ngôi thứ hai Thân từ + e/ro 書け (kake), 食べろ (tabero)
バ/レバ (ba/reba) Điều kiện Nối mệnh đề giả định Thân từ + ba/reba 書けば (kakeba), 食べれば (tabereba)
タラ (tara) Điều kiện quá khứ Giả định sau khi hoàn thành Thân từ + tara 書いたら (kaitara), 食べたたら (tabetara)
イ/エ (i/e) Tiếp nối (masu) Dạng liên tiến chưa hoàn thành Thân từ + i/e 書き (kaki), 食べ (tabe)
テ (te) Tiếp nối bảo lưu Nối chuỗi hành động Thân từ + te/de 書いて (kaite), 食べて (tabete)
タリ (tari) Liệt kê hành động Tiếp nối các trạng thái Thân từ + tari 書いたり (kaitari), 食べたり (tabetari)

Về mối liên hệ giữa thời và thể ở thời tuyệt đối:

Loại vị ngữ Dạng "ru" (Siêu thời) Dạng "ru" (Hiện tại) Dạng "ru" (Tương lai) Dạng "ru" (Thói quen) Dạng "ta" (Quá khứ) Dạng "ta" (Thói quen)
Vị ngữ trạng thái Có Có Có / Hạn chế Không Có Không
Vị ngữ hành động / động tác Không Có Có Có Có Có

Hệ thống biểu hiện thể trong tiếng Nhật được chia thành 3 cấp độ: Cấp độ 1 (đối lập ru / ta), Cấp độ 2 (dạng te i/ru và te i/ta kết hợp trợ động từ), Cấp độ 3 (kết hợp động từ bổ trợ tạo động từ phức như hajimeru, owaru). Cấu trúc tổng thể của vị ngữ tiếng Nhật được sơ đồ hóa thành: {Thân từ} + {Yếu tố Dạng} + {Yếu tố Thời/Thể/Thức} + {Yếu tố Tình thái}.

Chương 2: Phân tích biểu hiện của thời tiếng Nhật từ góc độ hình thái và ngữ nghĩa

Chương 2 đi sâu phân tích ngữ liệu thực chứng gồm 1316 vị ngữ tiếng Nhật để xác định các đặc trưng phân bố hình thái và ngữ nghĩa của thời.

Hình thái biểu hiện thời của các từ loại trong tiếng Nhật được hệ thống như sau:

Phạm trù thời Động từ Tính từ đuôi -i Tính từ đuôi -na và Danh từ
Phi quá khứ (PQK) ru i da / de aru / desu
Quá khứ (QK) ta katta datta / de atta / deshita

Kết quả thống kê phân bố vị ngữ biểu hiện thời theo từ loại trong khối ngữ liệu:

Thứ tự Từ loại của vị ngữ Số lượng (vị ngữ) Tỷ lệ (%)
1 Động từ 1025 78,0
2 Tính từ đuôi -i 93 7,0
3 Danh từ và tính từ đuôi -na kết hợp hệ từ 198 15,0
Tổng 1316 100,0

Phân bố giữa thời tuyệt đối và thời tương đối trong tương quan có hoặc không có trạng từ chỉ thời gian (T):

Phân loại thời Sự hiện diện của trạng từ thời gian (T) Số lượng Tỷ lệ nhóm (%) Tỷ lệ tổng (%)
Thời tuyệt đối Không có (T) 682 51,7 87,0
Có (T) 463 35,3
Thời tương đối Không có (T) 115 8,7 13,0
Có (T) 56 4,3
Tổng cộng 1316 100,0 100,0

Các phát hiện chính của chương:

  • Động từ chiếm tỷ lệ áp đảo (78%), khẳng định dạng thức biến hình ru và ta của động từ là đại diện tiêu biểu nhất cho phạm trù thời tiếng Nhật.
  • Thời tuyệt đối chiếm ưu thế tuyệt đối (87%), phản ánh chức năng cơ bản của thời là định vị sự tình so với thời điểm phát ngôn.
  • Khi phân tích cấu trúc cú pháp có/vắng trạng từ chỉ thời gian (T) kết hợp với phó từ tần suất, mức độ (Pht), luận án chứng minh: ngay cả khi phát ngôn hoàn toàn vắng mặt yếu tố từ vựng (T), hình thái biến đổi đuôi vị từ tiếng Nhật vẫn đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin về khung thời gian của sự tình.

Chương 3: Phân tích biểu đạt của thời tiếng Nhật qua đối chiếu với cách biểu đạt thời gian tương ứng trong tiếng Việt trên cứ liệu dịch Nhật - Việt và Việt - Nhật

Chương 3 khảo sát cơ chế chuyển dịch và đối ứng giữa hai ngôn ngữ dựa trên các nhóm bảng số liệu dịch thuật (từ Bảng 3.1 đến Bảng 3.8 và Biểu đồ 3.1 đến 3.3):

  • Đối chiếu chiều Nhật - Việt:
    • Khảo sát các phát ngôn thời tuyệt đối dạng ru và ta (có hoặc không có trạng từ T) được dịch sang tiếng Việt. Khi dịch thời quá khứ (ta), tiếng Việt không bắt buộc phải xuất hiện phó từ đã nếu câu đã có từ vựng chỉ thời gian trong quá khứ hoặc ngữ cảnh đã xác định rõ sự tình.
    • Thời tương đối dạng ru hoặc ta trong mệnh đề phụ tiếng Nhật khi dịch sang tiếng Việt được tái hiện linh hoạt bằng các liên từ chỉ trật tự trước - sau hoặc dựa vào quan hệ logic giữa các mệnh đề thay vì dùng các chỉ tố ngữ pháp cố định.
  • Đối chiếu chiều Việt - Nhật:
    • Khảo sát các phát ngôn tiếng Việt không có yếu tố (T) và (P) khi dịch sang tiếng Nhật bắt buộc phải được ngữ pháp hóa, lựa chọn chính xác dạng thức ru hoặc ta dựa trên việc phân tích tính chất vị ngữ và ngữ cảnh.
    • Khảo sát sự đối ứng giữa các phó từ tiếng Việt (đã, đang, vẫn, sẽ, sắp) sang tiếng Nhật:
      • Đã đối ứng chủ yếu với dạng quá khứ ta, dạng thể hoàn thành te shimatta, hoặc mou... ta.
      • Đang và vẫn đối ứng với cấu trúc thể tiếp diễn te i/ru hoặc mada... te i/ru.
      • Sẽ, sắp đối ứng với dạng phi quá khứ ru, hoặc các cấu trúc tình thái dự định như tsumori, yotei, tokoro da.

Chương 4: Khảo sát cách nắm bắt và sử dụng thời trong tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam - Đề xuất lưu ý trong dạy và học có liên quan đến thời

Chương 4 tập trung vào nghiên cứu thực nghiệm ứng dụng:

  • Kết quả khảo sát hai đợt: Khảo sát bài dịch hai chiều của sinh viên năm thứ 4 chuyên ngành tiếng Nhật tại Trường Đại học Hà Nội cho thấy:
    • Sinh viên thường mắc lỗi máy móc áp đặt tương đương 1:1 giữa các phó từ tiếng Việt (đã = ta, đang = te iru, sẽ = ru).
    • Sinh viên gặp khó khăn lớn nhất ở các cấu trúc biểu đạt thời tương đối trong mệnh đề phụ (như mệnh đề toki, mae ni, ato de), hiện tượng siêu thời trong văn bản khoa học, và các trường hợp dạng ta mang ý nghĩa phát hiện, hồi tưởng hoặc xác nhận tình thái.
  • Thực trạng và đề xuất giảng dạy:
    • Luận án chỉ ra thực trạng các giáo trình hiện hành thường đưa hình thái ru và ta vào từ giai đoạn sơ cấp nhưng chưa phân định rõ ranh giới giữa thời, thể và tình thái.
    • Luận án đề xuất các định hướng giảng dạy: nâng cao nhận thức cho người học về sự khác biệt loại hình giữa ngôn ngữ chắp dính (tiếng Nhật) và ngôn ngữ đơn lập (tiếng Việt); thiết kế các bài tập đối chiếu ngữ nghĩa thời gian trong ngữ cảnh; chú trọng giảng dạy thời tương đối và các biến thể ngữ nghĩa - tình thái của dạng ta.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa các quan điểm lý thuyết về thời trong ngôn ngữ học, bổ sung các cứ liệu thực chứng từ tiếng Nhật vào nguồn tài liệu nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu tại Việt Nam.
  • Làm sáng tỏ cơ chế phân chia thời gian lưỡng phân (Quá khứ / Phi quá khứ) của tiếng Nhật, phân định ranh giới và mối quan hệ tương tác giữa ba phạm trù Thời - Thể - Tình thái (TAM) trong cấu trúc vị ngữ.
  • Làm rõ sự khác biệt bản chất về loại hình: tiếng Nhật định vị thời gian bằng phạm trù ngữ pháp thuần túy thông qua biến đổi hình thái vị từ; trong khi tiếng Việt định vị thời gian trên bình diện "phạm trù từ vựng - ngữ pháp", vận hành theo cơ chế ngầm định và nguyên tắc tiết kiệm.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp khối dữ liệu thực chứng gồm 1316 vị ngữ tiếng Nhật có bản dịch đối chiếu tiếng Việt được phân tích chi tiết.
  • Cung cấp nguồn tư liệu tham khảo phục vụ biên soạn giáo trình, bài giảng ngữ pháp tiếng Nhật và lý thuyết dịch thuật Nhật - Việt.
  • Đưa ra các giải pháp sư phạm định hướng giúp người học tiếng Nhật tại Việt Nam khắc phục lỗi chuyển di tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ khi sử dụng thời tiếng Nhật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên các nội dung được tác giả trình bày tại phần mở đầu và phạm vi nghiên cứu:

  • Hạn chế của đề tài:
    • Luận án chỉ tập trung khảo sát trên nguồn ngữ liệu văn bản viết (văn học, báo chí, chuyên luận, khoa học), chưa mở rộng khảo sát trên ngữ liệu khẩu ngữ hội thoại tự nhiên của người Nhật do khẩu ngữ chứa đựng nhiều yếu tố ngữ dụng và dụng ý phát ngôn phức tạp.
    • Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở bình diện kết học và nghĩa học, chưa đi sâu khai thác bình diện ngữ dụng học.
    • Luận án chủ động bóc tách phạm trù thời ra khỏi thể và tình thái, do đó chưa phân tích toàn diện mọi biến thể kết hợp đa tầng giữa thời - thể - tình thái trong các cấu trúc câu đặc thù.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng khảo sát thời trong tiếng Nhật trên nguồn ngữ liệu khẩu ngữ giao tiếp thường nhật.
    • Đi sâu nghiên cứu cơ chế hoạt động của thời tiếng Nhật ở bình diện ngữ dụng học và phân tích diễn ngôn.
    • Mở rộng phạm vi khảo sát lỗi của người học tiếng Nhật ở các cấp độ đào tạo và các nhóm đối tượng khác nhau.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu ngôn ngữ học: Phần tổng quan lý luận (Chương 1) và mô hình đối chiếu thời - thể - tình thái là tài liệu tham khảo giá trị cho các công trình nghiên cứu về loại hình học ngôn ngữ và ngữ pháp đối chiếu.
  • Giảng viên tiếng Nhật: Các bảng phân loại hình thái vị từ, tỷ lệ thống kê thực chứng (Chương 2) và phân tích lỗi sai của sinh viên (Chương 4) cung cấp cơ sở để thiết kế giáo án ngữ pháp và bài tập dịch thuật.
  • Sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ Nhật: Nội dung đối chiếu chi tiết ở Chương 3 giúp người học nhận thức rõ bản chất của thời tuyệt đối, thời tương đối và khắc phục thói quen dịch đối ứng máy móc từ tiếng Việt.
  • Biên dịch viên Nhật - Việt và Việt - Nhật: Các quy tắc chuyển dịch tương đương ngữ nghĩa thời gian (Chương 3) là tài liệu tham khảo hữu ích để nâng cao độ chính xác và tính tự nhiên của bản dịch.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân loại hệ thống thời trong tiếng Nhật theo mô hình nào?

Luận án xác định thời tiếng Nhật được tổ chức theo hệ thống đối lập lưỡng phân: Quá khứ (dạng ta) và Phi quá khứ (dạng ru). Trong đó, thời Phi quá khứ bao hàm cả thời hiện tại, thời tương lai và hiện tượng siêu thời.

2. Vị ngữ loại từ nào chiếm tỷ lệ xuất hiện cao nhất trong khối ngữ liệu khảo sát của luận án?

Trong tổng số 1316 vị ngữ biểu hiện thời được khảo sát tại Chương 2, vị ngữ là động từ chiếm tỷ lệ cao nhất với 78,0% (1025 vị ngữ); tiếp theo là danh từ và tính từ đuôi -na kết hợp hệ từ chiếm 15,0% (198 vị ngữ); tính từ đuôi -i chiếm 7,0% (93 vị ngữ).

3. Tỷ lệ phân bố giữa thời tuyệt đối và thời tương đối trong ngữ liệu tiếng Nhật là bao nhiêu?

Theo Bảng 2.3 của luận án, thời tuyệt đối chiếm 87,0% (1145 vị ngữ, gồm 51,7% không có trạng từ T và 35,3% có trạng từ T); thời tương đối chiếm 13,0% (171 vị ngữ, gồm 8,7% không có trạng từ T và 4,3% có trạng từ T).

4. Điểm khác biệt bản chất giữa biểu đạt thời trong tiếng Nhật và biểu đạt thời gian trong tiếng Việt là gì?

Trong tiếng Nhật, thời là một phạm trù ngữ pháp thuần túy, bắt buộc phải hiển thị qua sự biến đổi hình thái của vĩ tố vị từ (ru hoặc ta). Trong tiếng Việt, thời là một "phạm trù từ vựng - ngữ pháp", không biến hình, vận hành linh hoạt dựa trên sự kết hợp hoặc lược bỏ giữa từ vựng chỉ thời gian (T) và phó từ ngữ pháp (P) (đã, đang, sẽ) theo nguyên tắc ngầm định và tiết kiệm.

5. Khảo sát thực nghiệm của luận án được tiến hành trên nhóm đối tượng nào?

Khảo sát thực nghiệm tại Chương 4 được thực hiện qua 2 đợt khảo sát bài dịch hai chiều Nhật - Việt và Việt - Nhật của sinh viên năm thứ 4 chuyên ngành Ngôn ngữ Nhật tại Trường Đại học Hà Nội.


Kết luận

Luận án "Thời trong tiếng Nhật và các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt" là một công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu trong lĩnh vực ngôn ngữ học đối chiếu. Thông qua việc phân tích khối ngữ liệu thực chứng 1316 vị ngữ và dữ liệu dịch thuật hai chiều, luận án đã làm rõ cơ chế hình thái - cú pháp của phạm trù thời tiếng Nhật cũng như xác định bản chất từ vựng - ngữ pháp của biểu đạt thời gian trong tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cứ liệu quan trọng cho lý luận ngôn ngữ học đối chiếu mà còn mang lại những định hướng thực tiễn có giá trị cho công tác giảng dạy và dịch thuật tiếng Nhật tại Việt Nam.